một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động giao nhận vận tải của công ty tnhh thương mại - dịch vụ kim quang - Pdf 13

BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI: G
G
V
V
H
H
D
D

S
S
ơ
ơ
n
n C
C
h
h
u
u
y
y
ê
ê
n
n



m
m


i
iq
q
u
u


c
ct
t
ế
ế



S
S
V
V
T
T
H
H


n

L
L


p
p :
:L
L
T
T
D
D
H

ÍM
M
I
I
N
N
H
H0
0
5
5
/
/
2
2
0
0
1
1
3
3
LỜI CẢM ƠN




NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VN THỰC TẬP

……◊◊◊……
2.2.2 Hiệu quả hoạt động 29
2.3 Thực trạng hoạt động dịch vụ giao nhận tại Công ty TNHH TM & DV Kim
Quang 37
2.3.1 Thực trạng giao nhận hàng hóa nhập khNu của công ty 37
2.3.2 Thực trạng giao nhận hàng hóa xuất khNu tại Công ty TNHH Kim
Quang. 55
2.4 Đánh giá hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khNu công ty 65
2.1.1 Những kết quả công ty đạt được 65
2.1.2 Những tồn tại 66
2.1.3 Những nguyên nhân 68
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TNHH TM
& DV KIM QUANG. 70
3.1 Phương hướng hoạt động của công ty trong thời gian tới. 70
3.2 Cơ sở và quan điểm đề xuất giải pháp 70
3.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 70
3.2.2 Quan điểm đề xuất giải pháp 71
3.3 Một số giải pháp nhằm đầy mạnh hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập
khNu của Công ty TNHH TM & DV Kim Quang. 71
3.3.1 Giải pháp 1: Hoàn thiện về cơ sở vật chất 71
3.3.2 Giải pháp 2: Thành lập thêm phòng kinh doanh và Marketing tại công
ty 72
3.3.3 Giải pháp 3: Mở rộng thị phần 73
3.3.4 Giải pháp 4: Phát triển nguồn nhân lực 74
3.3.5 Giải pháp 5: Tiếp nhận và xử lý thông tin chính xác, kịp thời 75
3.3.6 Giải pháp 6: Giảm chi phí 75
3.4 Các kiến nghị 76
3.4.1 Đối với công ty 76
3.4.2 Các biện pháp hỗ trợ từ phía nhà nước 77


1. Ý nghĩa chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt là từ khi Việt
Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO, việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung và các doanh
nghiệp thuộc ngành giao nhận vận tải nói riêng ngày càng trở thành vấn đề cấp
thiết. Đối với ngành giao nhận vận tải của Việt Nam năm 2009 đặc biệt lại là thời
điểm mở cửa thị trường. Ngành giao nhận vận tải của Việt Nam hiện nay vẫn còn
đang trong quá trình phát triển bước đầu lên cũng sẽ gặp không ít những khó khăn.
Trong bối cảnh cạnh tranh như vậy các doanh nghiệp giao nhận vận tải tỏ ra bối rối
trong việc đầy mạnh hoạt động giao nhận của mình. Đặc biệt là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ vận chuyển Kim Quang là một doanh
nghiệp nhỏ hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải đầy mới mẻ của Việt Nam
cũng không nằm ngoài quy luật cạnh tranh của thị trường, trong thị trường giao
nhận hàng hoá nội địa và quốc tế. Đề tài nghiên cứu:
“ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN VẬN
TẢI CỦA CÔNG TY TNHH TM – DV KIM QUANG ”
sẽ giải quyết những vấn đề cơ bản trong việc đNy mạnh hoạt động giao nhận
vận tải của Công ty.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khNu của công ty và
những tồn tại của công ty. Từ đó nhìn lại các biện pháp đNy mạnh hoạt động giao
nhận vận tải tại công ty. Đưa ra những giải pháp cho phù hợp với thực trạng của
công ty.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.1.1.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận
Đặc điểm nổi bật của mậu dịch quốc tế là người bán và người mua thường ở
cách xa nhau.Việc di chuyển hàng hoá là do người vận tải đảm nhận. Do vậy, để
hàng hoá đến tận tay người mua, nó phải trải qua hàng loạt các công việc như:
thông quan xuất nhập khNu, chuNn bị giấy tờ, thuê phương tiện vận chuyển, bốc
xếp hàng lên phương tiện,…Tất cả các công việc này được gọi chung là “Dịch vụ
giao nhận – Forwarding”. Giao nhận – dịch vụ giao nhận theo điều 233, Luật
Thương Mại Việt Nam(2005) là: Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương
mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ
chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ
khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của
người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng).
Có nhiều khái niệm về giao nhận:
- Giao nhận là một hoạt động kinh tế có liên quan đến hoạt động về vận tải nhằm
đưa hàng đến đích an toàn.
- Giao nhận là dịch vụ hải quan.
- Giao nhận là dịch vụ có liên quan đến vận tải, nhưng không phải là vận tải.
- Giao nhận là một tập hợp các nghiệp vụ có liên quan đến quá trình vận tải, nhằm
mục đích chuyên chở hàng hoá từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng.
(Trích:Nghiệp vụ giao nhận vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương, Tác giả:
Phạm Mạnh Hiền, Trang 220) CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 4

1.1.1.2 Khái niệm về người giao nhận
Hiện nay những người làm giao nhận hay các doanh nghiệp giao nhận là

ngoại giao, quá cảnh, công trình, hàng tư nhân đóng trong container, hàng bao kiện
rời…
- Làm đầu mối vận tải đa phương thức. Kết hợp sử dụng nhiều phương tiện vận
tải để đưa hàng đi bất cứ nơi nào theo yêu cầu của chủ hàng.
- Thực hiện mọi dịch vụ có liên quan đến giao nhận, vận tải như lưu cước tàu
chợ, thuê tàu chuyến, thuê các phương tiện vận tải khác, mua bảo hiểm cho hàng
hoá nhập khNu, bảo quản hàng, tái chế, đóng gói, thu gom hoặc chia lẻ hàng. Thuê
hoặc cho thuê vỏ container, giao hàng đến tận cơ sở sản xuất hoặc địa điểm tiêu
thụ…
- Làm tư vấn cho các nhà kinh doanh xuất nhập khNu về mọi vấn đề liên quan
đến giao nhận vận tải và bảo hiểm…nhận uỷ thác xuất nhập khNu và thu gom hàng
xuất nhập khNu.
(Trích : Nghiệp vụ giao nhận vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương, Tác giả:
Phạm Mạnh Hiền, Trang 223)
1.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của người làm dịch vụ giao nhận
Dù ở địa vị đại lý hay người ủy thác người giao nhận cũng phải chăm sóc
chu đáo hàng hóa được ủy thác, thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về
những vấn đề có liên quan đến vận tải hàng hóa.
- Khi đóng vai trò là đại lý, người giao nhận chịu trách nhiệm do lỗi lầm sai
sót của bản thân mình và những người dưới quyền (cán bộ nhân viên trong doanh
nghiệp) như giao hàng trái chỉ dẫn, lập chứng từ nhầm lẫn, quên thông báo khiến
hàng phải lưu kho, lưu bãi tốn kém, làm sai thủ tục hải quan… Người giao nhận
không chịu trách nhiệm về tổn thất do lỗi lầm, sai sót của bên thứ ba (người chuyên
chở, người ký hợp đồng phụ, nhận lại dịch vụ…) miễn là người giao nhận đã thể
hiện sự cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba đó.
- Khi đóng vai trò là người ủy thác thì ngoài những trách nhiệm của đại lý
nói trên, người giao nhận còn chịu trách nhiệm về cả những hành vi và sơ suất của
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN
SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 7

- Do khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ quyền thực hiện việc xếp dỡ hàng
hóa.
- Do khuyết tật của hàng hóa.
- Do có đình công.
- Trường hợp bất khả kháng.
1.1.1.4 Trách nhiệm pháp lý của người giao nhận
1.1.1.4.1 Khi người giao nhận là đại lý:
Là đại lý, người giao nhận chỉ chịu trách nhiệm đối với những lỗi của bản
thân mình hoặc lỗi của người làm công cho mình. Nói chung anh ta không chịu
trách nhiệm đối với những hành động sai sót của bên thứ ba chẳng hạn như người
chuyên chở, người giao nhận khác miễn là ngưòi giao nhận có sự cần mẫn hợp lý
khi lựa chọn bên thứ ba.
 Trách nhiệm đối với khách hàng
Mất mát hư hỏng hàng hoá :Phần lớn các khiếu nại thuộc loại này. Trong
một số trường hợp các khiếu nại trên có thể bao gồm cả các yếu tố về tổn thất mà
khách hàng phải chịu. Mặc dù những điều kiện kinh doanh tiêu chuNn người giao
nhận thường không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất gián tiếp hoặc hậu quả,
song họ nên bảo hiểm cả những rủi ro đó.
Lỗi lầm về nghiệp vụ :Người giao nhận hoặc người làm công có thể phạm
sai sót hoặc nhầm lẫn (theo ngôn ngữ bảo hiểm là “lỗi lầm sai sót” (errors and
omissions) không phải do cố ý hoặc coi thường nhưng gây ra thiệt hại về tài chính
cho khách hàng của mình.
Giao hàng chậm :Người Giao nhận có giấy phép được tiến hành công việc
khai báo Hải quan phải chịu trách nhiệm trước cơ quan Hải quan về sự tuân thủ
những qui định Hải quan và sự khai báo đúng về số lượng, về tên hàng để Nhà nước
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN
SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 9

Anh ta phải chịu trách nhiệm về những hành vi và lỗi lầm của người chuyên
chở, của người giao nhận khác mà anh ta thuê để thực hiện hợp đồng vận tải như thể
là hành vi và thiếu sót của mình.
Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của anh ta như thế nào là do luật lệ của
các phương thức vận tải quy định. Người chuyên chở thu ở khách hàng khoản tiền
theo giá cả của dịch vụ mà anh ta cung cấp chứ không phải là tiền hoa hồng.
Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong trường
hợp anh ta tự vận chuyển hàng hoá bằng các phương tiện vận tải của chính mình mà
còn trong trường hợp anh ta, bằng việc phát hành chứng từ vận tải của mình hay
cách khác, cam kết đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở (người thầu
chuyên chở).
Khi người giao nhận cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải như đóng
gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối thì người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm
như người chuyên chở nếu người giao nhận thực hiện các dịch vụ trên bằng phương
tiện của mình hoặc người giao nhận đã cam kết một cách rõ ràng hay ngụ ý là họ
chịu trách nhiệm như một người chuyên chở Khi đóng vai trò là người chuyên chở
thì các điều kiện kinh doanh tiêu chuNn thường không áp dụng mà áp dụng các công
ước quốc tế hoặc các quy tắc do Phòng thương mại quốc tế ban hành. .
1.1.1.4.3 Những trường hợp miễn trách cho người giao nhận
Người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa không phải chịu trách nhiệm về những
mất mát, hư hỏng phát sinh trong những trường hợp sau đây:
- Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền
- Đã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách
hàng ủy quyền
- Hàng hóa được đóng gói và ký mã hiệu không phù hợp
- Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hóa
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN


SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 11

- Giao nhận hàng hóa bằng phương thức vận tải liên hợp (Combined
Transportation –CT), vận tải đa phương thức (Montimodal Transportation –
MT).
1.1.1.4.4 Căn cứ tính chất giao nhận
- Giao nhận riêng là hoạt động do người kinh doanh XNK tự tổ chức, không
sử dụng lao vụ của Freight Forwarder (Giao nhận truyền thống).
- Giao nhận chuyên nghiệp là hoạt động giao nhận của các tổ chức công ty
chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận (chuyên nghiệp) theo sự ủy thác của
khách hàng.
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của giao nhận
1.1.3.1 Vai trò
1.1.3.1.1 Vai trò đối với nền kinh tế
Từ trước đến nay người giao nhận vẫn được coi như những người trung gian
trong quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hoá. Nhiều người cho rằng sự tồn tại
của nghề này sẽ không còn được bao lâu nữa bởi lẽ công nghệ thông tin trên mạng
toàn cầu đã phát triển mạnh mẽ và trở nên phổ biến, các chủ hàng có thể giao dịch
trực tiếp với các nhà vận chuyển lớn.
Tuy nhiên, nhận định như vậy còn quá sớm vì người giao nhận vẫn đóng một
vai trò rất quan trọng. Họ là người điều phối làm sao để toàn bộ quá trình vận
chuyển hàng hóa được thông suốt. Chúng ta biết thương mại điện tử là rất tốt,
nhưng người ta vẫn phải cần một ai đó thực giao nhận món hàng. Các hãng tàu chỉ
quan tâm làm sao cho các container của họ được đầy hàng. Các nhà cung cấp hàng
hóa đôi khi cũng có thể chấp nhận vận chuyển một container đầy hàng của họ cho
một khách hàng nào đó. Nhưng nếu một container lại chứa hàng của rất nhiều người
mua thì có lẽ chẳng ai khác ngoài người giao nhận có thể đưa chúng đến tay người
mua hàng. Có thể nói, người giao nhận đóng một vai trò rất quan trọng trong
thương mại quốc tế. Do sự phát triển của vận tải container, vận tải đa phương thức,
người giao nhận không chỉ làm đại lý, người nhận ủy thác mà còn cung cấp các dịch

là người vận tải hoặc chỉ là đại lý.
" Người chuyên chở": Ngày nay trong nhiều trường hợp người Giao nhận
đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người Giao nhận trực tiếp ký kết hợp đồng
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 13

vận chuyển với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này
đến một nơi khác. Người Giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở theo hợp
đồng (Contracting Carrier), nếu người Giao nhận ký hợp đồng mà không trực tiếp
chuyên chở. Nếu người Giao nhận trực tiếp chuyên chở thì anh ta là người chuyên
chở thực tế (Performing Carrier).
"Lưu kho hàng hoá, lo liệu chuyển tải và gửi tiếp hàng hoá": Trong
trường hợp phải lưu kho hàng hoá trước khi xuất hoặc sau khi nhập khNu, người
Giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng phương tiện của mình hoặc thuê của một người
khác và phân phối hàng nếu cần.
Khi hàng hoá phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, người Giao nhận sẽ lo
liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hoá từ phương tiện vận tải này
sang phương tiện vận tải khác, hoặc giao hàng đến tay người nhận.
"Người kinh doanh vận tải đa phương thức"(MTO): Trong trường hợp
người Giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt (hoặc còn gọi là vận tải từ cửa đến
cửa) thì người Giao nhận đã đóng vai trò là người kinh doanh vận tải đa phương
thức (MTO). MTO cũng là người chuyên chở và chịu trách nhiệm đối với hàng hoá
trước chủ hàng.
Người Giao nhận còn được coi là “Kiến trúc sư của vận tải” (Architect of
Transport), vì người Giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt
nhất và tiết kiệm nhất.
1.1.3.1.2 Vai trò của hoạt động giao nhận đối với doanh nghiệp
Cho phép chúng tôi bây giờ có một cái nhìn tại các công trình dịch vụ hậu

các nhiệm vụ và mục tiêu cho các chức năng hậu cần và các chương trình và các
hoạt động để đạt được các mục tiêu này. Hậu cần lập kế hoạch là một quá trình lặp
đi lặp lại. Các kế hoạch đã được xác định lại hàng năm để nâng cao chất lượng hoạt
động.
Chiến lược phân tích: điều này liên quan đến việc quan sát các thành phần
khác nhau tham gia vào quá trình và lựa chọn quá trình hậu cần tốt nhất trong số các
lựa chọn thay thế.Các thành phần này, mà là để được xem xét, được tiết lộ trong
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 15

thời gian ông bước đầu tiên . Điều này có thể bao gồm cải tạo toàn bộ quá trình để
đánh giá như thế nào một thành phần có thể được sử dụng hiệu quả hơn.
1.1.3.2 Ý nghĩa
Hoạt động giao nhận ngày nay có ý nghĩa rất quan trong trong nền kinh tế nhà
nước nói chung và trong hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khNu nói riêng.
- Đối với nhà nước:
Hoạt động giao nhận ngày càng góp phần và sự nghiệp thúc đNy hoạt động
ngoại thương phát triển góp phần tăng trưởng kinh tế.
Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân góp phần cải thiện đời
sống nhân dân.
- Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khNu:
Hoạt động giao nận có ý nghĩa vô cùng quan trọng với các doanh nghiệp
xuất nhập khNu vì nó góp phần :
Giảm thiểu được đối ngũ nhân sự để thực hiện giao nhận .
Giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm thời gian trong khâu giao nhận để tập trung
vào sản xuất hay tìm kiếm đối tác .
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới giao nhận
1.1.3.1 Các nhân tố bên ngoài

giao nhận cũng như người chuyên chở.
1.1.3.1.3 Thời tiết
Thời tiết ảnh hưởng rất lớn đến việc giao hàng, nhận hàng và quá trình
chuyên chở hàng hoá .Điều này sẽ ảnh hưởng đến tốc độ làm hàng và thời gian giao
nhận hàng hoá. Ngoài ra, quá trình chuyên chở trên không cũng chịu nhiều tác động
của yếu tố thời tiết có thể gây thiệt hại hoàn toàn cho chuyến bay hoặc làm chậm
việc giao hàng, làm phát sinh hậu quả kinh tế cho các bên có liên quan.
Do những tác động trên mà thời tiết sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hàng
hoá, và là một trong những nguyên nhân gây ra những tranh chấp. Nó cũng là cơ sở
để xây dựng trường hợp bất khả kháng và khả năng miễn trách cho người giao nhận.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: THS HÀ ĐỨC SƠN SVTH: TĂNG XUÂN TÂN – LTDHK7TM1 Trang 17

1.1.3.1.4 Đặc điểm hàng hóa
Mỗi loại hàng hoá lại có những đặc điểm riêng của nó. Ví dụ như hàng nông
sản là loại hàng mau hỏng, dễ biến đổi chất lượng còn hàng máy móc, thiết bị lại
thường cồng kềnh, khối lượng và kích cỡ lớn, Chính những đặc điểm riêng này
của hàng hoá sẽ quy định cách bao gói, xếp dỡ, chằng buộc hàng hoá sao cho đúng
quy cách, phù hợp với từng loại hàng để nhằm đảm bảo chất lượng của hàng hoá
trong quá trình giao nhận và chuyên chở hàng hoá.
Bên cạnh đó, mỗi loại hàng hoá khác nhau với những đặc điểm riêng biệt sẽ
đòi hỏi những loại chứng từ khác nhau để chứng nhận về phNm chất, chất lượng của
chúng. Tuỳ theo yêu cầu của cơ quan hải quan hoặc theo bộ chứng từ thanh toán
được quy định trong L/C mà người giao nhận sẽ phải chuNn bị các loại chứng từ cho
phù hợp.
1.1.3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.1.3.2.1 Cơ sở hạ tầng thiết bị máy móc
Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị của người giao nhận bao gồm như văn phòng,

khoảng thời gian ngắn nhất để đưa hàng hoá đến nơi khách hàng yêu cầu phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ của những người tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quy
trình. Nếu người tham gia quy trình có sự am hiểu và kinh nghiệm trong lĩnh vực
này thì sẽ xử lý thông tin thu được trong khoảng thời gian nhanh nhất. Không
những thế chất lượng của hàng hoá cũng sẽ được đảm bảo do đã có kinh nghiệm
làm hàng với nhiều loại hàng hoá khác nhau. Vì thế, trình độ của người tham gia
quy trình bao giờ cũng được chú ý trước tiên.
1.2 Tình hình giao nhận tại Việt Nam
Những năm 1960, các tổ chức giao nhận quốc tế ở Việt Nam mang tính chất
phân tán, các đơn vị XNK tự đảm nhận việc tổ chức chuyên chở hàng hóa của mình.
Chính vì vậy mà các công ty XNK đã thành lập riêng phòng kho vận, trạm giao
nhận ở các ga, cảng liên vận đường sắt.
Để tập trung đầu mối quản lý, chuyên môn hóa khâu vận tải giao nhận, năm
1970, Bộ Ngoại thương (nay là Bộ thương mại) đã thành lập hai tổ chức giao nhận :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status