Đề tài nghiên cứu sinh viên giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt nam - Pdf 13



1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, vấn đề xuất khẩu nông sản đã có nhiều công
trình nghiên cứu nhằm cải thiện thúc đẩy hơn nữa xuất khẩu nông sản của nước
ta, cùng với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường nên vẫn còn những tồn tại
cần giải quyết và khắc phục. Năm 2007, Việt Nam chính thức là thành viên của
tổ chức thương mại thế giới WTO chính vì thế trong chính sách xuất khẩu hàng
nông sản ra nước ngoài sẽ có nhiều điểm cần chú ý để phù hợp với quy định
của WTO. Nó vừa là một cơ hội lớn nhưng cũng là một thách thức không nhỏ
khi hàng hóa của Việt Nam có sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn với hàng hóa nước
ngoài. Bên cạnh đó những quy định mới, tiêu chuẩn mới cũng cần phải nghiên
cứu kĩ. Các quốc gia nhập khẩu ngày càng lập ra nhiều hàng rào phi thuế quan
để bảo vệ hàng hóa nội địa. Hiện tượng gần như đã trở thành điều bình thường
đã diễn ra rất nhiều năm đối với các mặt hàng nông sản Việt Nam là “Được
mùa thì mất giá” vẫn chưa được giải quyết hiệu quả. Chính vì thế đời sống của
hàng triệu nông dân vẫn còn đói khổ mặc dù sức lao động họ bỏ ra là rất lớn.
Xuất khẩu nông sản Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm yếu cần khắc phục. Cần
có những chính sách, tầm nhìn chiến lược lâu dài để giải quyết những vấn đề
đang đặt ra đó.
Xuất phát từ thực trạng và những vấn đề cần giải quyết như vậy tác giả
đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản
Việt Nam”.
Mục tiêu của đề tài:
Đưa ra thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong thời gian gần
đây. Tìm ra những hạn chế, khó khăn và thách thức đối với nông sản Việt Nam
trong thời điểm hiện tại và những điều cần chú ý khi thời hạn cam kết với tổ
chức WTO không còn nhiều thời gian.

đặc biệt là trên thị trường châu Á và châu Âu.
Sản lượng lúa cả năm 2010 ước tính đạt gần 40 triệu tấn, tăng 1,04 triệu
tấn so với năm 2009 do cả diện tích và năng suất đều tăng, trong đó diện tích
gieo trồng ước tính đạt 7513,7 nghìn ha, tăng 76,5 nghìn ha so với năm trước;
năng suất đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha. Riêng mặt hàng gạo đã tạo được thị
trường có lợi cho người bán, không bị khách hàng ép giá. Hiệp hội Lương thực
Việt Nam cũng cho biết, năm 2010, cả nước xuất khẩu 6,7 đến 6,8 triệu tấn
gạo, kim ngạch đạt 3,2 tỷ USD. Ngoài gạo, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
khác cũng đạt khá như thủy sản đạt khoảng 5 tỷ USD, cao-su đạt 2,38 tỷ USD. 4
Sản lượng lúa đông xuân năm 2010 ước tính đạt 19,2 triệu tấn, tăng 522,3
nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2009 do diện tích tăng 25,2 nghìn ha và năng
suất tăng 1,2 tạ/ha. Lúa hè thu đạt 11,6 triệu tấn, tăng 383,5 nghìn tấn do diện
tích tăng 77,6 nghìn ha và năng suất tăng nhẹ 0,1 tạ/ha. Lúa mùa đạt 9,2 triệu
tấn, tăng 132,9 nghìn tấn, chủ yếu do năng suất lúa mùa của các địa phương phía
Nam tăng mạnh, ước tính đạt 42,2 tạ/ha, tăng 2,5 tạ/ha so với vụ mùa 2009. Nếu
tính cả sản lượng ngô với 4,6 triệu tấn thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm
2010 ước tính đạt 44,6 triệu tấn, tăng 1,27 triệu tấn so với năm 2009.
Cà phê
Hiện nay nước ta có khoảng 1,24 triệu hécta cà phê và trong thời gian
tới diện tích này còn được mở rộng hơn nữa. Theo tổng cục thống kê nước ta
là quốc gia xuất khẩu cà phê đứng thứ hai thế giới sau Braxin, với sản lượng
niên vụ 2009/10 sản lượng cà phê của Braxin chiếm 40% tổng sản lượng cà
phê toàn cầu. Việt Nam có 146 công ty xuất khẩu cà phê, trong đó đứng đầu
là Vinacafe, Intimex và Thái Hòa Group. Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam
cho rằng năng suất cà phê hằng năm sẽ ổn định ở mức 1 triệu tấn/500.000
hécta . Như vậy trong thời gian tới mặt hàng cà phê vẫn là một trong những
mặt hàng chủ lực đối với xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam. Sản lượng

và mang lại doanh thu lớn cho người nông dân.
Theo dữ liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Hải quan, năm 2010,
ngành thủy sản của Việt Nam xuất khẩu 1,353 triệu tấn, trị giá gần 5,034 tỷ
USD, tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2009. Có 969
doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu sang 162 thị trường trên thế giới. Xuất khẩu
tôm lần đầu tiên đạt trên 2 tỷ USD. Theo Vasep, các mặt hàng thuỷ sản xuất
khẩu chính gồm: tôm (2,106 tỷ USD, 42%), cá tra (1,44 tỷ USD, 28,4%),
nhuyễn thể (488,8 triệu USD, 9,7%), cá ngừ (293 triệu USD, 5,8%)… Tôm là
mặt hàng chủ lực đem lại con số 5 tỷ USD của thủy sản
Việt Nam năm 2010. Đây là lần đầu tiên xuất khẩu tôm của Việt Nam
vượt con số 2 tỷ USD, với 241.000 tấn, tăng 13,4% về khối lượng và 24,4%
về giá trị so với 209.567 tấn và 1,675 tỷ USD của năm 2009. Yếu tố quan
trọng nhất góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu tôm so với năm 2009 là giá 6
tôm liên tục tăng cao do sự cố tràn dầu tại vịnh Mêhicô đã khiến cho nguồn
cung tôm sụt giảm, đẩy giá tôm tăng cao. Nhưng bên cạnh đó mặt hàng cá tra
không đạt được mục tiêu đề ra là 1.5 tỷ USD. Lý do chính là bởi tình trạng
cung vượt cầu, khiến giá cá tra liên tục tục giảm trong một thời gian dài. Tình
trạng cung vượt cầu cũng là nguyên nhân chính dẫn tới việc cạnh tranh gay
gắt của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu dẫn tới tình trạng chất lượng sản
phẩm không đồng đều, thiếu sự ổn định.
Nhìn chung trong những năm gần đây doanh thu từ xuất khẩu nông sản
đã đóng góp không nhỏ vào tổng GDP của từng năm. Nhìn chung doanh thu
từ xuất khẩu nông sản đều tăng trong nhiều năm trở lại đây mặc dù trong năm
2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xuất khẩu mặt hàng
nông sản có phần giảm sút song nó đang phục hồi nhanh chóng. Có thể thông
kê sơ bộ sản lượng xuất khẩu từ năm 2005-2010 trong bảng sau:
Kim ngạch suất khẩu một số mặt hàng nông, lâm – thủy sản chủ yếu

Chè
100
120
131
135
179.5
194
Cà phê
826
1200
1854
2000
1697
1730
Cao su
790
1285
1400
1226
1200
1500

1.2 Tầm quan trọng của xuất khẩu nông sản trong hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam
Trong quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế, hàng nông sản Việt Nam đã
có mặt trên nhiều nước và đã góp phần thu ngoại tệ để phát triển đất nước.
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu 7

8
Thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm. Ngành nông nghiệp
cần lực lượng lao động lớn với yêu cầu đòi hỏi trình độ qua đào là không cao.
Chính vì thế phát triển xuất khẩu nông sản sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho
lực lượng lao động thất nghiệp trong thời kì nền kinh tế gặp khó khăn do
khủng hoảng, suy thoái,… Khi xuất khẩu nông sản giữ được ổn định và tăng
trưởng thì sẽ kéo theo cả nền kinh tế có nhiều cơ hội để phát triển.
Vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể
theo báo cáo của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 71,6
đôla Mỹ, tăng 25,5% so với năm 2009 và 17% so với kế hoạch (60 tỷ đôla
Mỹ), gấp hơn 3 lần chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Trong 2 tháng đầu năm 2011, kim
ngạch xuất khẩu đạt trên 12,3 tỷ đôla Mỹ, tăng 40,3% so với cùng kỳ năm
trước, gấp hơn 4 lần chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội thông qua (10%).
Xuất khẩu nông sản có đóng góp lớn vào kết quả ngoạn mục đó. Báo cáo của
Bộ Công Thương cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp năm
2010 ước đạt 19,15 tỷ đôla Mỹ, tăng 22,6% so với năm 2009, vượt 77,3% so
với mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ X đề ra (10,8 tỷ đôla Mỹ). Xuất khẩu các
mặt hàng nông sản chính (thuỷ sản, đồ gỗ, gạo, cao su, càphê, điều) ước đạt
16,5 tỷ đôla Mỹ, tăng 24,22% so với năm 2009 (thuỷ sản 4,94 tỷ; lâm sản và
đồ gỗ 3,63 tỷ; gạo 3,1 tỷ; cao su 2,2 tỷ; càphê 1,5 tỷ; điều vượt mốc 1tỷ).

1.3 Điểm mạnh, điểm yếu xuất khẩu nông sản
1.3.1 Điểm mạnh
- Lợi thế điều kiện tự nhiên
Dựa vào vị trí địa lý của Việt Nam có thể thấy được những lợi thế điều
kiện tự nhiên của Việt Nam mà không phải nước nào cũng có. Những điều
kiện như đất đai, khí hậu, nước, khoáng sản,… có ảnh hưởng rất lớn tới sự
phát triển của ngành nông nghiệp tại Việt Nam. Chính vì thế có thể nói nông
nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Có thể chia ra một số lợi
thế cơ bản của điều kiện tự nhiên như sau:

khoảng 1800 - 2000 mm/năm là điều kiện lý tưởng cho nhiều loại cây trồng
sinh trưởng và phát triển.
- Nguồn lao động và kinh nghiệm sản xuất 10
Dân số nước ta là hơn 86 triệu người tính đến năm 2010, cơ cấu dân số
trẻ với trên 80% sống bằng nghề nông. Có thể nói trong giai đoạn này Việt
Nam đang ở vào thời điểm “ Dân số vàng”. Chính vì vậy đây là một lực
lượng lao động hùng hậu cung cấp cho khu vực nông nghiệp. Mặc dù chất
lượng lao động của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiều quốc gia khác trên
thế giới nhưng con người Việt Nam với bản chất cần cù sáng tạo, ham học hỏi
là tiềm năng lớn góp phần vào chất lượng lao động ngành nông nghiệp Việt
Nam. Hơn thế nữa nguồn lao động dồi dào và rẻ tiền thì theo lý thuyết lợi thế
so sánh của Ricardo, các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam vẫn còn sức
cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Không chỉ có vậy từ lâu đời nay nghề nông vẫn là nghề truyền thống
của nước ta. Trải qua nhiều giai đoạn thời kì thay đổi và những kinh nghiệm
trong việc canh tác sản xuất vẫn được duy trì từ đời này sang đời khác. Nó
cũng chính là một trong những thuận lợi lớn để ngành nông nghiệp phát triển
trong thời gian đã qua và phát triển trong những năm sau này của đất nước.
1.3.2 Điểm yếu
- Chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu, xuất khẩu chủ yếu là sản
phẩm thô
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam ngày
càng tăng song về chất lượng vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì thế doanh thu
của mặt hàng nông sản vẫn còn chưa khai thác hết tiềm năng. Ở các nước
nhập khẩu hàng nông sản của Việt Nam họ luôn đặt ra những tiêu chuẩn khắt
khe về chất lượng gây nhiều khó khăn đối với hàng xuất khẩu của nước ta khi
gia nhập vào thị trường các nước trên thế giới. Có rất nhiều nguyên nhân ảnh

- Thiếu thông tin thị trường
Do phần lớn người sản xuất là nông dân trình độ tiếp cận thông tin
còn hạn chế nên sự am hiểu thị trường là điều khó khăn. Lợi dụng hạn chế
này nhiều thương lái buôn đã đánh vào tâm lý người nông dân sản xuất làm
biến động giá cả hàng hóa để thu lại lợi nhuận. Hơn thế việc kí kết hợp đồng
còn nhiều kẽ hở, chưa chặt chẽ cũng là thách thức mà xuất khẩu hàng nông 12
sản vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Có thể thấy tình trạng này diễn ra phổ biến
với mặt hàng hoa quả. Đây là loại mặt hàng có tiềm năng ở nước ta. Hoa quả
chủ yếu được trồng ở khu vực phía nam nên quãng đường vận chuyển gặp
nhiều khó khăn, chi phí vận chuyển lớn. Nhưng có một thực tế mà hoa quả
Việt Nam thường xuyên gặp phải khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc
– thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nhiều nhà buôn
xuất khẩu do không tìm hiểu kĩ cùng với việc kí kết hợp đồng thiếu chặt chẽ
nên hay gặp phải thua lỗ. Có thể đưa ra một ví dụ điển hình như đối với mặt
hàng dưa hấu. Trong những chuyến xuất khẩu hàng đầu tiên thì giá rất cao
chính vì thế nhiều nhà buôn đã vận chuyện một số lượng lớn nhưng đến cửa
khẩu bất ngờ phía Trung Quốc lại đóng cửa không nhập hàng nữa. Như vậy
là hoa quả đã vận chuyển không qua được cửa khẩu. Người lái buôn thua lỗ
nặng do chi phí vận chuyển cao, chi phí thu mua,… đến thời điểm đó không
bán được dù hàng đã giảm thấp hơn cả giá mua. Nếu không bán thì chỉ có
thể vứt bỏ vì hoa quả là mặt hàng bảo quản trong thời gian ngắn. Thực trạng
này diễn ra khá là phổ biến song nó vẫn chưa được khắc phục hiệu quả nhất.
Thiếu thông tin thị trường cũng là một trong những nguyên nhân dẫn
tới hàng nông sản Việt Nam không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Rau,
quả tươi Việt Nam muốn vào EU phải đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng
GAP (tiêu chuẩn toàn cầu về thực hành nông nghiệp tốt). Thực tế cho thấy, đã
có một số lô rau quả xuất khẩu của Việt Nam từng bị nhà nhập khẩu khiếu

không tăng lên nhiều như mức độ giảm giá. Hơn thế nữa tâm lý của người dân
còn bị ảnh hưởng nhiều bởi sự biến động của thị trường. Lợi dụng điểm yếu
này nhiều nhà buôn, thương lái đã ép giá, tạo lên cơn sốt rồi đột ngột thay đổi
để kiếm lời. Kết quả là nông dân lúc thu hoạch được nhiều thì bán ồ ạt với giá
cả thấp có khi còn không đủ chi phí bỏ ra nhưng đến khi giá cả tăng cao lại
không còn hàng hóa để bán. Điều này làm cho người nông dân ngày càng khổ
cực, lợi nhuận của họ thu về gần như là không có.
- Quản lý xuất xứ hàng hóa 14
Đối với nhiều thị trường trên thế giới có nhiều tiêu chuẩn bắt buộc đối
với các mặt hàng nhập khẩu phải có xuất xứ rõ ràng và đảm bảo được những
tiêu chuẩn khắt khe vì vậy muốn xâm nhập vào các thị trường này cần phải
đáp ứng được những yêu cầu đó. Xét một số quy định đối với nông sản Việt
Nam khi nhập khẩu vào thị trường EU cần đáp ứng một số quy định khắt khe.
Đó như là hàng rào phi thuế quan áp dụng đối với hàng nông sản nhập khẩu
vào thị trường EU:
Các qui định gián tiếp đến môi trường: Mức thuốc trừ sâu tối đa có
trong sản phẩm nông nghiệp, kiểm tra thú y với gia súc và gia cầm, chất phụ
gia trong thực phẩm,… Quy định hàm lượng thuốc trừ sâu hợp lý trong sản
suất sản phẩm nông sản sẽ đảm bảo ít gây ô nhiễm môi trường không khí,
nguồn nước, đất đai, đảm bảo sức khỏe của ngườI nông dân và người tiêu
dùng.
 Năm 1976 EU đã ra chỉ thị 76/895/ EEC về việc sử dụng các loại thuốc
trừ sâu và hàm lượng thuốc tối đa cho phép.
 Ngày 13/1/2009, Nghị viện châu Âu đã thông qua Luật hạn chế sử dụng
các loại thuốc trừ sâu có chất gây ung thư và nguy hiểm về mặt sinh
học, qui định này bao gồm 1100 loại thuốc trừ sâu đã từng hoặc hiện
đang được sử dụng trong nông nghiệp nội khối và ngoài EU đối với tất

nảy sinh những nguyên nhân dẫn đến kém bền vững về mặt xã hội của nước
ta hiện nay. Do xuất khẩu nông sản chủ yếu vẫn theo chiều rộng, chất lượng
lao động không cao và thu nhập của người lao động không ổn định nên sự
biến động của thị trường thế giới làm cho người nông dân dễ bị tổn thương,
Làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng trong thu nhập giữa các
vùng, các tầng lớp dân cư.

1.2.3 Nguyên nhân chính của thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt
Nam 16
Nhân tố bên trong:
Một là, khối lượng hàng hóa còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới thấp,
chất lượng chưa đồng đều và ổn định. Tuy nước ta đã bước đầu hình thành
các vùng sản xuất hàng hóa tập trung nhưng chưa hình thành được các vùng
chuyên canh sản xuất hàng tươi sống và vùng nguyên liệu tập trung cho các
nhà máy chế biến lớn theo yêu cầu kỹ thuật và kinh tế. Có thể lấy một ví dụ
mặt hàng gạo của Việt Nam chưa đảm bảo độ đồng nhất về quy cách chất
lượng ngay trong từng lô gạo, bao bì đóng gói kém hấp dẫn và chưa có nhãn
thương hiệu của doanh nghiệp mình trên vỏ bao bì. Điều đó làm cho giá xuất
khẩu của nông sản Việt Nam thấp hơn các nước khác. Đặc biệt là đối với Thái
Lan, mặc dù chất lượng gạo của Việt Nam không thua kém gì so với gạo Thái
Lan nhưng gạo Việt Nam vẫn phải xếp sau Thái Lan. Mặt hàng gạo Việt Nam
hoàn toàn có thể cạnh tranh với gạo Thái Lan nếu như giải quyết triệt để chất
lượng, bao bì thương hiệu sản phẩm.
Hai là, phần lớn các loại giống cây trồng hiện đang được nông dân sử

cồng kềnh, làm việc chưa đạt hiệu quả cao. Có thể thấy được điều này thông
qua các thủ tục xuất nhập khẩu của nước ta còn nhiều bất cập. Từ đó gây
nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và người sản xuất trong việc xuất khẩu
hàng hóa. Mặc dù đã được cải tiến và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
song vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu của sự phát triển kinh tế đặt ra.
Thứ ba, khó khăn từ hàng rào phi thuế quan của các nước nhập khẩu.
Trong những năm gần đây ngày càng nhiều nước đặt hàng rào phi thuế quan.
Chủ yếu là đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn
môi trường để làm hạn chế khả năng cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài đối
với hàng hóa trong nước.
Dù là nguyên nhân khách quan hay nguyên nhân chủ quan thì nó vẫn là
lý do gây ra thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam chưa khai thác hết
tiềm năng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất và doanh nghiệp.

1.3 Cơ hội
- Thị trường rộng lớn 18
Tháng 7 năm 1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của
ASEAN và đã ký kết các văn kiện của hiệp hội như hiệp định chung về tăng
cường hợp tác ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA). Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của tổ chức thương mại thế giới WTO. Sau khi là thành viên của tổ chức
thương mại lớn nhất thế giới cơ hội cho chúng ta xuất khẩu sang thế giới sẽ
lớn hơn. Cần khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế này. Bên cạnh đó chúng ta
còn có những thuận lợi lớn để phát triển xuất khẩu nông sản sang nhiều nước.
Đó là lợi thế về giao thông, với đường bờ biển dài hơn 3000 km tạo điều kiện
cho việc xây dựng các cảng biển phục vụ cho xuất khẩu hàng hóa đi nước
ngoài. Từ trước đến nay, một khối lượng lớn hàng nông sản xuất khẩu của

động tại chỗ hơn là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, do đó sẽ bị tác động ít hơn so
với hai lĩnh vực tài chính và bất động sản. Nông sản xuất khẩu còn có vai trò
quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam vì liên quan đến hơn 70% dân số, là một
thị trường lớn cho các ngành hàng sản xuất khác. Khi xuất khẩu nông sản được
giữ ổn định và tăng trưởng, cả nền kinh tế có nhiều cơ hội hơn để phát triển. Vai
trò của ngành nông nghiệp trong việc ổn định kinh tế của Việt Nam đã được
chứng minh trong quá khứ. Năm 1989, công nghiệp tăng trưởng âm, nhưng sản
xuất nông nghiệp phát triển mạnh nên cứu được khủng hoảng. Đến năm 1999,
một lần nữa, công nghiệp – dịch vụ đều chựng lại, chỉ có nông nghiệp tăng
trưởng tốt nên đã cứu được nền kinh tế đang bên bờ vực khủng hoảng.
Nói về một số mặt hàng như cá tra, basa của Việt Nam có sức cạnh tranh
cao. Nhận rõ điều này qua thực tế trên thị trường Mỹ cá tra, cá basa là một sản
phẩm có khả năng thay thế cao đối với sản phẩm cá nheo. Sản phẩm cá tra,
basa là sản phẩm “thứ cấp” nên trong điều kiện khi nền kinh tế chậm phát
triển hay thu nhập của người dân Mỹ giảm sút họ sẽ thay thế dần sản phẩm cá
nheo sang cá tra, basa.
Sự nóng lên của giá dầu thô khiến nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn kinh tế
hàng đầu phải nghĩ lại hướng đi của mình. Cao su nhân tạo, chế phẩm từ dầu
thô, không còn được trọng dụng và giá cao su thiên nhiên nhanh chóng tăng
gần gấp hai lần. 20
1.4 Thách thức
Mặc dù nước ta có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển
nông nghiệp nhưng cũng có những ảnh hưởng lớn từ thiên nhiên tác động tới năng
suất, chất lượng của nông sản. Hằng năm, chúng ta phải hứng chịu hơn chục cơn
bão lớn nhỏ. Mỗi khi có bão lũ xảy ra thì thiện hại của nó để lại là không hề nhỏ.
Nó ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của ngành nông nghiệp của chúng ta. Có
thể lấy ví dụ gần nhất trận lũ lịch sử năm 2010 vừa qua tại miền trung đã gây

- Sự biến động của giá cả cũng là một trong những thách thức lớn mà
xuất khẩu nông sản phải vượt qua. Những biến động trong năm 2008 đã là
những minh chứng cụ thể cho đặc điểm này. Bắt đầu là mặt hàng gạo, giá thế
giới có khi tăng vọt lên đến 300%, sau đó lại suy giảm. Tiếp theo là giá thịt
tăng rồi giảm, và gần đây các mặt hàng cây công nghiệp đã giảm giá đột ngột
cũng như các mặt hàng thủy sản chủ lực của Việt Nam như cá tra và tôm sú.
Sự biến động của giá cả có thể là do của một số nhà kinh doanh lớn. Sự tăng
hay giảm của thị trường có thể gây thiệt hại lớn cho những nhà sản xuất
nguyên liệu đặc biệt là nông dân. Sự biến động của giá cả là đôi khi không
phải do biến động cung cầu của thị trường mà còn do . Hậu quả là giá cả các
mặt hàng này trên thị trường được quyết định không bởi sự cân đối cung cầu
mà bởi các ngân hàng đầu tư và các quỹ phòng hộ.
Thách thức đối với việc thực hiện cam kết về Các biện pháp Vệ sinh và
Kiểm dịch động thực vất (SPS) ngay sau khi Việt Nam trở thành thanh viên
WTO là rất lớn. Hiệp định này đòi hỏi sự hài hoà các tiêu chuẩn quốc gia
trong nông nghiệp và thuỷ hải sản. Đây là mốt thách thức lớn đặc biệt cho
những người sản xuất nghèo, qui mô nhỏ, nhất là vùng sâu vùng xa, và chắc
chắn phải mất một thời gian để hoàn thành.
- Một số ví dụ có thể thấy được sự khó khăn của các ngành xuất khẩu:
Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản gặp nhiều khó khăn bởi Luật IUU
– những quy định về hạn chế các hoạt động đánh bắt bất hợp pháp không có
báo cáo và không theo quy định. Luật IUU được EU áp dụng từ ngày
1/1/2010. Quy định này yêu cầu tất cả các lô hàng hải sản khai thác phải có
chứng nhận tên tàu khai thác…, nếu thiếu sẽ không được phép xuất vào EU. 22
Đây là yêu cầu khó đáp ứng được trong thời gian ngắn trong khi EU là thị
trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Có thể nhận thấy chính sách
này có thể trở thành một hàng rào phi thuế quan đối với thủy sản Việt Nam.

Trong trường hợp hàng nhập khẩu từ các nước không có nền kinh tế thị
trường mở, nước nhập khẩu có thể lấy mức giá của nước thứ ba để so sánh khi
xác định xem đánh thuế chống bán phá giá hay không. Nhìn lại 20 vụ kiện
CBPG đối với hàng VN, thì vụ kiện về cá da trơn (cá basa) và tôm là 2 vụ có
quy mô và phức tạp nhất. Khởi kiện nhiều nhất là EU (9 vụ), tiếp đến là Hoa
Kỳ (2 vụ), Canada (2 vụ) còn lại là Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Peru… Các doanh
nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong những vụ kiện bán phá giá không
chỉ ảnh hưởng tới doanh số bán hàng mà chi phí bỏ ra trong những vụ kiện
cũng là rất lớn. Đây có thể coi là biện pháp hàng rào phi thuế quan mà các
nước sử dụng để hạn chế nhập khẩu hàng hóa, gia tăng khả năng canh đối với
hàng hóa nội địa của nước đó.

CHƯƠNG 2
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM

Trong thời gian qua các cơ quan, doanh nghiệp, nhà quản lý đã đưa ra
nhiều biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam nhưng vẫn còn
nhiều điểm hạn chế cần khắc phục do nền kinh tế trong nước và thế giới đang
có nhiều biến động. Việc cấp thiết hiện nay là cần đưa ra những giải pháp
hiệu quả để khắc phục những điểm yếu đang tồn tại và đưa ra những tầm
nhìn, chiến lược lâu dài cho nông sản Việt Nam.
2.1. Nâng cao chất lượng nông sản để đáp ứng yêu cầu thị trường 24
Chất lượng nông sản được nâng cao không chỉ góp phần tăng lên khối

- Sau khi tạo ra thành quả là sản phẩm thì người nông dân cũng cần chú ý
đến bảo quản sản phẩm để không làm giảm chất lượng của nông phẩm.
2.1.2 Về phía doanh nghiệp:
Điều quan trọng và bức thiết nhất hiện nay, là phải tạo sự đồng lòng
của người sản xuất và cộng đồng DN thủy sản Việt Nam, không tìm cách
cạnh tranh nội bộ, mà phải tập trung sức cạnh tranh với bên ngoài, cùng gánh
vác khó khăn, chia sẻ hợp lý lợi ích, vì quyền lợi chung của đất nước và
quyền lợi của từng người sản xuất, từng DN. Khi tạo được mối liên kết giữa
các doanh nghiệp trong nước thì sức mạnh cạnh tranh khi hàng hóa nông sản
của Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài sẽ là rất lớn. Thực tế cho thấy trong
thời gian qua có một số doanh nghiệp trong nước do sự cạnh tranh với nhau
đã làm thiệt hại đến chính lợi ích của doanh nghiệp đó và cả những người
nông dân. Đó là tình trạng giảm giá để tăng sức bán hàng hóa của một số
doanh nghiệp, hay sự cạnh tranh về thu mua nguyên liệu đã khiến cho lợi ích
của doanh nghiệp và những người nông dân giảm sút. Chính vì thế cần có
những sự gắn kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước để tăng cạnh
tranh cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó một số điểm
cần chú ý nhằm nâng cao chất lượng nông sản:
- Quy hoạch xây dựng nhà máy chế biến gần khu nguyên liệu để thuận
tiện hơn cho việc vận chuyển thu mua, tiết kiệm được thời gian và chi phí.
- Nghiên cứu kĩ các điều kiện tiêu chuẩn đối với từng mặt hàng nông
sản để từ đó chế biến và bảo quản đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn đã quy
định của nhiều nước.
- Liên kết chặt chẽ với người sản xuất để có thể lo đầu ra cho sản phẩm.
Xây dựng kho dự trữ bảo quản trong những tình huống khó khăn để có thể
chủ động khi thị trường biến động.
2.1.3 Phát triển cơ sở chế biến nông sản
Tại các nước phát triển họ đặc biệt chú trọng tới việc phát triển ngành
công nghiệp chế biến. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là hàng hóa đã qua chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status