thị trường chứng khoán việt nam qua các thời kì - Pdf 13

Trờng Đại học Hải Phòng
Khoa Kế toán Tài chính
Tiểu luận Lý thuyết tài chính tiền tệ
Đề tài Thị trờng chứng khoán Việt Nam qua các thời kì

SVTH : Trần Thị Hải Yến
Lớp : Tài chính - Ngân hàng D K10
Hải Phòng, tháng 11 năm 2011
Lời mở đầu
Thị trờng chứng khoán Việt Nam mới ra đời đầu năm 2000. Thuật ngữ Thị tr-
ờng chứng khoán còn khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam. Trong khi đó
ở nhiều nớc trên thế giới, thị trờng chứng khoán đã phát triển rất sôi động. Đầu t
vào thị trờng chứng khoán đã trở nên quan trọng đối với mọi ngời. Để tham gia
vào thị trờng chứng khoán, mọi ngời đều phải có những kiến thức nhất định về
lĩnh vực này. Thị trờng chứng khoán chỉ có thể phát triển đợc nếu có sự tham gia
ngày càng đông của những ngời có kiến thức đầy đủ về thị trờng chứng khoán.
Chính vì vậy, kiến thức của mọi ngời dân về thị trờng chứng khoán ở Việt Nam
cần phải đợc nâng cao. Do quy mô hạn hẹp nên trong khuôn khổ bài luận này,
em chỉ nêu lên những vấn đề cơ bản về thị trờng chứng khoán và đôi nét về tình
hình thị trờng chứng khoán tại Việt Nam, đủ để mọi ngời có thể hiểu thêm phần
nào khi nhắc đến lĩnh vực này.
Bài luận chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong
nhận đợc sự thông cảm và những hớng dẫn, góp ý tận tình của thầy cô, để các bài
luận sau đạt đợc kết quả tốt hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn.
Trần Thị Hải Yến
Chơng 1
Tổng quan về thị trờng chứng khoán
Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên và trở
nên đa dạng, phong phú. Ngời thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu t, ng-
ời thì có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để sinh lời. Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực
tiếp trên cơ sở quen biết. Tuy nhiên sau đó, khi cung cầu vốn không ngừng tăng

Nh vậy theo quan điểm này, thị trờng chứng khoán và thị trờng vốn là
khác nhau, trong đó thị trờng chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các
công cụ tài chính trung và dài hạn nh trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái
phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn đợc giao dịch trên thị trờng
tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của thị trờng chứng khoán.
Quan điểm thứ ba, dựa trên những gì quan sát đợc tại đa số các Sở giao
dịch chứng khoán lại cho rằng Thị trờng chứng khoán là thị trờng cổ
phiếu hay là nơi mua bán các phiếu cổ phần đợc các công ty phát hành ra
để huy động vốn. Theo quan điểm này, thị trờng chứng khoán đợc đặc trng
bởi thị trờng mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở
hữu.
Các quan điểm trên đều đợc khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong
từng điều kiện lịch sử nhất định. Tuy nhiên, quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù
hợp với sự phát triển chung của thị trờng chứng khoán hiện nay là : Thị trờng
chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng
khoán. Chứng khoán đợc hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó
cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát
hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại
chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng.
Thị trờng chứng khoán không giống với các thị trờng hàng hoá thông thờng khác
vì hàng hoá của thị trờng chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở
hữu về t bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Nh vậy có thể
nói, bản chất của thị trờng chứng khoán là thị trờng thể hiện mối quan hệ giữa
cung và cầu của vốn đầu t mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin
về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu t. Thị trờng chứng khoán là hình thức phát
triển bậc cao của nền sản xuất và lu thông hàng hoá.
1.2. Cơ cấu của thị trờng chứng khoán
Căn cứ vào hàng hoá đợc giao dịch trên thị trờng, thị trờng chứng khoán đ-
ợc chia thành thị trờng cổ phiếu (Stock Markets), thị trờng trái phiếu
(Bond Markets) và thị trờng các chứng khoán phái sinh (Derivative

thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trờng càng cao.
- Đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình kinh tế dựa vào giá cả và trị số
của các chứng khoán. Doanh nghiệp làm ăn có lợi thì giá chứng khoán tăng.
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp đợc phản ánh một
cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của
doanh nghiệp đợc nhanh chóng và thuận tiện. Từ đó cũng tạo ra một môi trờng
cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng
công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
- Giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô : Chính phủ thông qua thị trờng
tài chính để điều tiết nền kinh tế. Các chỉ báo của thị trờng chứng khoán phản
ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng
khoán tăng lên cho thấy đầu t đang mở rộng, nền kinh tế tăng trởng. Ngợc lại,
giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế,
thị trờng chứng khoán đợc coi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công
cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua
thị trờng chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo
ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính
phủ cũng có thể sử dụng một số chinh sách, biện pháp tác động vào thị trờng
chứng khoán nhằm định hớng đầu t, đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền
kinh tế.
- Cung cấp môi trờng đầu t cho công chúng : thị trờng chứng khoán cung cấp cho
công chúng một môi trờng đầu t lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú.
Các loại chứng khoán trên thị trờng rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi
ro, cho phép các nhà đầu t có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng,
mục tiêu và sở thích của mình.
1.4. Vai trò của thị trờng chứng khoán đối với nền kinh tế
Với t cách là phơng thức khơi thông dòng vốn đầu t vào sản xuất kinh doanh, thị
trờng chứng khoán có vai trò cực kì quan trọng trong nền kinh tế. Khi nền kinh
tế hàng hoá phát triển tới một mức độ nhất định sẽ cần tới thị trờng chứng khoán
để hỗ trợ cho quá trình phát triển.

chỉ có thể cấp tín dụng trung và dài hạn cho nền kinh tế một cách hạn chế, nếu
không sẽ dẫn đến tình trạng chuyển hoá vốn quá mức, không những đe doạ an
toàn của các ngân hàng mà còn gây nguy cơ lạm phát. Trong bối cảnh đó, thị tr-
ờng chứng khoán là nơi bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng cho các
khoản đầu t phát triển. Trên thị trờng sơ cấp, vốn đợc chuyển trực tiếp từ ngời có
vốn sang ngời cần vốn thông qua việc phát hành lần đầu các loại chứng khoán.
Trên thị trờng thứ cấp sau đó, chứng khoán đã phát hành có tác dụng nh gây
tiếp sức để ngời đầu t mới tiếp sức cho ngời đầu t cũng thông qua việc mua bán
lại chứng khoán. Đó là quá trình biến các khoản tiết kiệm ngắn hạn thành nguồn
nuôi dỡng và duy trì các khoản đầu t dài hạn trên cơ sở tham gia tích cực và tự
nguyện của các nhà đầu t.
Nh vậy, thị trờng chứng khoán hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng trong việc cấp các
khoản tín dụng trung và dài hạn, góp phần làm giảm áp lực lạm phát. Sự phân
tích ở trên đã chỉ ra rằng thị trờng chứng khoán có vai trò tích cực và không thể
thiếu trong nền kinh tế.
Chơng 2
Thị trờng chứng khoán Việt Nam qua các thời kì
2.1. Tính tất yếu của việc hình thành thị trờng chứng khoán tại
Việt Nam
2.1.1. Do yêu cầu của nền kinh tế
Thực tế cho thấy ở tất cả các nớc có thị trờng chứng khoán, khi nền kinh tế thị tr-
ờng ra đời thì cha có thị trờng chứng khoán. Thị trờng chứng khoán chỉ ra đời khi
nền kinh tế thị trờng đã phát triển ở mức độ nhất định và đòi hỏi phải hình thành
một tổ chức nào đó có khả năng tiếp thêm sức mạnh cho thị trờng - đó là thị tr-
ờng chứng khoán với việc cung cấp vốn cho nền kinh tế. Có thể nói nền kinh tế
hàng hoá phát triển làm nảy sinh thị trờng chứng khoán và thị trờng chứng khoán
đến lợt nó lại tiếp thêm nguồn lực để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển.
Trong nền kinh tế nớc ta hiện nay, chủ yếu mới có hình thức giao lu vốn gián
tiếp nên cha huy động và thu hút có hiệu quả tối u nguồn vốn còn khá tiềm tàng
của đất nớc. Do đó, cùng với sự phát triển, hoàn thiện thị trờng liên ngân hàng,

Tại TP HCM hiện đã có 80 doanh nghiệp cổ phần trong đó có 24 doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh công thơng nghiệp dịch vụ, 22 ngân hàng thơng mại và 2
công ty tài chính với số vốn cổ phần lên tới 250 tỷ đồng. Các doanh nghiệp này
ngoài việc phát hành cổ phiếu, một số đơn vị (chủ yếu là các ngân hàng và các
công ty tài chính) đã phát hành các loại kì phiếu trung hạn. Ngoài ra các ngân
hàng thơng mại, ngân hàng đầu t phát triển quốc doanh, kho bạc nhà nớc cũng
đã phát hành các loại kì phiếu có mục đích.Tất cả các loại kì phiếu, cổ phiếu nói
trên đều có thể tham gia thị trờng chứng khoán, do vậy có thể nói rằng Việt Nam
hiện nay đã có thị trờng chứng khoán mặc dù vẫn còn non nớt.
Thị trờng chứng khoán Việt Nam đã hình thành và đi vào hoạt động. Đến ngày
31.8.2000 đã có 2 phiên giao dịch. Hiện nay mới chỉ có 2 công ty cổ phần niêm
yết cổ phiếu là công ty điện lậnh (REE) và công ty vật liệu bu chính viễn thông
(SACOM) cho nên hàng hoá cần cho thị trờng rất ít.
Nói chung lại, thị trờng chứng khoán Việt Nam mới tồn tại ở mức độ rất sơ khai,
cha thực sự là thị trờng chứng khoán với đúng ý nghĩa của khái niệm nh mọi ng-
ời nhìn nhận.
2.3. Các giai đoạn phát triển của thị trờng chứng khoán Việt Nam
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi, ngày 11.7.1998 Chính phủ đã kí Nghị định
số 48/CP ban hành về chứng khoán và thị trờng chứng khoán, chính thức khai
sinh cho thị trờng chứng khoán Việt Nam ra đời.
Cùng ngày, Chính phủ cũng kí quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng
khoán đặt tại TP HCM và Hà Nội. Việc chuẩn bị cho thị trờng chứng khoán Việt
Nam thực ra đã do Uỷ ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định số
75/CP ngày 28.11.1996.
Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP HCM đợc thành lập theo Quyết định số
127/1998/QĐ-TTg ngày 11.7.1998 và chính thức đi vào hoạt động, thực hiện
phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28.7.2000.
Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội đã chính thức chào đời vào ngày
8.3.2005. Khác với Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP HCM (vốn là nơi niêm
yết và giao dịch chứng khoán của các công ty lớn), Trung tâm Giao dịch chứng

không hấp dẫn nhà đầu t trong nớc, trong khi room cũng hết.
Ngày 8.3.2005, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức đi vào hoạt
động. Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỉ lệ nắm giữ của nhà
đầu t nớc ngoài đợc nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng).
Trong 5 năm đầu tiên, dờng nh thị trờng không thực sự thu hút đợc sự quan tâm
của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trờng cha tạo ra tác
động xã hội mở rộng để có thể ảnh hởng tới sự vân hành của nền kinh tế cũng
nh tới cuộc sống của mỗi ngời dân. Ta có thể nhận định rõ đợc điều đó thông qua
bảng số liệu sau :
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số CT NY/ĐKGD 5 5 20 22 26 32
Mức vốn hoá TTCP
(%GDP)
0.28 0.34 0.48 0.39 0.64 1.21
Số lợng CTCK 3 8 9 11 13 14
Số tài khoản KH 2.908 8.774 13.520 15.735 21.616 31.316
Theo thống kê của Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc, tính đến hết năm 2005, tổng
giá trị thị trờng chứng khoán Việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69%
tổng thu nhập quốc nội GDP. Thị trờng chứng khoán Việt Nam hiện có 4.500 tỷ
đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu t và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phơng, thu hút 28.300 tài khoản giao dịch.
Trong năm 2005, tốc độ tăng trởng của thị trờng chứng khoán gấp đôi so với năm
2004, huy động đợc 44,600 tỷ đồng. Hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả
nớc đạt gần 1%.
2.3.2. Giai đoạn 2006 : Sự phát triển đột phá của thị trờng chứng khoán
Việt Nam
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 đợc coi là mang tính chất phát triển đột
phá, tạo cho thị trờng chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với
hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 sàn : Sở Giao dịch TP HCM, Trung tâm
Giao dịch Hà Nội và thị trờng OTC.

Năm 2006, kỉ lục mới của VN - Index đợc xác lập ở mốc 809,86 điểm. Với
HASTC - Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm. Tính chung so với đầu năm, chỉ
số VN - Index đã có mức tăng trởng tới 146% và HASTC - Index tăng tới 170%.
Đây là những mức tăng mà các thị trờng trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn t-
ợng. Tính đến phiên 29.12.2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP HCM đã
có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá
trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghin tỷ đồng. Còn tại Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán Hà Nội, số lợng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và
91 trái phiếu với tổng mức đăng kí giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng.
Xét riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trờng chứng khoán chính thức
Việt Nam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, t-
ơng đơng với 13,8 tỷ USD.
2.3.3. Giai đoạn 2007 : Giai đoạn thị trờng chứng khoán bùng nổ
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 1.1.2007 đã góp phần thúc đẩy thị trờng
phát triển và tăng cờng khả năng hội nhập vào thị trờng tài chính quốc tế. Tính
công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết đợc tăng cờng.VN - Index đạt
đỉnh 1.170,67 điểm. HASTC - Index chạm mốc 459,36 điểm. Nhìn chung diễn
biến của thị trờng và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có nhiều biến
động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ dao động mạnh. Kết thúc
phiên giao dịch cuôi năm, VN - Index đạt 927,02 điểm ; HASTC - Index dừng ở
mức 323,55 điểm. Nh vậy, sau 1 năm hoạt động, VN - Index đạt đợc mức tăng tr-
ởng là 23,3% ; HASTC - Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập vào cuối
năm 2006. Tính đến ngày 28.12.2007, Sàn Giao dịch Chứng khoán TP HCM đã
thực hiện đợc 248 phiên giao dịch với tổng khối lợng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ
chứng khoán tơng đơng với tổng giá trị giao dịch toàn thị trờng đạt 224.000 tỷ
đồng, gấp 2 lần khối lợng và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006. Bình quân
mỗi phiên giao dịch có 9,2 triệu chứng khoán đợc chuyển nhợng, tơng đơng với
980 tỷ đồng.
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao
dịch, với tổng khối lợng giao dịch toàn thị trờng đạt 616,3 triệu chứng khoán, t-

HASTC, tất cả các yếu tố của thị trờng đều giảm sút nghiêm trọng. VN -
Index chỉ trong vòng 1 tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm
(24.4.2007), giảm tới 22,6% so với mức đỉnh vào tháng 3. HASTC - Index trở
về mốc 321,44 điểm (24.4.2007), giảm 30% so với mức đỉnh. Thị trờng đã
mất điểm quá nhanh trong một thời gian ngắn khiến giá giao dịch của các cổ
phiếu đã trở về gần mức giá thiết lập vào đầu năm. Trong giai đoạn này, thị tr-
ờng cũng có một đợt hồi phục vào giai đoạn cuối tháng 5.2007 khi VN -
Index quay trở về mốc 1.107,52 điểm (23.5.2007). Nhng do tác động tâm lý
quá mạnh của các chính sách thị trờng trớc đó nh Chỉ thị 03, Luật thuế thu
nhập cá nhân, thị trờng nhanh chóng trở lại trạng thái mất cân bằng và liên
tục sụt giảm mạnh khiến giai đoạn đầu tháng 8, thị trờng xác lập mức đáy
883,9 điểm của VN - Index (6.8.2007) và 247,37 điểm của HASTC - Index
(23.8.2007).
Vào giai đoạn thị trờng xuống sâu nhất (khoảng đầu tháng 8), sàn HCM có
những phiên giao dịch chỉ có hơn 3 triệu cổ phiếu đợc khớp lệnh (ngày
30.7.2007 chỉ có 3.296.340 CP đợc giao dịch), sàn Hà Nội cũng chỉ có vẻn
vẹn 600.000 CP đợc chuyển nhợng thành công (ngày 8.8.2007 khớp lệnh
603.100 CP).
Giai đoạn này, các nhà đầu t nớc ngoài cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lợng giao
dịch của khối này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh. Giá trị giao
dịch bình quân của khối NĐTNN trong giai đoạn này đạt khoảng 170 tỷ
đồng/phiên, giảm tới 52% so với giai đoạn đầu năm.
Giai đoạn phục hồi của thị trờng vào những tháng cuối năm
Thị trờng bớc vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầu
tháng 9 đến cuối tháng 10.2007
Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hớng phục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các
mã cổ phiếu blue-chip trên cả 2 sàn đều lấy lại đợc những gì đã mất trong 6
tháng giữa năm, tuy nhiên, sức bật của các cổ phiếu không đủ mạnh để đa các cổ
phiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3. Trong giai đoạn này, VN - Index
đã có những phiên giao dịch vợt lên trên

Câc thông tin xấu tác động tới tâm lí nhà đầu t trong giai đoạn này chủ yếu
xuất phát từ nội tại nền kinh tế. Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát,
chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nớc, sự leo dốc của giá xăng
đầu và sức ép giải chấp từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu t vào thị tr-
ờng chứng khoán.
Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trờng, câc cơ quan điều hành
bắt đầu đa ra những chủ trơng và biện pháp hỗ trợ :
- UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch
- SCIC tham gia mua vào cổ phiếu
- NHTM đợc vận động ngừng giải chấp
- Tổ chức niêm yết đợc khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ.
Tuy nhiên phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn,
và thị trờng tiếp tục sụt giảm. Cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừng tác
động tới tâm lý các nhà đầu t. Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này có
tới 71 phiên VN - Index giảm điểm. Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN - Index
giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 6.2008. Trong lịch sử hoạt
động của thị trờng chứng khoán, cha có năm nào UBCKNN phải can thiệp
vào thị trờng bằng các biện pháp mạnh tay nhiều nh năm 2008. Tổng cộng
trong năm 2008, UBCKNN đã có 4 lần thay đổi biên độ dao động giá trên cả
2 sàn chứng khoán. Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị trờng, ngăn đà suy
giảm mạnh của các chỉ số chứng khoán, ngày 4.3.2008, Chính phủ đã đa ra
nhóm 19 giải pháp ứng cứu thị trờng. Các chính sách chủ yếu đợc thực hiện
thông qua việc sử dụng công cụ điều hành lãi suất cơ bản và thắt chặt đầu t
công đề hạn chế nguồn cung tiền trên thị trờng.
Giai đoạn 2 : tháng 6 tới đầu tháng 9 : phục hồi trong ngắn hạn
Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue - chip nh STB, FPT, DPM, và
đặc biệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nớc ngoài, cả 2 sàn chứng khoán
đã có những phiên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này. VN - Index và
HASTC - Index liên tiếp vợt qua các ngỡng cản tâm lý quan trọng và thờng
xuyên có đợc những chuỗi tăng điểm kéo dài. Đây cũng là giai đoạn thị trờng

Giải pháp kịp thời trong những tháng cuối năm 2008 đợc thực hiện thông qua
việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản nhằm kích cầu sản xuất tiêu dùng, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vay vốn một cách dễ dàng hơn, đồng thời
giảm áp lực tín dụng cho các ngân hàng thơng mại.
2.3.5. Quý 1 năm 2009 đến nay
Thị trờng chứng khoán Việt Nam là thị trờng tăng trởng tệ nhất châu á tính từ
đầu năm 2009 đến nay. Lợi nhuận các công ty năm 2008 giảm tới 30%. Tuy
nhiên một số công ty vẫn có kết quả kinh doanh tốt và giá cổ phiếu của những
công ty này hiện vẫn ở trong mức rất hấp dẫn.
Thị trờng chứng khoán Việt Nam vẫn tiếp tục đi xuống trong năm 2009. Chỉ số
VN - Index từ đầu năm đến nay hạ 22%, mức hạ tệ nhất so với các thị trờng châu
á khác. Giá trị giao dịch cổ phiếu trung bình trong ngày tháng 2.2009 tại Sàn
giao dịch chứng khoán TPHCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội chỉ là 13
triệu USD. Tổng giá trị vốn hóa thị trờng rơi xuống mức khoảng 10 tỷ USD,
không một cổ phiếu niêm yết nào có giá trị vốn hóa thị trờng lớn hơn 1 tỷ USD
và chỉ có 4 cổ phiếu có giá trị vốn hóa hơn 500 triệu USD.
Nhà đầu t nớc ngoài đã giảm bán, sau khi bán ra số cổ phiếu với tổng giá trị 127
triệu USD trong khoảng thời gian từ tháng 9.2008 đến hết tháng 12.2008, nhà
đầu t nớc ngoài chỉ bán ra lợng cổ phiếu có giá trị khoảng 2 triệu USD từ đầu
năm đến nay. Nguyên nhân chính cho điều này là phần lớn tiền đầu t của nhà đầu
t nớc ngoài, nếu không tính đến những quỹ đóng, đã rút hết khỏi thị trờng Việt
Nam (Quỹ đầu t chứng khoán PXP Vietnam Emerging Equity Fund mới đây cho
phép nhà đầu t rút cổ phiếu ra và sau đó họ có thể bán số cổ phiếu này).
Cha hết, thông tin về lợi nhuận của các công ty không mấy tích cực. Tăng trởng
doanh số khoảng 40% so với cùng kì năm trớc nhng lợi nhuận hoạt động chỉ tăng
8%. Thua lỗ ở các khoản đầu t địa ốc và chứng khoán đẩy lợi nhuận ròng giảm
25%. Trong số 329 công ty niêm yết, 23 công ty thua lỗ, trong đó có cả một số
công ty trớc đây từng đợc nhà đầu t nớc ngoài hết sức a chuộng nh Công ty cổ
phần cơ điện lạnh (REE), Công ty cổ phần Gemadept (GMD) và Công ty cổ
phần cáp và vật liệu viễn thông (SAM).

cũng tăng nhanh. Sự ra đời của các cổ phiếu, trái phiếu do các công ty cổ phần,
các doanh nghiệp nhà nớc phát hành tạo điều kiện thuận lợi cho thị trờng chứng
khoán ra đời.
Thêm vào đó nền kinh tế thị trờng cũng đang làm tiến tiển dần thói quen và nếp
nghĩ của dân chúng sẽ đợc công nhận vì nó đáp ứng đợc nhu cầu của ngời đầu t
vốn, ngời sử dụng vốn và cả Nhà nớc.
Các yếu tố trên đây tạo thuận lợi cho sự ra đời của thị trờng chứng khoán và
khẳng định là thị trờng chứng khoán sẽ đợc công nhận vì nó đáp ứng nhu cầu của
ngời đầu t vốn, ngời sử dụng vốn và cả Nhà nớc.
2.4.2. Những vấn đề còn tồn tại
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, hiện nay vẫn còn tồn tại các khó khăn cản trở
sự hình thành thị trờng chứng khoán tại Việt Nam.
Nhìn toàn cảnh, nền kinh tế vẫn cha thực sự ổn định, nguy cơ lạm phát vẫn còn
làm các nhà quản lý kinh tế đau đầu. Hiệu quả của sản xuất trong nớc còn thấp,
nhất là ở các doanh nghiệp nhà nớc. Các sản phẩm nội địa của ta đang phải cạnh
tranh chật vật với các sản phẩm của nớc ngoài. Sự thua lỗ của nhiều doanh
nghiệp quốc doanh và sự quản lý cồng kềnh của ngành ngân hàng tài chính gây
nên khó khăn và tâm lý lo ngại cho các nhà đầu t.
Xét riêng về các khó khăn đối với sự hình thành thị trờng chứng khoán, ta thấy
vẫn còn những tồn tại lớn tập trung ở các điểm sau :
Thứ nhất, hàng hoá (các loại chứng khoán) để giao dịch trên thị trờng chứng
khoán cha đủ tiêu chuẩn về chất lợng cũng nh cha đủ về khối lợng để giao dịch.
Khi thị trờng chứng khoán chính thức đợc hình thành, số lợng và giá trị cổ phiếu
hiện nay còn quá nhỏ, cha đáp ứng đợc đòi hỏi của thị trờng. Các loại trái phiếu
tuy có đa dạng nhng phần lớn là các loại trái phiếu ngắn hạn, không phải đối t-
ợng chính để mua bán trên thị trờng chứng khoán.
Thứ hai, hệ thống ngân hàng tuy đã đổi mới nhng cha mạnh. Cần tiếp tục phát
triển để đáp ứng các yêu cầu về thanh toán, chuyển giao,lu trữ và thực hiện các
dịch vụ khác.
Thứ ba, cha có khung pháp lý đồng bộ và đầy đủ cho sự hoạt động của thị trờng

trọng. Bên cạnh việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của nớc ngoài, chúng ta
phải tiến hành phân tích đánh giá các điều kiện trong nớc để xây dựng thành
công thị trờng chứng khoán. Vì vậy, mục tiêu của thị trờng chng khoám Việt
Nam đợc đặt ra nh sau :
Một là, phát triển thị trờng chứng khoán phải dựa trên chuẩn mực chung của thị
trờng và các thông lệ quốc tế tốt nhất, phù hợp với điều kiện thực tế và định hớng
phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, tích cực hội nhập với thị trờng tài chính khu
vực và quốc tế.
Hai là, phát triển thị trờng chứng khoán đồng bộ, toàn diện, hoạt động hiệu quả,
vận hành an toàn, lành mạnh, vừa góp phần huy động vốn cho đầu t phát triển
của xã hội, vừa tạo ra những cơ hội đầu t sinh lợi, góp phần nâng cao mức sống
và an sinh xã hội.
Ba là, phát triển thị trờng chứng khoán nhiều cấp độ, bảo đảm chứng khoán đợc
giao dịch theo nguyên tắc thị trờng, có sự quản lý, giám sát của Nhà nớc; bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp và có chính sách khuyến khích các chủ thể tham gia
thị trờng chứng khoán.
Bốn là, đa dạng hoá các sản phẩm, nghiệp vụ của thị trờng, đảm bảo cho các tổ
chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu quả dựa trên nền
tảng quản trị rủi ro, phù hợp với các chuẩn mực chung và thông lệ quốc tế.
Năm là, phát triển thị trờng chứng khoán trong mối tơng quan với việc phát triển
thị trờng tiền tệ, thị trờng bảo hiểm, nhằm tạo ra một hệ thống thị trờng tài chính
thống nhất, đồng bộ, có sự quản lí, giám sát của Nhà nớc. Hoạt động quản lí,
điều hành, giám sát phải thống nhất về mục tiêu, mục đích, định hớng và giải
pháp thực hiện.
Sáu là, chủ động hội nhập thị trờng tài chính quốc tế, nâng cao khả năng cạnh
tranh, từng bớc thu hẹp về khoảng cách phát triển giữa thị trờng chứng khoán
Việt Nam so với các thị trờng khác trong khu vực và thế giới.
3.2. Giải pháp phát triển thị trờng chứng khoán ở Việt Nam
Trên cơ sở những mục tiêu nêu trên, giải pháp cụ thể sẽ tập trung vào các vấn đề
sau :

ngân hàng, bảo hiểm, nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động giám sát, cớng chế thực
thi, bảo đảm an toàn cho hoạt động chứng khoán trên thị trờng chứng khoán Việt
Nam.
Thứ năm, chủ động hội nhập quốc tế, có lộ trình phù hợp với trình độ phát triển
của thị trờng. Hội nhập quốc tế là xu hớng tất yếu hiện nay nhằm nâng cao vai
trò, vị thế, tăng khả năng cạnh tranh của thị trờng chứng khoán Việt Nam trong
khu vực và trên thế giới. Để có đợc những lợi ích lớn nhất từ hội nhập quốc tế và
giảm thiểu đợc những rủi ro khi tham gia vào quá trình này, cơ quan quản lí cần
chủ động xây dựng một chính sách hội nhập, lộ trình hội nhập có tính đến yếu tố
trình độ phát triển của thị trờng chứng khoán và nền kinh tế Việt Nam trong từng
giai đoạn.
Tổng kết
Nh vậy, trải qua hơn 10 năm phát triển, thị trờng chứng khoán Việt Nam bớc đầu
đã có những thành công đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế
đất nớc đang trong quá trình hội nhập và phát triển mạnh mẽ thì thị trờng chứng
khoán Việt Nam cần phải phát huy hơn nữa vai trò của mình, nh là một kênh huy
động vốn chủ yếu của nền kinh tế. Chính vì vậy, nghiên cứu thực trạng của thị tr-
ờng chứng khoán Việt Nam hiện nay là một vấn đề hết sức cần thiết. Phát triển
thị trờng chứng khoán ở Việt Nam với các giải pháp phát triển đồng bộ sẽ tác
động tích cực tới sự phát triẻn của nền kinh tế quốc dân. Do đó, phát triển
nhanh thị trờng vốn, nhất là thị trờng vốn dài hạn và trung hạn, tổ chức và vận
hành thị trờng chứng khoán an toàn hiệu quả, hình thành đồng bộ thị trờng tiền
tệ, tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm
trong chiến lợc phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nớc ta hiện nay (trích báo cáo
chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status