TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI Th.s. Bùi Văn Hùng
2002
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 2
MỤC LỤC
1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN 1870 –1914 12
1.1.1. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 12
1.1.2. SỰ HÌNH THÀNH CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC 13
1.2. NĂM ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC 13
1.2.1. Sự tập trung sản xuất và tư bản đạt tới mức độ phát triển rất cao, tạo thành những tổ
chức lũng đoạn có một vai trò quyết định trong sinh hoạt kinh tế. 13
1.2.2. Sự dung hợp tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp thành tư bản tài chính. 13
1.2.3. Việc xuất khẩu tư bản trở thành đặc biệt quan trọng. 13
1.2.4. Sự hình thành những khối liên minh tư bản độc quyền chia nhau thế giới. 13
1.2.5. Việc các cường quốc tư bản đã chia nhau xong đất đai trên thế giới. 13
2. NƯỚC ANH 1870 - 1914 13
2.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 13
2.1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1870 –1900 13
2.1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1900-1914. 14
1.2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ 14
1.2.1. CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN 14
1.2.2. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI 15
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 3
3. NƯỚC PHÁP 1870 –1914 15
3.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 15
3.1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1870-1900 15
3.1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1900-1914 16
3.2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ 16
3.2.1. CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN 16
3.2.2. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI 17
4. NƯỚC ĐỨC 1871-1914 17
4.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 17
4.1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1871-1914 17
3.1. NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI 32
3.2. Ý NGHĨA LỊCH SỬ 33
CHƯƠNG V 34
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT 34
1. NGUYÊN NHÂN VÀ TÍNH CHẤT 34
1.1. NGUYÊN NHÂN 34
1.2. TÍNH CHẤT. 34
2. QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN 34
2.1. GIAI ĐOẠN I 34
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 4
2.2. GIAI ĐOẠN II 34
2.3. GIAI ĐOẠN CUỐI 34
PHẦN II 35
LỊCH SỬ CẬN ĐẠI PHƯƠNG ĐÔNG 35
CHƯƠNG I 35
NHẬT BẢN 35
1. TIỀN ĐỀ CỦA CUỘC MINH TRỊ DUY TÂN 35
1.1. KINH TẾ 35
1.2. CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI 36
1.3. TƯ TƯỞNG 37
2. CUỘC MINH TRỊ DUY TÂN 37
2.1. SỰ XÂM NHẬP CỦA TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ 37
2.2. NHỮNG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN 37
2.3. CẢI CÁCH MINH TRỊ 37
3. ĐẾ QUỐC NHẬT 38
3.1. KINH TẾ 38
3.2. CHÍNH TRỊ 39
CHƯƠNG II 40
TRUNG QUỐC 40
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 5
3. PHONG TRÀO DÂN TỘC ẤN ĐỘ TƯ SẢN 49
3.1. NỀN THỐNG TRỊ CỦA ANH 49
3.2. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA NHÂN DÂN ẤN ĐỘ
CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 49
CHƯƠNG V 50
MỸ LA TINH 50
1. MỸ LA TINH ĐẦU THỜI KỲ CẬN ĐẠI 50
1.1. VỀ ĐỊA LÝ VÀ DÂN CƯ 50
1.2. THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY PHÂN CHIA CAI TRỊ MỸ LA TINH 51
2. PHONG TRÀO ĐẦU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC MỸ LA TINH THẾ KỶ XIX 51
3. MỸ LA TINH THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX 52
CHƯƠNG VI 53
CHÂU PHI 53
1. CHỦ NGHĨA THỰC DÂN CHÂU ÂU XÂM LƯỢC CHÂU PHI 53
1.1. ĐỊA LÝ VÀ DÂN CƯ 53
1.2. THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY BƯỚC ĐẦU XÂM NHẬP CHÂU PHI 53
1.3. TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY MỞ RỘNG PHẠM VI THỐNG TRỊ CHÂU PHI 53
2. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN CHÂU PHI 53
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 6
PHẦN II
Pruđông (Proudhon), Blăngki (Blanqui), Giacôbanh Mới (Giacobins). Bất chấp các cuộc
đàn áp, bắt bớ của quân đội và cảnh sát tư sản, phong trào công nhân vẫn diễn ra sôi nổi.
Năm 1862, công nhân Paris đã bầu được đoàn đại biểu đi dự hội nghị triển lãm ở Luân
Đôn (London) và tham dự hội nghị thành lập Quốc tế I (ngày 28/9/1864) ở đây. Nhiều
cuộc bãi công và biểu tình đã diễn ra dưới sự lãnh đạo của chi nhánh quốc tế I tại Paris
và các thành phố khác. Điển hình là cuộc bãi công, biểu tình của hơn 20 vạn công nhân
Paris vào tháng 1/1870.
Giai cấp nông dân bị nạn thiếu đất, nạn cho vay nặng lãi, ách bóc lột của địa
chủ, phú nông… và đóng góp nghĩa vụ thuế khoá nặng nề phục vụ cho tham vọng xâm
lược thuộc địa của chính phủ phản động Pháp đã tỏ ra thất vọng và cũng không ngừng
nổi dậy đấu tranh. Hàng chục vạn người bị phá sản đã phải chạy ra thành thị kiếm sống
bằng đủ mọi nghề. Năm 1851, nông dân chiếm 74% dân số thì đến 1866 chỉ còn 69,5%.
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 7
1.1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ.
Công nghiệp: Cuộc cách mạng công nghiệp ở Pháp hoàn thành, nền công nghiệp
Pháp vươn lên mạnh mẽ trở thành nước đứng thứ hai (sau Anh) trên thế giới. Các ngành
kinh tế công nghiệp như : khai mỏ, luyện kim, chế tạo máy, giao thông, dệt vải, dân
dụng đều khá phát triển. Từ năm 1852 đến 1869, số lượng máy hơi nước tăng lên tới 4
lần (từ 6.080 lên 26.221 máy); tổng chiều dài đường sắt tăng lên gần 5 lần; tàu chạy
bằng máy hơi nước tăng lên 3,5 lần.
Nông nghiệp: Cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp 1789 – 1794 đã mang lại một bộ
mặt mới cho nông thôn nước Pháp. Nông dân được chia ruộng đất, quan hệ tư bản chủ
nghĩa được thừa nhận và ngày càng phát triển, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã
thúc đẩy nông nghiệp Pháp phát triển. Đại bộ phận ruộng đất nằm trong tay tư bản, tuy
nhiên, về cơ bản nông nghiệp Pháp vẫn mang tính chất của một nền tiểu nông tư hữu
theo hướng thị trường.
Thương nghiệp: Trên cơ sở kinh tế công nông nghiệp phát triển và một thị
trường nội địa thống nhất, ngành kinh tế thương nghiệp tư bản chủ nghĩa Pháp cũng
phát triển. Trong lĩnh vực ngoại thương, năm 1851, tổng kim ngạch đạt 2.615 triệu fran
Bixmắc (Otto Von Bismarck 1815 – 1819). Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phổ
đề xướng đạt thắng lợi khi tiến hành cuộc chiến tranh với Pháp. Phổ muốn tiến hành
cuộc chiến tranh này, một mặt để sát nhập phần còn lại ở vùng Tây Nam Đức (giáp giới
Pháp) vào Liên bang Bắc Đức; mặt khác để tìm kiếm lợi nhuận phục vụ cho quá trình tư
bản hoá đất nước đồng thời làm yếu đi thế lực tư bản Pháp
1.2.2. DIỄN BIẾN CỦA CUỘC CHIẾN TRANH VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA NỀN ĐẾ CHẾ II.
Ngày 19/7/1870, Napôlêông III tuyên chiến với Phổ. Ngay từ đầu, quân Pháp đã
bị thua hết trận này đến trận khác. Cả hai cánh quân đều bị vây hãm : một ở pháo đài
Mếtdơ (Metz) và một ở pháo đài Xơđăng (Sedan). Ngày 2/9/1870, Napôlêông III cùng
với 80 ngàn quân Pháp đầu hàng ở pháo đài Xơđăng.
Tin tức lan truyền về tới Pari, ngày 4/9/1870, quần chúng Pari xuống đường biểu
tình đòi lật đổ nền Đế chế II. Chính phủ tư sản lâm thời được thành lập do tướng
Tơrôsuy (Trochu) - một phần tử Bảo hoàng, nguyên Thị trưởng Pari – làm thủ tướng.
Chính phủ này đã không thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, trái lại còn âm mưu
thỏa hiệp với quân Phổ để đàn áp quần chúng cách mạng.
Ngày 27/10/1870, Tướng Baden (Bazel) đầu hàng quân Phổ ở Mếtdơ, cuộc
chiến tranh Pháp – Phổ do giai cấp tư sản lãnh đạo về cơ bản đã kết thúc. Nước Pháp
bại trận.
2. CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN PARI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA CÔNG XÃ PARI
2.1. TÌNH HÌNH PARI SAU KHI QUÂN PHÁP ĐẦU HÀNG QUÂN PHỔ
Ngay từ khi cuộc chiến tranh bùng nổ, Mác đã gửi thư cho công nhân Pháp và
Đức. Người đã phân tích tính chất của cuộc chiến tranh và kêu gọi giai cấp công nhân ở
hai nước hãy cảnh giác sẵn sàng đấu tranh. Khi quân Pháp đầu hàng ở pháo đài Mếtdơ,
phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp đã diễn ra mạnh mẽ mà trung tâm là Thủ đô
Pari. Ngày 31/10/1870, dưới sự lãnh đạo của phái Blăngki (Blanqui), nhân dân Pari biểu
tình chiếm được Toà Thị chính nhưng sau đó bị Chính phủ Lâm thời đàn áp. Trước thái
độ đầu hàng của chính phủ tư sản (11/1870, Bộ trưởng Ngoại giao Guynlơ Phavrơ
(Jules Favre) đã bí mật ký với đại diện của Bixmắc một thoả ước đầu hàng), quần chúng
Pari đã thành lập được hơn 200 tiểu đoàn Vệ quốc, tự trang bị vũ khí và tổ chức bảo vệ
Thủ đô.
phủ và quân đội tư sản rút chạy về Vécxây. Cuộc cách mạng kết thúc thắng lợi tại thủ
đô của nước Pháp.
Sau thắng lợi, Ủy ban trung ương quân đội Vệ quốc trở thành chính phủ Lâm
thời tạm quyền quản lý thành phố chờ tổng tuyển cử. Ngày 26/3/1871, cuộc tổng tuyển
cử theo lối phổ thông đầu phiếu cho mọi công dân từ 18 tuổi trở nên đã diễn ra trong
không khí tưng bừng, nhộn nhịp. Ngày 28/3/1871, Hội đồng Công xã gồm 85 đại biểu
long trọng ra mắt quốc dân.
Trong số đó, 25 đại biểu là công nhân, 30 đại biểu là trí thức, 15 đại biểu là tư
sản nhưng sớm từ chức, còn lại là các đại biểu thuộc mọi giới khác nhau. Hội đồng
Công xã đóng vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất của Pari cách mạng. Trong Hội
đồng có các uỷ ban phụ trách các vấn đề khác nhau của bộ máy nhà nước như: quân sự,
bưu điện, lao đọng xã hội, tài chính, giáo dục, nghệ thuật,
Ngay từ đầu, trong Hội đồng Công xã đã phân hoá thành hai phe: thiểu số và đa
số.
Phe thiểu số chiếm 1/3 số ghế là những người Pruđông (Proudhon). Họ cho
rằng : Hội đồng Công xã không nên đi quá phạm vi là một hội đồng thành phố. Nước
Pháp là liên bang của hội đồng thành phố và nông thôn tự trị. Họ chống lại việc thành
lập chính quyền tập trung và phản đối chức năng trấn áp kẻ thù. Phe thiểu số lại phân
chia làm 2 phái: phái Hữu phủ nhận sự cần thiết của chuyên chính vô sản và đấu tranh
chính trị; phái Tả cho rằng cần thực hiện triệt để quyền sở hữu xã hội về tư liệu sản
xuất, liên hệ mật thiết với công nhân qua các tổ chức công đoàn, câu lạc bộ dân chủ và
điều chỉnh sự trao đổi bằng cách cho vay nhẹ lãi.
Phe đa số chiếm 2/3 số ghế gồm những người theo tư tưởng Blăng ki và
Giacôbanh Mới. Họ chủ trương hạn chế tối đa quyền sở hữu đại tư sản, củng cố tiểu tư
hữu. Họ chủ trương phải xây dựng một chính quyền tập trung mạnh mẽ trên cơ sở kiên
quyết trấn áp bọn phản cách mạng. Hội đồng Công xã là chính phủ chung của cả nước
Pháp. Tuy nhiên phe đa số lại kém liên hệ với quần chúng nên chủ trương này không trở
thành hiện thực.
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 10
Họ rải 10 vạn tờ truyền đơn bằng khinh khí cầu kêu gọi nông dân đứng về phía công
nhân chốnh kẻ thù chung là giai cấp tư sản. Rất tiếc rằng hành động này không thu được
kết quả vì sự phản tuyên truyền của giai cấp tư sản.
2.3.3. Về VĂN HOÁ GIÁO DụC
Hội đồng Công xã ra sắc lệnh tách nhà thờ ra khỏi hệ thống giáo dục, thay thế
đội ngũ giáo viên là cha cố bằng giáo viên mới, tăng lương cho giáo viên. Hội đồng
Công xã ra sắc lệnh quy định chế độ giáo dục bắt buộc, miễn phí đối với lứa tuổi học
sinh. Ngày 2/5/1871, Hội đồng Công xã quyết định thành lập 2 trường trung học chuyên
nghiệp.
Ngày 21/5/1871, Hội đồng Công xã ra sắc lệnh thủ tiêu việc kinh doanh nghệ
thuật tư nhân và trực tiếp quản lý các công trình, di sản văn hoá cũng như các hoạt động
nghệ thuật để phục vụ đông đảo quần chúng; khuyến khích các nhà văn, nhà thơ, nhạc
sỹ sáng tác những tác phẩm văn học phục vụ cho sự nghiệp của Công xã. Bài Quốc tế ca
do Ơgien Pôchiê sáng tác trong hoàn cảnh ấy.
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 11
Những chính sách trên chứng tỏ Hội đồng Công xã Pari là một Nhà nước kiểu
mới của giai cấp vô sản. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan mà
trong một chừng mực nào đó những chính sách ấy chưa được thực hiện và thực thi chưa
đầy đủ.
2.4. SỰ THẤT BẠI CỦA CÔNG XÃ PARI
Khi rút về Vécxây, quân đội tư sản chỉ còn lại có 12.000 người, nhưng quân
cách mạng lại không tiếp tục truy kích nên chúng có thời gian để bổ sung lực lượng và
chuẩn bị phản công.
Ngày 2/4/1871, quân đội tư sản bắt đầu tấn công Pari. Quân đội tư sản có 65 vạn
với phương tiện và chỉ huy tốt hơn, trong khi đó, quân cách mạng có khoảng 40 vạn với
vũ khí và chỉ huy kém hơn. Mặc dù chiến đấu rất dũng cảm nhưng do so sánh tương
quan lực lượng như vậy nên thế trận nghiêng dần về phía kẻ thù. Đến đầu tháng 5, quân
đội tư sản đã chiếm được phần lớn Tây Nam của Pari.
Chính phủ tư sản Pháp được sự giúp đỡ của quân Phổ đang chiếm đóng tại vùng
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 12
3.3. Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Công xã Pari là cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản với tư cách là một
lực lượng chính trị độc lập đấu tranh chống giai cấp tư sản vì quyền lợi chính trị của
mình. Chứng tỏ rằng giai cấp vô sản chính là người lĩnh sứ mệnh lịch sử là đào mồ chôn
chủ nghĩa tư bản
Công xã Pari đã sáng tạo ra hình thức chính quyền mới dựa trên cơ sở dân chủ
vô sản – Nhà nước ckiểu mới của giai cấp vô sản vì quyền lợi của nhân dân lao động.
Công xã Pari đã góp phần quan trọng bổ sung vốn thực tiễn trong học thuyết của
chủ nghĩa Mác
Công xã Pari là biểu hiện cao độ về sự gắn bó chặt chẽ giữa tính giai cấp, dân
tộc và thời đại.
CHƯƠNG II
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CHUYỂN SANG GIAI ĐOẠN ĐẾ QUỐC CHỦ NGHĨA
GIAI ĐOẠN 1870 –1914
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN 1870 –1914
1.1.1. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Về công nghiệp:
- Công nghiệp luyện kim, do việc sử dụng lò Bétxơme (Bessme) và lò Máctanh
(Martin) nên sản lượng thép tăng từ 250 ngàn tấn năm 1870 lên tới 28,3 triệu tấn
năm 1900 và 76 triệu tấn năm 1903, gang từ 41 triệu tấn năm 1900 lên tới 79 triệu
tấn năm 1903.
- Công nghiệp năng lượng, nguồn năng lượng than được khai thác ngày càng tăng từ
700 triệu tấn năm 1900 lên đến 1.300 triệu tấn năm 1903. Việc sử dụng nguồn điện
năng từ nước (thuỷ điện) cũng được đẩy mạnh song song với việc thiết lập hệ thống
tải điện đi xa. Một nguồn năng lượng mới là dầu hoả được phát hiện và sử dụng tạo
điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển. Năm 1870, tổng sản lượng dầu hoả toàn
thế giới là 0,8 triệu tấn đến năm 1903 là 52 triệu tấn
- Các ngành công nghiệp khác như hoá học mới ra đời sản xuất thuốc nhuộm, thuốc
toàn quyền sở hữu xí nghiệp; Côngxoócxiom là tổ chức hợp nhất nhằm thống nhất trên
cơ sở tài chính chung phụ thuộc vào một nhóm lũng đoạn.
V.I. Lênin đã phân chia 3 giai đoạn hình thành chủ nghĩa đế quốc như : từ 1860 –
1880 là giai đoạn tự do cạnh tranh phát triển cực thịnh, từ 1873 đến 1893 là giai đoạn
hình thành các tổ chức độc quyền nhưng không ổn định và phổ biến, từ 1893 đến 1903
là thời kỳ xác lập chủ nghĩa đế quốc.
Nền sản xuất trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa được xã hội hoá ở mức độ rất cao
nhưng lại mâu thuẫn gay gắt với quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất làm cho
những mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa tư bản phát triển không thể điều hoà được.
1.2. NĂM ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC
V.I.Lênin là người đã phân tích một cách khoa học và nêu lên bản chất, địa
vị lịch sử của chủ nghĩa đế quốc. Người đã vạch ra 5 đặc trưng cơ bản sau :
1.2.1. Sự tập trung sản xuất và tư bản đạt tới mức độ phát triển rất cao, tạo thành những tổ chức
lũng đoạn có một vai trò quyết định trong sinh hoạt kinh tế.
1.2.2. Sự dung hợp tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp thành tư bản tài chính.
1.2.3. Việc xuất khẩu tư bản trở thành đặc biệt quan trọng.
1.2.4. Sự hình thành những khối liên minh tư bản độc quyền chia nhau thế giới.
1.2.5. Việc các cường quốc tư bản đã chia nhau xong đất đai trên thế giới.
Ở mỗi nước do điều kiện lịch sử và kinh tế khác nhau đã chuyển sang giai đoạn
đế quốc chủ nghĩa với những nét riêng biệt. Nước Mỹ là sự hình thành cácTơrớt khổng
lồ với những tập đoàn tài chính giàu sụ, nước Anh là đế quốc thực dân, nước Pháp là đế
quốc cho vay nặng lãi, nước Đức là đế quốc tư sản gioongke, Nga và Nhật là đế quốc
phong kiến quân sự.
2. NƯỚC ANH 1870 - 1914
2.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ
2.1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1870 –1900
- Công nghiệp, nước Anh từ vị trí hàng đầu dần dần tụt xuống vị trí thứ 3 thế giới.
Nguyên nhân của tình trạng này là vì : các cuộc khủng hoảng kinh tế 1878-1879,
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 14
khắp các nước, các ngân hàng tiến hành xuất khẩu tư bản thu lợi nhuận. Năm 1912,
tư bản Anh thu được 176 triệu bảng từ việc xuất khẩu tư bản.
1.2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ
1.2.1. CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN
Giai cấp tư sản Anh thực hiện quyền lực chính trị của mình thông qua chế độ hai
đảng: Tự do và Bảo thủ.
Đảng Tự do đại diện cho quyền lợi của đông đảo tư sản công thương nghiệp. Đảng
này theo đuổi chính sách tự do buôn bán, nới lỏng quyền tự trị cho Ailen, lương hưu
cho công nhân 65 tuổi để mị dân.
Đảng Bảo thủ đại diện cho lợi ích của trùm công nghiệp nặng, tư sản ngân hàng và
quý tộc ruộng đất. Đảng này chủ trương thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch để bảo vệ
quyền lợi của tư bản Anh, tăng cường cai trị Ailen, đàn áp phong trào công nhân.
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 15
Về cơ bản, hai đảng nhất trí trong việc bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản và đối
phó với phong trào công nhân. Sự khác biệt chỉ mang tính hình thức hay quyền lợi bộ
phận. Hai đảng thay nhau nắm quyền thống trị ở nước Anh. Quyền bầu cử sau nhiều lần
cải cách vẫn chỉ giới hạn trong giới những người giàu có (12%).
Phong trào công nhân và xã hội chủ nghĩa Anh diễn ra dưới tác động của nhiều
trường phái tư tưởng khác nhau. Các tổ chức : Liên minh xã hội dân chủ (1884-1890),
Hội Phabiêng (1884), Đảng công nhân độc lập (I.W.P.1893) Công đảng (1905) và nhất
là Đảng xã hội Anh (1911) đã lãnh đạo công nhân đấu tranh. Tuy nhiên, do sự tồn tại
của đội ngũ công nhân quý tộc ( công nhân có kỹ thuật, tay nghề cao được trả lương hậu
hĩnh ) và sự thao túng của chủ nghĩa nghiệp đoàn, các phần tử cơ hội, xét lại mà phong
trào công nhân và xã hội chủ nghĩa Anh còn nhiều hạn chế.
1.2.2. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
- Chính sách bành trướng mở rộng thuộc địa, các nhà tư tưởng tư sản Anh luôn đề cao
chính sách này. Năm 1867, Sáclơ Đincơ (Charler Dilker) xuất bản cuốn sách “Một
nước Anh vĩ đại”; năm 1883, Giôn Xinly (John Silly) về “Sự bành trướng của nước
năm 1872 đến năm 1891, sản xuất gang từ 1,2 triệu tấn lên 1,9 triệu tấn, thép từ 130
ngàn tấn lên 740 ngàn tấn, than từ 15,8 triệu tấn lên 26,7 triệu tấn.
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 16
- Nông nghiệp Pháp vẫn ở trong tình trạng phân tán, tiểu nông tư hữu gây khó khăn
cho việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật. 60% ruộng đất nằm trong tay tư bản ruộng
đất và thương mại nhưng chỉ có một phần nhỏ được áp dụng phương pháp kinh
doanh tư bản chủ nghĩa ở những vùng trồng nho.
- Thương nghiệp Pháp duy trì ở vị tí thứ 3 thế giới với hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực
ngoại thương thông qua hệ thống thuộc địa.
- Sự tập trung sản xuất và tư bản diễn ra mạnh mẽ nhất là trong ngành ngân hàng. 2/3
số tư bản nước Pháp tập trung trong tay 3 ngân hàng lớn ở Pari, phần lớn số tư bản
này được dùng cho vay lãi.
3.1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1900-1914
- Công nghiệp Pháp mặc dù có những bước phát triển lớn song tốc độ vẫn thua kém
xa so với các nước khác.
- Nông nghiệp vẫn trong tình trạng phân tán và lạc hậu. Đây là đặc tính cố hữu của
nền nông nghiệp Pháp. Chỉ có ngành trồng Nho là tương đối phát triển do nhu cầu
nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất rượu vang nổi tiếng của Pháp.
- Thương nghiệp cũng phát triển trao đổi hàng hoá giữa Pháp với thuộc địa và vùng
phụ thuộc.
- Quá trình tập trung sản xuất và tư bản ở Pháp giai đoạn này diễn ra mạnh mẽ dẫn tới
sự hình thành các tập đoàn tư bản tài chính kếch xù. Ngành luyện kim và khai mỏ do
hai tập đoàn lớn là Snâyđơ Crơdô (Schneider Creusot) và Cômitê Phogiơ
(Comite
,
des Forges) 5 ngân hàng lớn ở Pari khống chế 2/3 toàn bộ số tư bản
Pháp. Phần lớn tư bản được đưa ra nước ngoài. Năm 1908, 38 tỷ fran được xuất
khẩu trong khi chỉ có 9,5 tỷ đầu tư trong nước. Năm 1914, 60 tỷ fran xuất khẩu đem
lại cho tư bản Pháp 2,5 tỷ fran lợi nhuận.
lớn mạnh. Dưới sự dẫn dắt của những người Mácxít như Giuyn Ghexđơ (Jules Gesder),
Pôn Laphácgơ (Paul Lafargue) Đảng Công nhân đã được thành lập ở Lơ Havrơ vào
năm 1880. Năm 1902, Tổng liên đoàn lao động được thành lập. Năm 1904, Đảng Xã
hội thống nhất cũng được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai đảng Xã hội Pháp và đảng
Xã hội nước Pháp. Mặc dù còn tồn tại nhiều khuynh hướng khác nhau nhưng nhiều
cuộc đấu tranh vẫn diễn ra thể hiện sự giác ngộ chính trị ngày càng cao của giai cấp
công nhân Pháp.
3.2.2. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
- Chính sách xâm lược thuộc địa là nội dung quan trọng trong chính sách đối ngoại
của các chính phủ nước Pháp.
Đối với châu Á, Pháp hoàn thành việc xâm lược Việt Nam và Đông Dương
(1858-1891), tham gia xâu xé Trung Quốc.
Đối với châu Phi, Pháp chiếm Tuynidi (1881), Mađagaxca (1885) và mở rộng
xâm lược Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Tây Xuđăng, Ghinê
Đối với châu Mỹ, Pháp gặp phải sự cản trở của Mỹ.
Cho đến cuối thế kỷ XIX, diện tích thuộc địa của Pháp đứng thứ hai thế giới và
lên tới 3,7 triệu dặm vuông với 56,1 triệu dân.
- Chính sách ngọai giao với thế giới tư bản chủ nghĩa. Đứng trước nguy cơ xâm lược
mới từ nước Đức và lòng thù hận dân tộc, Pháp tăng cường hoạt động ngoại giao
với Nga (hiệp ước Pháp- Nga 1893), Anh (hiệp ước Pháp - Anh 1903). Liên minh
quân sự Pháp-Anh-Nga được hình thành sẵn sàng tham gia chiến tranh thế giới thứ
nhất. Pháp cũng ráo riết chạy đua vũ trang, reo rắc tư tưởng xô vanh, phục thù Đức
để lôi kéo nhân dân pháp.
4. NƯỚC ĐỨC 1871-1914
4.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ
4.1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1871-1914
Nước Đức bước vào xây dựng và phát triển kinh tế giai đoạn này trong tình thế vô
cùng thuận lợi. Cuộc đấu tranh thống nhất Đức hoàn thành năm 1871, giai cấp tư sản
Đức cấu kết chặt chẽ với quý tộc tạo thành một lực lượng chính trị hùng hậu, thắng lợi
của cuộc chiến tranh với Pháp nước Đức thu được 5 tỷ fran chiến phí và hai tỉnh giàu có
Krupp độc quyền công nghiệp quân sự sử dụng tới 45.000 công nhân năm 1879
mới có 14 cácten thì đến 1900 đã lên tới 300 cácten.
- Hệ quả xã hội là làm cho bộ mặt nước Đức thay đổi : quá trình đô thị hoá nhanh
chóng với 36% năm 1871 lên đến 54,3% dân số thành thị trong đó 22% là công
nhân (10,6 triệu).
4.1.2. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1900-1914
- Công nghiệp Đức tiếp tục khẳng định vị trí hàng đầu châu Âu và thứ hai thế giới về
cả tổng sản lượng cũng như những ngành cơ bản. Năm 1912, sản xuất gang vượt
Anh và Pháp cộng lại kể cả trong các ngành khai mỏ, luyện kim, cơ khí, hoá chất,
đường sắt, đóng tàu
- Nông nghiệp Đức đạt tới mức độ cơ giới hoá cao, phân công lao động theo hướng
chuyên môn hoá, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và kinh doanh theo hướng tư bản
chủ nghĩa. Từ năm 1909 đến năm 1913, sản lượng lúa và khoai tăng gấp 2 lần năm
1894 –1897.
- Thương nghiệp Đức vẫn tiếp tục phát triển trong cả hai lĩnh vực nội thương và ngoại
thương. Trong khoảng 1909 – 1913, hàng xuất khẩu của Đức tăng 60%.
- Sự tập trung sản xuất và tư bản tăng lên nhanh chóng trên quy mô lớn. Không đầy ¼
xí nghiệp sử dụng hơn ¾ điện lực cả nước. Số cácten tăng lên nhanh chóng từ 395
năm 1905 lên tới 600 năm 1911 nhưng các công ty lớn kiểm soát hầu hết các ngành:
khai mỏ và luyện kim 2, điện khí 2, hoá chất 2, hàng hải 2, đó thực sự là những
ông vua công nghiệp. Năm 1913, khoảng 30 “ông vua” thu lại nguồn lãi khoảng 15
tỷ mác.
- Ngành ngân hàng có 9 lớn nhất là ngân hàng Béclin có số vốn hơn 3tỷ mác chi phối
hoạt động của hơn 2000 xí nghiệp, kiểm soát 83% tổng số tư bản của Đức. Một
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 19
phần lớn số tư bản được xuất khẩu ra nước ngoài : năm 1902 là 12,5 tỷ fran đến
1914 là 44 tỷ fran. Hướng đầu tư chủ yếu là Đông Nam Âu, Cận Đông và Nam Mỹ.
4.2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ
4.2.1. CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN
cường quân đội và cảnh sát. Đảng này làkẻ thù tệ hại nhất của giai cấp công hân
và các lực lượng xã hội chủ nghĩa.
Đảng Trung tâm Cơ đốc giáo (Đảng Trung ương) tập hợp quý tộc, tăng lữ ở Tây
và Nam Đức. Đảng này chủ trương chống lại chính sách Phổ hóa nước Đức của
Bixmắc, đòi quyền lợi chính trị và kinh tế cho bộ phận nên đã lôi kéo được một
bộ phận công nhân và nông dân lạc hậu tham gia.
Đảng Tiến bộ tập hợp đông đảo tư sản loại vừa, nhỏ, trí thức chủ trương đấu
tranh nghị trường đòi quyền tự do dân chủ
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 20
- Chính sách đối nội Đức. Nhằm thúc đẩy sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa, chính phủ Bixmắc đã ban bố một loạt các sắc lệnh về thống nhất hành
chính, điện tín, giao thông vận tải, tiền tệ (chế độ bản vị vàng cho đồng Mác), thuế
quan cao, tăng ngân sách quân sự
Sự đấu tranh giữa hai thế lực tôn giáo và giới cầm quyền về quyền lực diễn ra
mạnh mẽ dưới tên gọi “đấu tranh văn hoá” (kulturkamft). Bixmắc đã ban bố những
đạo luật năm 1872, 1873, 1874, 1875 nhằm bẻ gẫy sự bướng bỉnh của các tăng lữ
gồm có các nội dung như : cấm giáo sĩ tuyên truyền chính trị, không được kiểm soát
trường học,Nhà nước bổ nhiệm tăng lữ Đảng Trung ương được sự ủng hộ của một
bộ phận quần chúng lạc hậu, Toà thánh Vaticăng nên giành được ưu thế. Trong cuộc
bầu cử Quốc hội 1874, Đảng này giành được 91 ghế.
Trong khi đó phong trào đấu tranh của nhân dân lên rất cao, Bixmắc và Đảng
Trung ương phải thoả hiệp với nhau để đối phó. Đến đây, tất cả các thế lực cầm
quyền Đức đã thống nhất hành đông để loại phong trào công nhân và xã hội chủ
nghĩa ra khỏi luật pháp nước Đức. Bixmắc đã ban bố “đạo luật đặc biệt” từ năm
1878 đến năm 1890.
- Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp Đức là điều kiện cho phong trào công nhân
Đức phát triển. Mặc dù Đảng Xã hội dân chủ Đức thành lập rất sớm (1869) nhưng
lại chưa đủ sức tập hợp lực lượng. Năm 1875, Đảng Công nhân xã hội dân chủ Đức
được thành lập tại Gôta (Gotha) trên cơ sở hợp nhất giữa 2 phái Látxan và Aidơnắc.
Chính sách của Đức bị Anh phản đối gay gắt, mâu thuẫn Anh - Đức trở thành
mâu thuẫn chủ yếu của chủ nghĩa đế quốc.
- Chính sách ngọi giao trong thế giới tư bản chủ nghĩa: Mục đích lớn nhất cuả Đức là
xác lập địa vị bá chủ ở châu Âu. Năm 1875, Đức ra lệnh báo động quân sự để uy
hiếp Pháp. Lo sợ trước hành động của Đức, Anh và Nga lên tiếng phản đối làm cho
âm mưu của Đức bị phá sản. Năm 1882, Đức ký với Ý, Áo-Hung hiệp ước liên
minh quân sự tay ba đồng thời vẫn duy trì hiệp ước không chính thức với Nga
(1873, được tái bảo đảm năm 1887) làm chỗ dựa cho cuộc đối đầu với Anh và Pháp.
- Đức ráo riết chạy đua vũ trang. Từ năm 1909 đến 1914, chi phí quân sự Đức tới hơn
2 tỷ mác, tăng lên gần 33% chiếm gần 50% ngân sách quốc gia. Quân số lên tới
136.000 người năm 1912 với 232 tàu chiến các loại. Lò lửa chiến tranh đang được
nhen nhúm ở Đức, đẩy nhân loại vào cuộc chiến tranh tàn khốc.
5. CÁC NƯỚC KHÁC Ở CHÂU ÂU 1870-1914
Ý, Áo-Hung, Nga là những nước đế quốc yếu hơn Anh, Pháp, Đức cũng có những
bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế và chuyển biến sang giai đoạn độc quyền. Các nước
này cũng tham gia tích cực vào những cuộc chiến tranh nhằm phân chia thế giới, đàn áp
các phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa. Tuy vậy, hầu
hết các nước này đều ít nhiều lệ thuộc vào các cường quốc nói trên.
6. NƯỚC MỸ 1870-1914
6.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ
6.1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1870-1900
- Những điều kiện thuận lợi cơ bản :
Sau cuộc nội chiến 1861-1865, giai cấp tư sản Mỹ thống nhất thành một lực
lượng chính trị hùng hậu trong đó đại tư sản công thương nghiệp miền Bắc
chiếm ưu thế so với đại địa chủ tư sản hoá miền Nam.
Chính phủ Mỹ đã đề ra những biện pháp quan trọng để thúc đẩy kinh tế tư bản
chủ nghĩa phát triển : ổn định lại chế độ tiền tệ (năm 1875, huỷ bỏ chế độ tiền
giấy và quy định chế độ bản vị vàng cho đồng dollar, tiến hành trả công trái
bằng tiền mặt ); điều chỉnh chế độ thuế khoá (năm 1872, giảm 10% thuế quan;
tháng 10-1890, Tổng thống Mc Killey ban hành đạo luật hạ mức thuế đồng loạt
ngô tăng 3,5 lần, kiều mạch tăng 5,5 lần; hàng nông phẩm xuất khẩu tăng lên nhanh
chóng : 9/10 bông, ¼ lúa mạch thế giới, giá trị xuất khẩu tăng từ 250 triệu dollar lên
tới 950 triệu dollar. Nhiều biện pháp kỹ thuật như cơ giới hoá triệt để, phân bón,
thuốc trừ sâu, giống cây trồng cũng như chuyên môn hóa, thương phẩm hoá, sử
dụng lao động làm thuê được áp dụng phổ biến.
- Thương nghiệp Mỹ cũng rất phát triển dựa trên một thị trường nội địa thống nhất và
một thị trường thế giới rộng mở.
- Mặc dù nền kinh tế Mỹ rất phát triển nhưng nạn khủng hoảng vẫn thường xuyên xảy
ra. Hàng loạt các xí nghiệp bị phá sản đẩy nhanh quá trình tập trung sản xuất và tư
bản, hình thành các tổ chức lũng đoạn. Cuối thế kỷ XIX, hai tổ chức độc quyền lớn
là Rốccơphenlơ ( Rockerffeller ) và Moócgan ( Morgan ) khống chế hầu như toàn
bộ nền tài chính nước Mỹ, bước đầu lũng đoạn nền kinh tế và chính trị Mỹ.
6.1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ MỸ 1900-1914
- Công nghiệp Mỹ tiếp tục có những bước tiến mạnh mẽ khẳng định địa vị bá chủ thế
giới. Năm 1913, sản lượng gang thép vượt Đức 2 lần, Anh 4 lần; than gấp 2 lần Anh
và Pháp cộng lại. Thương nghiệp phát triển, năm 1900, tổng kim ngạch ngoại
thương đạt 2,7 tỷ dollar thì đến 1914 tăng lên đến 5,5 tỷ dollar. Các ngành khác đều
có tốc độ tăng trưởng vượt bậc tạo ra một nguồn của cải khổng lồ cho tư bản Mỹ.
- Quá trình tập trung sản xuất và tư bản được đẩy mạnh trên quy mô lớn, tiếp tục hình
thành các tổ chức độc quyền trong tất cả các ngành. Sự tập trung đó không chỉ diễn
ra theo chiều ngang (cùng sản xuất một mặt hàng) mà còn theo chiều dọc (từng công
đoạn trong quá trình chế tạo sản phẩm). Năm 1910, khoảng 1% số xí nghiệp sản
xuất gần ½ tổng sản lượng công nghiệp trong nước. Các tơrớt nắm độc quyền sản
xuất từng ngành trên phạm vị cả nước và có ý nghĩa khu vực, quốc tế.
Tơrớt dầu lửa của tập đoàn Rốccơphenlơ có số vốn hàng tỷ dollar, có 7 vạn
km đường ống dẫn dầu, hàng trăm tàu biển, kho hàng, giếng khoan, nhà máy, kiểm
soát tới 90% ngành này. Nó còn thông qua hệ thống ngân hàng để chi phối hoạt
động của nhiều công ty thuộc các lĩnh vực khác nhau.
“Công ty thép Mỹ” (United States Steel Corporation) do tập đoàn tài chính
Moócgan thành lập năm 1901 với số vốn ban đầu gần 7 tỷ dollar, sử dụng hơn 20
1884, Đảng Cộng hoà nắm quyền, sau đó là Đảng Dân chủ mà thực chất là do tập
đoàn Morgan điều khiển.
- Chính sách đàn áp người da đen và phong trào đấu tranh của họ. Sau khi cuộc nội
chiến chấm dứt, người da đen được một số quyền lợi chính trị cơ bản như : quyền
bầu cử và tham gia các cấp chính quyền, dân chủ hoá chính quyền địa phương.
Nhưng khi quyền lực đã vững vàng, giai cấp tư sản liền phản bội quần chúng nhân
dân. Năm 1872, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật khôi phục quyền lợi của chủ nô và
lập lại ách áp bức đối với người da đen. Năm 1881, đạo luật cấm người da đen tới
những khu vực của người da trắng. Chính phủ Mỹ còn làm ngơ trước những hành
động tàn ác của Đảng 3K (Klu-Klux-Klan, thành lập năm 1866 tại bang Tennessee).
Chính sách đàn áp dã man đối với người da đen thể hiện tính chất bất công, vô
nhân đạo của nền chính trị tư sản Mỹ cuối thế kỷ XIX. Nhiều phong trào đấu tranh
của người da đen đã diễn ra. Oazingtơn (Wazington) là một đại biểu cho những
người da đen đòi giải phóng nhưng chỉ đề cao biện pháp đấu tranh cải luơng là tự
nâng cao đời sống kinh tế và nhận thức xã hội. Uyliam Đuyboa (William Dubour)
khởi xướng phong trào Niagara đòi chấm dứt sự phân biệt đối xử với người da đen,
đến năm 1910, phong trào gia nhập “Hội giúp người da đen tiến bộ toàn quốc”. Đây
là một tổ chức tập hợp cả người da trắng, chủ trương đấu tranh cho sự bình đẳng về
chủng tộc, pháp luật, kinh tế, xã hội và công đoàn. Tuy vậy, do nhận thức về vai trò
và nhiệm vụ còn nhiều hạn chế nên phong trào đấu tranh của họ thiếu liên hệ với
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 24
phong trào công nhân, nông dân và ngược lại. Cuộc đấu tranh của người da đen còn
phải tiếp tục trong những thời kỳ tiếp nối.
- Phong trào công nhân và xã hội chủ nghĩa Mỹ có những đặc điểm riêng biệt: sự
không ổn định về số lượng, thành phần phức tạp về chủng tộc, dân tộc, tôn giáo,
ngôn ngữ, trình độ tay nghề khác nhau, chịu tác động của nhiều trào lưu tư tưởng
khác nhau Chính những đặc điểm này đã hạn chế phong trào công nhân Mỹ. Giai
cấp tư sản đã triệt để lợi dụng và tạo ra sự chia rẽ để thống trị.
Phong trào đấu tranh của công nhân Mỹ chịu sự chi phối của các tổ chức : Đảng
Trung Quốc. Năm 1898, Mỹ gây chiến tranh với Tây Ban Nha và giành được quyền
thống trị ở Philíppin, Puerto Rico, Guyam và được quyền bảo hộ Cuba; đổi lại, Mỹ
phải trả cho Tây Ban Nha 20 triệu dollar. Trong chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905),
Mỹ giúp Nhật đánh bại Nga để hạn chế quyền lợi của Nga tại viễn Đông.
Đối với Mỹ Latin, thông qua học thuyết về “chủ nghĩa liên Mỹ”, chính sách
“cái gậy lớn”, “chính sách ngoại giao đồng dollar”, Mỹ ngăn chặn sự xâm nhập của
các nước tư bản châu Âu và độc chiếm Nam Mỹ. Mỹ sát nhập Hawai thành một bộ
phận của Hợp chúng quốc; mua lại cổ phần công ty Panama của Pháp và tách
Panama ra khỏi Colombia (1903) để độc chiếm vị trí chiến lược này; chi phối về
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử
Đề cương bài giảng Lịch sử thế giới cận đại 25
chính trị và kinh tế các nước Mỹ Latinh; San Domingo, Mexico, Nicaragoa,
Goatemana, Costa-Rica
Như vậy, bằng đại bác và dollar, Mỹ đã từng bước xác lập quyền thống trị ở
Tây Bán Cầu và xây dựng được nhiều căn cứ hải quân quan trọng ở Thái Bình
Dương làm cầu nối tiến sang châu Á. Năm 1917, Mỹ tham gia chiến tranh thế giới
thứ nhất.
Th.s. Bùi Văn Hùng Khoa Lịch Sử