TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
GIÁO TRÌNH
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG LỊCH SỬ
THẾ GIỚI CẬN ĐẠI
(PHẦN PHƯ
NG
2002
ƠNG TÂY) UYỄN CÔNG CHẤT
Lòch sử thế giới cận đại - 2 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
III. NƯỚC MỸ SAU CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP 18
IV. KẾT LUẬN 18
CHƯƠNG IV : CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP 20
I. TÌNH HÌNH NƯỚC PHÁP TRƯỚC CUỘC CÁCH MẠNG. 20
1. Chế độ quân chủ chuyên chế và đẳng cấp trong xã hội phong kiến Pháp. 20
2. Sự phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghóa và những trở lực của nó. 20
3. Trào lưu tư tưởng “Ánh sáng”. 20
II. QUÁ TRÌNH DIỄN TIẾN CỦA CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP 21
1. Giai đoạn 1 của cuộc cách mạng 21
2. Giai đoạn 2 của cuộc cách mạng 23
3. Giai đoạn thứ 3 của cuộc cách mạng 25
III. TÍNH CHẤT VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 27
CHƯƠNG V : CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN CHÂU ÂU TỪ 1815 ĐẾN
1848.
29
Lòch sử thế giới cận đại - 3 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
31
CH
32
III
V
VI
CHƯ
I.
III. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
KHÔNG TƯỞNG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX.
LỜI NÓI ĐẦ U
Theo sự phân kỳ chung của lòch sử thế giới, thời kỳ cận đại được bắt đầu từ cuộc cách mạng tư
sản Anh và kết thúc bởi cuộc cách mạng xã hội chủ nghóa tháng Mười Nga (1640 – 1917)
Nội dung cơ bản của thời kỳ lòch sử cận đại là sự chuyển biến từ chế độ phong kiến sang chế độ
tư bản chủ nghóa, sự xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghóa trên phạm vi toàn thế giới.
Trong đề cương bài giảng lòch sử thế giới cận đại phương Tây, chúng tôi trình bày giai đoạn lòch
sử từ cách mạng tư sản Anh đến trước chiến tranh Pháp – Phổ (1640 – 1870) bao gồm những nội dung
chính sau đây:
- Sự ra đời và sự xác lập của chủ nghóa tư bản nhờ kết quả của các cuộc cách mạng tư sản điển
hình ở châu Âu và Bắc Mỹ; cuộc cách mạng công nghiệp và quá trình phát triển của kinh tế tư
bản chủ nghóa; cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến phản động, phương thức sản xuất tư bản
chủ nghóa dần dần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thế giới, giai cấp tư sản trở thành giai
cấp thống trò, những mâu thuẩn cơ bản của xã hội tư sản bắt đầu bộc lộ.
- Sự ra đời và bước đầu phát triển của phong trào công nhân với sự xuất hiện của giai cấp vô sản
công nghiệp và sự hình thành học thuyết về chủ nghóa xã hội
- Sự ra đời và bước đấu phát triển của phong trào công nhân và sự xuất hiện của giai cấp vô sản
công nghiệp và sự hình thành học thuyết về chủ nghóa xã hội khoa học. Giai cấp công nhân tiến
hành cuộc đấu tranh cách mạng chống chủ nghóa tư bản đồng thời với cuộc đất tranh ý thức hệ
chống các “luận thuyết chủ nghóa xã hội phi vô sản”, thành lập Quốc tế thứ nhất – tổ chức đấu
tiên của giai cấp công nhân trên thế giới.
Đề cương bài giảng Lòch sử thế giới cận đại phương Tây cố gắng phản ánh những nội dung theo
tinh thần tinh giản, trình bày các sự kiện lòch sử một cách chọn lọc, có hệ thống, phân tích các vấn đề lòch
sử trên quan điểm Marx – lénine.
Mục đích của đề cương bài giảng là phục vụ việc học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành lòch
sử cũng như các ngành xã hội khác có liên quan.
Mặc dù có rất nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn đề cương bài giảng lòch sử thế giới cận đại
phương Tây còn nhiều khuyết thiếu. Chúng tôi mong được ý kiến đóng góp của những ai quan tâm.
Đà lạt, tháng 4 năm 2002
Tác giả.
được hình thành và ngày càng tỏ ra chiếm ưu thế trong đời sống sinh hoạt kinh tế – xã hội Anh quốc.
Công trường thủ công – hình thức sản xuất mang tính chất tư bản chủ nghóa đầu tiên trong lónh vực
công nghiệp dần dần chiếm ưu thế so với thủ công nghiệp “phường hội”. Xét về quan hệ kinh tế, hệ
thống công trường thủ công đã vượt qua thủ công nghiệp phường hội trung đại: Chủ nghóa tư bản công
trường thủ công đã tạo nên sự phát triển của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh hơn nữa sự tan rã của
chế độ phong kiến. Marx cho rằng “đó là nhân tố quan trọng bào mòn và làm cho chế độ phong kiến
tự giải thể”.
Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống công trường thủ công tư bản chủ nghóa, nền
thương nghiệp Anh Quốc cũng đạt được những thành tựu to lớn. Trên cơ sở thương nghiệp “hình tam
giác”, thương nhân Anh đã bành trướng thế lực thành lập nên những công ty thương mại gây ảnh
hưởng rộng lớn từ Ban tích đến Châu Phi, từ Trung Quốc đến Châu Mỹ, nhằm “quốc tế hóa thò trường
khu vực và thò trường thế giới”. Thò trường dân tộc dần dần được hình thành và các cơ sở kinh doanh
của người nước ngoài cũng dần dần suy sụp. Những công ty nổi tiếng như công ty Châu Phi, công ty
Phương Đông, công ty Đông n v.v… đã cạnh tranh mạnh mẽ với thương nhân các nước khác như Hà
Lan, Pháp. Đến giữa thế kỷ XVII, sản xuất hàng hóa, trao đổi hàng hóa mậu dòch không ngừng phát
triển, trong đó có mậu dòch hàng hải. Thủ đô Luân Đôn trở thành trung tâm tài chính, thương mại sầm
uất và nhộn nhòp nhất châu u. Nhiều thành phố lớn được mọc lên. Trong các thành thò này đã diễn ra
sự phân công lao động giữa lao động thương nghiệp với lao động công nghiệp. Các khu vực mậu
dòch, các liên minh thương nghiệp xuất hiện tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình ra đời của các
ngân hành Anh Quốc.
Lòch sử thế giới cận đại - 6 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
Cùng với sự phát triển của các ngành công thương nghiệp và sự xuất hiện của các trung tâm
tài chính, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghóa cũng thâm nhập ngày càng lớn vào trong nông thôn nước
Anh. Có một số đòa chủ không thỏa mãn với nguồn đòa tô thu được của nông dân nên đều chuyển đổi
“phương thức khai thác ruộng đất truyền thống” bằng cách tiến hành cướp đoạt ruộng đất của nông
dân, rào đất công xã để lập nên những đồng cỏ lớn chăn nuôi cừu, hoặc cho những nhà tư sản thuê
đảo quần chúng nhân dân: Nông dân, thợ thủ công, tầng lớp vô sản tiền công nghiệp tích cực đấu
tranh thúc đẩy nhanh chóng sự chín muồi của cuộc cách mạng và quyết đònh thắng lợi của cách mạng
tư sản.
Lòch sử thế giới cận đại - 7 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
3. Tiền đề tư tưởng
Cùng với sự phát triển của mầm mống kinh tế tư bản chủ nghóa, sự thay đổi về kết câu giai
cấp, tư tưởng tư sản dần dần hình thành và lớn mạnh trong lòng xã hội phong kiến. Trong bối cảnh
“thời đại và thời đoạn” ở khu vực châu u và Anh quốc. Trong hoàn cảnh cấu trúc chính trò – tôn giáo
“vương quyền kết hợp với thần quyền” ở nước Anh, thì ngọn cờ tư tưởng của cuộc cách mạng tư sản
Anh buộc phải khoác bộ áo “ Tôn giáo trong sạch” – Thanh giáo mà giáo lý của nó chính là chủ
nghóa của Calvin (Jeans) – biểu hiện những yêu cầu cấp tiến nhất của giai cấp tư sản. Do vậy cuộc
đấu tranh giữa Thanh giáo và Anh giáo thực chất nó phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng
tư sản và phong kiến, cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Anh, khi mà chế độ phong kiến đang suy
tàn và chủ nghóa tư bản đang vươn lên.
Trên cơ sở của Thanh giáo, những lý luận về tổ chức thể chế chính trò và nhà nước tư sản mới
cũng được hình thành. Tư tưởng của cuộc cách mạng đã được lồng ghép trong “công ước xã hội” của
những đại biểu cấp tiến như John Milton, John Ponetle… mà nội dung chủ yếu là uyên truyền cho một
xã hội “hoàn toàn bình đẳng” bên cạnh học thuyết “đònh mệnh” chống lại trật tự xã hội cũ nhưng
không phải giải phóng toàn bộ con người. Mưu cầu lợi ích cho một giai cấp (giai cấp tư sản) chứ
không phải giải phóng toàn thể xã hội.
Trong khi những nhân tố mới (nhân tố tư bản chủ nghóa) đã được hình thành và phát triển
mạnh mẽ trong lòng chế độ phong kiến, thì chế độ quân chủ chuyên chế ở nước Anh trên con đường
suy tán đã lâm vào tình trạng “khủng hoảng trật tự xã hội cũ”. Vương triều Stuards – đứng đầu là
Charles I, đã gia tăng những chính sách kinh tế – xã hội phản động chống lại gai cấp tư sản và quý
tộc mới, đi ngược lại với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Bất chấp khác
vọng của giai cấp tư sản muốn tự do kinh doanh, tự do tư hữu, nhà nước phong kiến đã thi hành chính
– 8 – 1642 Charles I chính thức tuyên chiến.
Nội chiến xảy ra ở nước Anh là một cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt và phức tạp
giữa thế lực phong kiến phản động và thế lực tư sản tiến bộ cùng đông đảo quần chúng nhân dân. Giai
cấp tư sản và quý tộc mới, cùng những tín đồ tôn giáo “trong sạch” tập hợp dưới ngọn cờ Thanh giáo
của phái Trưởng lão, còn phe nhà vua tập hợp dưới ngọn cờ Anh giáo.
Trong giai đoạn đầu 1642 đến mùa hè 1644, quân nghò viện liên tiếp bò thất bại, thế chủ động
hoàn toàn nằm trong tay quân nhà vua. Sở dó có hiện trạng đó là do quân nhà vua thiện chiến hơn,
mặt khác quân nghò viện do phái Trưởng lão lãnh đạo có tư tưởng thỏa hiệp, coi chiến tranh chỉ là
phương tiện buộc nhà vua phải nhượng bộ một số quyền lợi cho họ. Engels đã nhận xét rằng: Thời
đoạn này phe nghò viện mặc dầu được nhân dân ủng hộ nhưng liên tục gặt hái những thất bại: một
phần do trang bò kỷ thuật yếu; phần lớn do chỉ huy bảo thủ, nửa muốn đánh, nửa muốn thỏa hiệp.
Đứng trước tình hình đó Olivier Cromwell (1599 – 1658) lãnh tụ xuất sắc của phái Độc lập đã
lợi dụng “nhiệt tình cách mạng” của quần chúng đứng ra tổ chức các đội dân binh, ép nghò viện thông
qua “đạo luật tự rút lui”, cải tổ lại quân đội. Những động thái tích cực của Cromwell đã làm thay đổi
căn bản thành phần và tính chất quân đội cách mạng, mở ra một khả năng giành thắng lợi và đẩy cuộc
cách mạng sang một giai đoạn mới:
Từ mùa hè 1644 đến 1646, thế chủ động quân sự hoàn toàn chuyển về phe nghò viện. Ngày 14 – 6 –
1645, tại chiến trận Nezblie, quân đội dưới sự chỉ huy của Cromwell đã giành được thắng lợi lớn. Kết quả
có 5000 lính bò bắt làm tù binh, toàn bộ trang thiết bò quân sự và giấy tờ của nhà vua, trong đó có cả thư
cầu viện của các nước phong kiến châu u đều rơi vào tay quốc hội. Nhà vua phải bỏ chạy thoát thân
sang Scotlande cầu cứu, nhưng bò người Scotlande bắt đem nộp cho nghò viện để lấy tiền thưởng.
Như vậy sau gần 4 năm, cuộc nội chiến ở Anh tạm thời kết thúc. Nếu trong thời kỳ nội chiến, phái
Trưởng lão, Độc lập và quần chúng nhân dân đều đứng về một phía chống kẻ thù chung là nhà vua và
quý tộc phong kiến, thì sau khi nội chiến lần 1 đi vào thế “vãn hồi”, trong hàng ngũ “những người cách
mạng” đã bò phân hóa và quần chúng nhân dân đã bò những kẻ “nhân danh cách mạng” phản bội lại.
Lòch sử thế giới cận đại - 9 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
Việc xử tử Charles I đã đánh dấu một bước tiến mới của cuộc cách mạng. Ngày 19 – 5 –
1649, dưới áp lực của phong trào quần chúng nền cộng hòa đầu tiên được chính thức được tuyên bố
dưới sự lãnh đạo của Cromwell song thực chất đó là nền chuyên chính của giai cấp tư sản nằm trong
tay của phái Độc lập do Cromwell và các tướng lónh cao cấp đứng đầu.
Ngoài lời tuyên bố cộng hòa, không một yêu sách nào trong “bản thỏa ước nhân dân” được
thực hiện như lời hứa của phái độc lập trong thời kỳ nội chiến lần hai. Vì vậy phong trào đấu tranh
chống lại “nền cộng hòa ngụy tạo” lại rộ lên. Bên cạnh phong trào đấu tranh của những người San
bằng, thì mùa xuân 1649, ở nước Anh đã xuất hiện phong trào dân chủ khác của những người nông
Lòch sử thế giới cận đại - 10 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
dân nghèo được gọi là “phong trào Đào đất” do Winsteley (1609 -1657 ) lãnh đạo. Phong trào này
chủ trương công hữu hóa ruộng đất, thủ tiêu hoàn toàn chế độ tư hữu và tình trạng người bóc lột
người. Trong điều kiện lòch sử lúc đó, tư tưởng của phái Đào đất là tư tưởng tiến bộ, mang tính chất xã
hội chủ nghóa nhưng còn ở mức độ không tưởng và ấu tró. Nó thể hiện quan niệm bình quân tuyệt đối
của giai cấp nông dân. Đấu tranh giai cấp không được coi là động lực phát triển của xã hội. Phương
pháp đấu tranh hòa bình là hạt nhân cơ bản trong tư tưởng và luận thuyết của những người Đào đất.
Mặc dầu phong trào có tính chất hòa bình nhưng cương lónh cách mạng của họ đe dọa đến nguyên tắc
của chế độ tư hữu, làm cho giai cấp tư sản lo ngại. Ngay cả Jonh Linbet đứng đầu phái San bằng cũng
đoạn tuyệt với họ.
Cromwell đã đáp lại nguyện vọng của quần chúng bằng cách sử dụng lực lượng quân đội đàn
áp và tiêu diệt phái San bằng và phái Đào đất. Thành công của Cromwell và phái Độc lập đã phơi
bày bản chất phản bội của giai cấp tư sản, và dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là làm thu hẹp cơ sở xã
hội của nền cộng hòa, đẩy nền cộng hòa đến chỗ tan vỡ nhanh chóng.
Sau khi trấn áp những phong trào dân chủ chính ở nước Anh, Cromwell tái tiến hành cuộc
chiến tranh xâm lược Irelande (8 – 1649) và Scotlande (1650) và phát động chiến tranh Anh – Hà
(1651 – 1652). Các cuộc chiến tranh này đã nhanh chóng thu được thắng lợi. Quyền tự trò của
Irelande và Scotlande bò thủ tiêu và Hà Lan cũng buộc phải thừa nhận “luật hàng hải” (1651). Nền
2-Do những điều kiện lòch sử, tiền đề chính trò, kinh tế – xã hội của cuộc cách mạng, cách mạng tư
sản Anh được diễn ra dưới hình thức tôn giáo và khác với những cuộc cách mạng tư sản khác thời cận đại,
cách mạng tư sản Anh được tiến hành dưới sự lãnh đạo của một liên minh giai cấp giữa giai cấp tư sản và
tầng lớp quý tộc mới. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tính chất bảo thủ của cuộc
cách mạng. Tính bảo thủ đó được thể hiện sự giải quyết không triệt để vấn đề ruộng đất cho người nông
dân và sự nhân nhượng của giai cấp tư sản đối với bọn quý tộc phong kiến để thiết lập nên chế độ quân
chủ lập hiến thay cho nền cộng hòa tư sản.
3-Thực tế diễn biến của cuộc cách mạng tư sản Anh đã nêu lên một số vấn đề về mối quan hệ giữa giai
cấp tư sản và quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng. Quần chúng nhân dân là động lực thúc đẩy và
đưa cách mạng đến thắng lợi. Nhưng do chưa có tổ chức vững chắc, chưa có đường lối đúng đắn nên
thành quả của cuộc cách mạng đã nằm trọn trong tay giai cấp tư sản. Vì quyền lợi giai cấp hẹp hòi, giai
cấp tư sản Anh đã không đưa cách mạng tiến xa hơn nữa, chúng phản bội lại quần chúng nhân dân và tìm
mọi cách làm ngưng trệ, dừng lại nửa đường cuộc cách mạng.
Lòch sử thế giới cận đại - 12 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
CHƯƠNG II : CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở ANH THẾ KỶ XVIII.
I. CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LÀ MỘT HIỆN TƯNG MANG TÍNH CHẤT
LỊCH SỬ CHUNG
Thuật ngữ cách mạng công nghiệp được dùng lần đầu tiên trong tác phẩm “tình cảnh của giai cấp
công nhân Anh” của Engels viết năm 1845. Từ đó các nhà kinh điển của chủ nghóa Marx và các sử gia
đều dùng nó để chỉ bước quá độ của chủ nghóa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên một bước cao
hơn – giai đoạn công nghiệp tư bản chủ nghóa.
Thực chất của cuộc cách mạng không phải là hiện tượng kỹ thuật thuần túy. Cuộc cách mạng đó mang
tính chất kinh tế – xã hội, các tiền đề nảy sinh và chiến thắng của hệ thống công xưởng được tạo ra
không chỉ riêng ở nước Anh mà được lan rộng ra trên toàn thế giới.
Do điều kiện kinh tế chính trò ở các nước khác nhau (thậm chí ở các ngành khác nhau trong một
quốc gia) nên tiến trình ở cách mạng công nghiệp nổ ra không những đều ở các nước khác nhau và các
tích lũy tư bản cho cuộc cách mạng công nghiệp.
- Nửa đầu thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản Anh đã tiến hành cuộc cách mạng nông nghiệp: Nội dung
cơ bản của cuộc cách mạng nông nghiệp Anh là sử dụng bạo lực để tước đoạt ruộng đất của nông
dân, tiến hành kinh tế nông nghiệp phong kiến chuyển thành nền kinh tế nông nghiệp tư bản chủ
nghóa, đồng thời nó cũng tạo ra một thò trường hàng hóa sức lao động bò cuốn hút vào guồng máy
sản xuất công xưởng tư bản chủ nghóa.
- Việc cướp bóc thuộc đòa với quy mô lớn một cách trắng trợn và tàn bạo, đã tích lũy được nhiều
vốn phục vụ cho sự phát triển của ngành công nghiệp nước Anh là một yếu tố rất quan trọng trong
chu trình “tích lũy vốn để tiến hành cách mạng công nghiệp”. Ngoài ra nước Anh còn có nhiều
điều kiện thuận lợi khác cho sự phát triển công nghiệp như: có nhiều thương cảng tốt, có thò trường
tiêu thụ hàng hóa rộng lớn.v.v…
2. Quá trình thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh.
- Quá trình chủ yếu của cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh là phát minh sáng chế ra máy
móc. Vì thế, quá trình cách mạng công nghiệp ở nước Anh và các nước tư bản khác được bắt đầu
từ công nghiệp nhẹ đến các ngành công nghiệp nặng (vốn đều tư cho công nghiệp nhẹ không
nhiều; quay vòng sản xuất nhanh chóng và thu hồi vốn nhanh, lãi nhiều)
- Bước đầu của cuộc cách mạng công nghiệp chính là sự chuyển biến từ công trường thủ công đến
sản xuất cơ khí. Là sự bùng nổ các phát minh kỹ thuật trong dây chuyền sản xuất bắt đầu từ ngành
dệt và sau đó lan rộng ra các ngành công nghiệp khác.
THOI BAY Ỉ MÁY KÉO SI Ỉ MÁY SỨC NƯỚC Ỉ MÁY HƠI NƯỚC
(Jonh Keys -1763) (Jems Hacreve-1765) (Acreite-1769) (Jems Watt-1784)
- Việc hoàn thiện và sử dụng máy hơi nước của Jens Watt (1784) sau đó lan rộng ra các ngành
luyện kim và chế tạo cơ khí, được coi là mở đầu của quá trình cơ khí hóa hay còn gọi là khởi đều
cuộc cách mạng công nghiệp.
III. NHẬN XÉT.
- Cách mạng công nghiệp tạo ra máy móc thay cho công lao động thủ công, công xưởng thay cho
công trường thủ công, làm cho lực lượng sản xuất có những bước phát triển nhảy vọt; do vậy quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghóa được xác lập vững chắc. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghóa đã
thực sự chiến thắng phương thức sản xuất phong kiến.
- Cách mạng công nghiệp diễn ra gắn liền với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật. Nhờ những tiến
quả. Đến năm 1752, Anh quốc đã thiết lập được 13 vùng thuộc đòa lớn ở Bắc Mỹ.
Sau khi lũng đoạn được vùng Bắc Mỹ, nước Anh đã gia tăng chế độ cai trò chuyên chế đối với
“vùng đất thực dân” nhằm mục đích cản trở sự phát triển của chủ nghóa tư bản ở các thuộc đòa, buộc
các thuộc đòa phải lệ thuộc vào Anh quốc bằng cách thiết lập nên tổ chức chính trò – hành chính thực
dân, coi các thuộc đòa như vùng “nông nghiệp phụ thuộc vào thành thò” Anh quốc. Những chính sách
kinh tế – xã hội mà Anh quốc áp dụng vào vùng đất thực dân Bắc Mỹ đã gây lên những phong trào
phản kháng mạnh mẽ của tất cả các tầng lớp cư dân Bắc Mỹ. Đó chính là tiền đề cần thiết cho
khuynh hướng phát triển thành một dân tộc và bùng nổ một cuộc cách mạng tư sản.
2. Nền kinh tế của “đất thực dân” và ngọn cờ tư tưởng cách mạng.
Cần phải khảng đònh ràng Hợp chủng quốc Hoa kỳ là một quốc gia đặc biệt, ra đời trên nền
tảng 13 bang thuộc đòa của Anh ở khu vực Bắc Mỹ, và thừa hưởng “cái chế độ kinh tế của nó” và di
sản thực dân mà Hợp chủng quốc nhận được đã quyết đònh nhiều đặc trưng của chủ nghóa tư bản Mỹ.
V.I. Lê-Nin vạch ra đặc trưng của dạng này bằng cách nêu lên con đường kiểu Mỹ, hay con đường
trang trại của sự phát triển chủ nghóa tư bản trong nông nghiệp và dạng tiến hóa độc đáo của nền
nông nghiệp ở miền Nam “chế độ nô lệ đồn điền là đặc trưng của lối sống Mỹ trong nhiều thế kỷ”.
Tuy nhiên việc tập trung ruộng đất quá lớn trong tay quý tộc và lối bóc lột phong kiến cùng với sự bóc
lột kiểu nông nô – nô lệ, và những sắc lệnh của vua Anh cấm dân di thực đi về phía Tây của những
người Squatter đã làm cho cuộc đấu tranh giai cấp giữa tầng lớp Farmes đang hình thành với chế độ
phong kiến Bắc Mỹ (con đẻ của chủ nghóa thực dân) và chính quốc (nước Anh) ngày càng sâu sắc. Đó
chính là một trong những cơ sở cho sự ra đời của chủ nghóa dân chủ trong cách mạng tư sản Mỹ.
Cũng ngay từ thế kỷ VII, trên các đất thực dân ở Bắc Mỹ, những nhân tố mới – nhân tố kinh
tế tư bản chủ nghóa đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong các ngành kinh tế công – thương nghiệp.
Nhưng công thương nghiệp thuộc đòa đã không tránh khỏi mâu thuẩn với chính quốc. Chủ nghóa trọng
Lòch sử thế giới cận đại - 16 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
thương cực đoan của Anh đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp Bắc Mỹ. Những
chính sách kinh tế xuất phát từ chủ nghóa trọng thương cực đoan đó đã dẫn đến mâu thuẩn không thể
Hội nghò đã ra bản “Tuyên ngôn về quyền hạn và khiếu nại”. Tuyên ngôn đòi xóa bỏ những
đạo luật vô lý của Anh quốc đối với thuộc đòa; trả lại quyền thu thuế cho thuộc đòa và quyết đònh tẩy
chay hàng Anh trong tất cả các bang.
Lòch sử thế giới cận đại - 17 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
Hội nghò lục đòa lần I như một biểu tượng độc lập và thống nhất của các thuộc đòa trong cuộc
đấu tranh vì mục đích chung. Quốc hội Anh không những không đáp ứng yêu cầu nào của “Tuyên
ngôn về quyền hạn và khiếu nại” mà còn gia tăng những biện pháp “trừng phạt về kinh tế”, “đàn áp
bằng quân sự”. Những động thái này của Anh quốc đã dẫn đến cuộc xung đột vũ trang ở Côn-cóoc và
khởi đầu một cuộc chiến tranh giữa Anh quốc với 13 bang thuộc đòa đòa ở Bắng Mỹ.
Hội nghò lục đòa lần II vào tháng 5 – 1775 nhằm mục đích giải quyết những vấn đế cụ thể của
chiến tranh. Hội nghò đã quyết đònh thành lập Quân đội lục đòa, bổ nhiện Washington làm tổng chỉ
huy.
Ngày 4/7/1776, sau hơn một năm chuẩn bò, Hội nghò lục đòa đã thông qua “Tuyên ngôn độc
lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ” với những nội dung cơ bản là tuyên bố các quyền tự do dân chủ tư
sản và khẳng đònh nền độc lập của các bang ở Bắc Mỹ. Bản tuyên ngôn nêu rõ “Tất cả mọi người sinh
ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không thể tước bỏ. Trong những quyền
ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Tuyên ngôn khẳng đònh chỉ có nhân dân mới có quyền thiết lập chính quyền, và huỷ bỏ chính
quyền khi nó đi ngược lại với lợi ích của quần chúng. Tuyên ngôn đã lên án vua Anh và long trọng
tuyên bố quyền độc lập của các quốc gia, quyền gia nhập liên minh buôn bán, ký kết hiệp ước.
Tuyên ngôn là văn kiện có tính chất dân chủ tự do, thấm nhuần tinh thần tiến bộ thời đại. Tuy
nhiên, tuyên ngôn cũng không tránh khỏi những hạn chế đó là không có những điều khoản thủ tiêu
chế độ nô lệ, không nghiêm cấm chế độ buôn bán nô lệ.
Trên chiến trường từ cuối tháng 6/1775 đến tháng 9/1777 Quân đội lục đòa liên tiếp bò thất bại
trước sự phản công quyết liệt của quân Anh.
Ngày 17/10/1777 Quân đội lục đòa đã giành thắng lợi lớn, đánh bại quân Anh tại chiến trận
sự lũng đoạn của Anh trên lónh vực kinh tế bàng các biện pháp như tiến hành tướt đoạt ruộng đất của bọn
bảo hoàng; phát hành tiền giấy; lập hệ thống ngân hàng liên bang khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi cho các ngành công nghiệp phát triển…
- Để xây dựng chính quyền liên bang vững mạnh, phát triển kinh tế, ngăn chặn phong trào dân chủ,
bảo đảm quyền lợi của giai cấp tư sản. Hội nghò liên bang tháng 5 – 1787, đã đưa ra 19 dự thảo hiến pháp
với những nội dung cơ bản sau đây:
Nguyên tắc tổ chức chính quyền là sự phân cấp ba quyền: quyền lập pháp nằm trong tay ghò viện,
quyền hành pháp nằm trong tay tổng thống và quyền tư pháp được trao cho tào án.
- Những người nô lệ da đen, phụ nữ không có quyền bầu cử và ứng cử.
Hiến pháp 1787, là một bản hiến pháp tiến bộ vì nó góp phần xóa bỏ những quan hệ phong
kiến, mở đường cho chủ nghóa tư bản phát triển. Nhưng đối với nhân dân thì đó là sự tuyên bố bản
chất chuyên chính của nền chính trò giai cấp tư sản Mỹ nhằm phục vụ cho giai cấp có của chống lại
quần chúng nhân dân lao động.
IV. KẾT LUẬN.
-Cuộc cách mạng tư sản Mỹ là một cuộc cách mạng được diễn ra dưới hình thức một cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc. Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế tư bản chủ nghóa, nhiệm vụ của cuộc cách
mạng này là chống ách thống trò của chủ nghóa thực dân Anh, chống phong kiến để xây dựng nên một
quan hệ mới, trật tự xã hội mới. Do vậy nhiệm vụ phản thực phản phong đã trở thành ngọn cờ tập hợp
mọi tầng lớp xã hội ở Bắc Mỹ đoàn kết chiến đấu cho độc lập tự do.
- Với vai trò đại diện cho lực lượng sản xuất mới tiến bộ, giai cấp tư sản Mỹ, tầng lớp điền chủ đã trở
thành một bộ phận những người lãnh đạo cách mạng. Nhưng sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập đã
hoàn thành, giai cấp tư sản đã quay lưng chống lại quần chúng nhân dân lao động. Nông dân, nô lệ, công
Lòch sử thế giới cận đại - 19 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
nhân và cả những trại chủ nghèo: lực lượng tham gia có vai trò quyết đònh cuộc cách mạng đã không
được hưởng một chút quyền lợi gì: ruộng đất vẫn nằm trong tay đại tư bản, đại điền chủ. Chế độ nô lệ vẫn
không bò xóa bỏ. Quyền tuyển cử, bầu cử và tự do xã hội hết sức hạn chế.
trở thành vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng.
Cuối thế kỷ XIII, nền công thương nghiệp Pháp đang trên đà phát triển. Sản lượng công
thương nghiệp đã đóng góp một vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung,
cuối thế kỷ XVIII, các ngành công thương nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, yếu tố kinh tế tư bản chủ
nghóa đã nảy sinh và ngày càng phát triển. Nhưng chế độ phong kiến đã đưa ra những đạo luật khắc
khe gây nên những trở ngại lớn cho sự phát triển của chủ nghóa tư bản. Cho nên xóa bỏ sợi dây ràng
buộc của phong kiến đối với nền công thương nghiệp đã thành một yêu cầu khách quan và tất yếu của
lòch sử.
3. Trào lưu tư tưởng “Ánh sáng”.
Cuối thế kỷ XVIII, nề quân chủ chuyên chế Pháp đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
Mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên gay gắt. Bên cạnh những cuộc nổi dậy đấu tranh của nông dân
và công nhân, là cuộc đất tranh chống phong kiến trên lónh vực tư tưởng. Đó là trào lưu tư tưởng “Áùnh
sáng”. Chuẩn bò về tư tưởng cho một cuộc cách mạng tư sản sắp bùng nổ.
Lòch sử thế giới cận đại - 21 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
Trào lưu tư tưởng “Ánh sáng” bao gồm nhiều khuynh hướng khác nhau với những đại biểu ưu
tú như Jeans Meslié, Monterquieu; Voltaire; Diderot, , Kersle’y, Rouseau.v.v…
Các nhà tư tưởng Pháp, mặc dù có những quan điểm khác nhau, phản ánh những quyền lợi
của giai cấp khác nhau, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến họ đều chóa mũi
nhọn vào chế độ quân chủ chuyên chế và đòi hỏi thay thế bằng một chế độ xã hội mới. Chính vì thế
mà trào lưu tư tưởng tiến bộ và cách mạng đó đã vượt ra khỏi nước Pháp có ảnh hưởng khắp Châu u.
Được “chủ nghóa khai sáng” soi đường, giai cấp tư sản ý thức được lợi ích của giai cấp mình với lợi
ích dân tộc, lãnh đạo toàn dân nổi dậy chống chế độ phong kiến mục nát.
II. QUÁ TRÌNH DIỄN TIẾN CỦA CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP.
Mùa hè 1789, nước Pháp đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc cách mạng tư sản. Quần chúng
nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản đã đứng dậy tiến hành đấu tranh lật đổ nền quân chủ
chuyên chế phong kiến, lập nên chế độ tư bản chủ nghóa. Quá trình đó có thể chia làm 3 giai đoạn:
Trên lónh vực chính trò: ngày 26/8/1789, quốc hội lập hiến đã long trọng thông qua bảng “tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền”.
“Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” bao gồm 17 điều khoản với nội dung chính là nêu lên
quyền bình đẳng tự do con người; khẳng đònh chủ quyền thuộc về nhân dân; bãi bỏ tất cả các quyền lực
của nhà vua cùng chế độ đẳng cấp phong kiến bất bình đẳng; và ban hành các quyền tự do, đồng thời
khẳng đònh quyền sở hữu tài sản tư nhân.
Trong thời kỳ mà nền quân chủ phong kiến còn đang thống trò ở Châu u, những quyền lợi của
con người bò trước đoạt thì bản Tuyên ngôn 1789 đã ít nhiều thể hiện tính chất tiến bộ của cách mạng.
Sau “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789”, năm 1791. Quốc hội lập hiến ban hành hiến
pháp mới. Hiến pháp quy đònh chế độ lập hiến ở nước Pháp. Nhà vua được tuyên bố là người đứng đầu
Nhà nước có quyền phê chuẩn hay bác bỏ đạo luật, bổ nhiệm hay cách chức các bộ trưởng… Hiến pháp
quy đònh chế độ tuyển cử theo công dân làm hai loại: công dân tích cực và công dân tiêu cực tuỳ theo tài
sản của họ: Chỉ có công dân tích cực (gồm giai cấp tư sản và đòa chủ) mới có quyền bầu cử và ứng cử.
Còn công dân tiêu cực (gồm tuyệt đại quần chúng nhân dân lao động thì bò gạt ra khỏi đời sống chính trò
của đất nước. Như vậy hiến pháp 1791 đã vi phạm những nguyên tắc “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” được
nêu ra trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789, đã tước đoạt quyền lợi chính trò của đa số quần
chúng, mà chỉ bảo vệ quyền lợi cho một thiểu số hữu sản trong xã hội.
Trên lónh vực kinh tế:
Về chính sách ruộng đất, quốc hội lập hiến tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn trật tự phong kiến: Những
đặc quyền cơ bản như thuế cens, tô hiện vật, tô lao dòch… chỉ được bãi bỏ khi nông dân có tiền chuộc (gần
20 lần tiền tô phải nộp hàng năm). Ruộng đất của nhà thờ bò tòch thu và bán theo từng ấp trại lớn. Trên
thực tế người nông dân Pháp “không có tiền để được giải phóng”.
Trong chính sách kinh tế công – thương nghiệp, Quốc hội lập hiến quyết đònh bãi bỏ quy chế
phường hội, cho phép tự do buôn bán. Chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư bản chủ
nghóa phát triển.
Từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1970, Quốc hội lập hiến đã tiến hành tổ chức hành chính theo quy
chế mới và can thiệp mạnh mẽ vào giáo hội như: chia thủ đô Paris thành các phân khu; toàn quốc chia
làm 83 quận với cơ cấu thống nhất; xoá bỏ thuế quan nội đòa; buộc giáo hội Pháp phải phục tùng quốc
gia, chuyển quyền quản lý hộ tòch từ nhà thờ về tay Nhà nước… Những biện pháp tích cực đó có một ý
nghóa tiến bộ lớn vì nó đã gạt bỏ được những nhân tố kìm hãm sự phát triển kinh tế của chủ nghóa tư bản,
Nhưng trước thái độ không kiên quyết chống ngoại xâm của một số phần tử trong Quốc hội lập pháp, đêm
ngày 9 rạng sáng ngày 10-8-1972, quần chúng ở thủ đô Paris đã nổi dậy khởi nghóa, giải tán Quốc hội lập
pháp, bắt giam nhà vua Louis XVI. Nước Pháp chuyển sang một giai đoạn cách mạng mới.
2. Giai đoạn 2 của cuộc cách mạng.
a. Sự sụp đổ của nền quân chủ lập hiến và sự thành lập nền cộng hoà
Sau cuộc khởi nghóa vào đêm 9 rạng sáng 10-8-1792 của quần chúng nhân dân Paris, chế độ quân
chủ lập hiến đã sụp đổ hoàn toàn. Một sắc lệnh thành lập “Hiệp hội dân tộc” được thay thế cho Quốc hội
lập pháp được ban bố với chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu cho tất cả nam giới từ 21 tuổi trở lên. Chính
phủ mới được thành lập (gọi là Hội đồng hành pháp lâm thời) gồm phần lớn các bộ trưởng của phái
Girondins.
Lòch sử thế giới cận đại - 24 -
Nguyễn Công Chất Khoa Lòch Sử
Ngày 12-8-1792, 80 vạn quân phổ vượt biên giới tràn vào lãnh thổ Pháp. Các thế lực phản động ở
châu Âu câu kết thành liên minh chống Pháp đã đẩy tình hình nước Pháp đứng trước nguy cơ mất nước.
Trong giờ phút gian nan đó, các công xã ở Paris và những người Jacobins đã tỏ ra kiên quyết và
dũng cảm. Tiến hành trấn áp bọn phản cách mạng, thành lập các tiểu đoàn tình nguyện góp phần làm nên
chiến thắng Vamme (ngày 20-9-1792) làm thay đổi hoàn toàn cục diện của cuộc chiến tranh.
Một ngày sau khi chiến thắng Vanme, ngày 21-9, Hiệp hội dân tộc tuyên bố thiết lập nền Cộng
hoà – mở đầu kỷ nguyên mới trong lòch sử nước Pháp.
b.Đấu tranh giai cấp và sự sụp đổ của chính quyền Girondins.
Chính quyền girondins được thiết lập sau cuộc khởi nghóa ngày 10-8 thực chất vẫn chỉ là một
chính quyền nằm trong tay giai cấp tư sản cánh hữu.
Phát Jacobin được coi là phái tả, đại diện cho những người tư sản dân chủ và cách mạng, chủ yếu
là tư sản lớp dưới, liên minh với tiểu thư sản và các tầng lớp bình dân như tiểu chủ, thợ thủ công, công
nhân trong các công trường thủ công và nông dân. Trong một thời đoạn nhất đònh và hoàn cảnh cách
mạng đang ở chiều hướng đi lên. Phái Jacobins đứng đầu là Robespierre đã quyết đònh hướng theo nhân
dân đẩy cách mạng tiến tới “tiêu diệt thù trong giặc ngoài”. Điều này trái ngược với phái girondins, đại
Jacobins đã liên kết với phái “Điên dại”, lập ra Ủy ban khởi nghóa ở thủ đô Paris (31-5-1973) và tiến
hành cuộc khởi nghóa ngày 2-6-1793, lật đổ chính quyền Girondins, chuyển chính quyền vào tay những
người Jacobins dân chủ và cách mạng.
Khởi nghóa 2-6-1793, một lần nữa thể hiện ý chí kiên cường và sức mạnh vô đòch của quần chúng nhân
dân quyết tâm thúc đẩy cách mạng đi lên. Một giai đoạn phát triển mới của Đại cách mạng tư sản Pháp
được mở ra đó là giai đoạn của “Nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobins”.
3. Giai đoạn thứ 3 của cuộc cách mạng
a. Sự thành lập chính quyền chuyên chính dân chủ và cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc.
Nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobins được thiết lập sau ngày 2-6-1793, trong điều kiện hết
sức nguy kòch “thù trong giặc ngoài” đẩy nền Cộng hoà đứng trước bờ vực thẳm.
Trong tình trạng vô cùng khó khăn và nguy hiểm đó, những người Jacobins cách mạng, đứng đầu
là Robespierre đã nhận thức được rằng muốn bảo vệ được nền cộng hoà thì cần phải có một nền chuyên
chính cách mạng triệt để nhằm trấn áp kẻ thù và thoả mãn ở mức tối đa những quyền lợi của quần chúng
để vận động đông đảo nhân dân tham gia cuộc đấu tranh tiêu diệt thù trong giặc ngoài.
Điều quan tâm đầu tiên của những người Jacobins là cần phải thông qua nhanh chóng một hiến
pháp mới làm cơ sở chính trò thông qua nhanh chóng một hiến pháp mới làm cơ sở chính trò tập hợp lực
lượng cách mạng. Ngày 24-6-1793, Hiệp hội dân tộc thông qua bản hiến pháp mới. Bản hiến pháp cộng
hoà đầu tiên trong lòch sử nước Pháp.
Hiến pháp 1793, ngoài việc thừa nhận quyền tự do bình đẳng; quyền tự do tín ngưỡng và ngôn
luận của công dân, nó còn thừa nhận quyền chống áp bức (điều 33), thậm chí quyền khởi nghóa khi chính
phủ vi phạm quyền của nhân dân (điều 35) và quyền tự do tư hữu.
Hiến pháp 1793, xoá bỏ phân loại công dân tích cực và tiêu cực. Quy đònh nam giới từ 21 tuổi trở
lên được đi bầu cử quốc hội lập pháp. Quốc hội bầu lại hàng năm vào ngày 1-5. Hội đồng hành pháp 24
người do quốc hội lập pháp cử ra là cơ quan tối cao của nền cộng hoà.
Hiến pháp 1793 phản ánh và đánh dấu một giai đoạn mới của Đại cách mạng tư sản Pháp. Nó
tuyên bố trước toàn thế giới những nguyên tắc tự do và dân chủ, một nền tư sản tiến bộ hơn hẳn hiến
pháp năm 1791. Tuy nhiên hiến pháp thông qua nhưng do điều kiện “thù trong giặc ngoài” cấu kết với
nhau chống phá cách mạng nên chính quyền Jacobins quyết đònh tạm hoãn việc thi hành hiến pháp nhằm
ngăn ngừa kẻ thù lợi dụng những điều khoản dân chủ để chống phá cách mạng. Đó là một biện pháp
đúng đắn vì hoàn cảnh nước Pháp lúc bấy giờ đang đòi hỏi tăng cường chuyên chính đối với các thế lực