Lịch sử thế giới trung đại giáo trình nguyễn gia phu - Pdf 13


TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ THẾ GIỚI
TRUNG ĐẠI NGUYỄN GIA PHU

Lòch sử thế giới Trung Đại - 1 -
MỤC LỤC
PHẦN I. LỊCH SỬ PHƯƠNG TÂY TRUNG ĐẠI 3
B
ÀI I. SỰ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở TÂY ÂU. 3
I. Sự thành lập các quốc gia ở Tây Âu từ thế kỷ V – X: 3
II. Vương quốc Phrăng: 3
III. Quá trình hình thành chế độ phong kiến ở vương quốc Phrăng: 4
B
ÀI II. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH THỊ 8
I. Sự ra đời của thành thò : 8
II. Hoạt động kinh tế của các thành thò: 9

ÀI VIII. CÁCH MẠNG NÊĐÉCLAN 38
I. Tình hình Nêđéclan trước cách mạng : 38
II. Diễn biến cuộc cách mạng: 40
III. Tính chất , ý nghóa và hạn chế của cách mạng Nêđéclan: 42
PHẦN II. LỊCH SỬ PHƯƠNG ĐÔNG THỜI TRUNG ĐẠI 45
B
ÀI I. TRUNG QUỐC 45
I. CÁC TRIỀU ĐẠI TỪ TẦN ĐẾN THANH (22
1TCN – 1840) 45
II. TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI: 59
B
ÀI II. A RẬP 63
I. Sự thành lập nhà nước A Rập: 63
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 2 -
BÀI III. ẤN ĐỘ 68
I. Tình hình chính trò: 68
II. Chế độ Jati và Ấn Độ giáo: 70
B
ÀI IV. NHẬT BẢN 73
I. Những nhà nước đầu tiên : 73
II. Nhật Bản từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII: 73

Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 3 -
Phần I. LỊCH SỬ PHƯƠNG TÂY TRUNG ĐẠI
Bài I. SỰ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở TÂY ÂU.
I. Sự thành lập các quốc gia ở Tây Âu từ thế kỷ V – X:
Trước khi đế quốc Tây La Mã diệt vong (năm 476), trên đất đai của Tây La Mã
đã thành lập một số vương quốc của người Giécmanh như Tây Gốt, Văngđan,

Năm 732, Tể tướng của vương quốc Phrăng là Sáclơ Macten có công đánh bại
cuộc tấn công của người A-rập nên uy tín vang dội trong cả nước. Vì vậy, sau khi ông
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 4 -
chết (741), con của ông là Pêpanh Lùn được thay chức Tể tướng. Đến năm 751,
Pêpanh Lùn được hội nghò q tộc cử lên làm vua, triều Mêrôvanhgiêng kết thúc,
triều Carôlanhgiêng (Carolingiens) được thành lập.
Năm 768, Pêpanh chết, con là Sáclơmanhơ lên thay. Đây là ông vua lỗi lạc
nhất của vương quốc Phrăng. Trong 46 năm ở ngôi, ông không ngừng chinh chiến, do
đó đã làm cho vương quốc Phrăng trở thành một nước có cương giới rộng lớn tương
đương với lãnh thổ của đế quốc Tây La Mã trước kia. Vì vậy năm 800, ông được
Giáo hoàng Lêông III cử hành lễ Gia miện (
1
) tôn làm hoàng đế của La Mã, vì vậy
ông được coi là Sáclơmanhơ tức là “Đại hoàng đế Sáclơ”.
Năm 814, Sáclơmanhơ chết, người con trưởng là Lu-y “Mộ đạo” lên nối ngôi
(814-840). Trong thời gian này, cuộc đấu tranh trong nội bộ cung đình dã xảy ra, năm
840, Lu-y “Mộ đạo” chết, cuộc nội chiến giữa ba người con của Lu-y Mộ đạo lập tức
bùng nổ.
Năm 843, ba anh em phải ký với nhau hòa ước Vécđoong. Theo hòa ước này,
lãnh thổ của vương quốc chia làm 3 phần:
- Người anh cả Lôte được phần giữa bao gồm vùng tả ngạn sông Ranh
và miền Bắc bán đảo Ý.
- Người em thứ hai là Lu-y xứ Giécmanh được phần đất phía Đông sông
Ranh.
- Người em út Sáclơ Hói được phần đất phía Tây của vương quốc.
Như vậy đến đây, vương quốc Phrăng tan rã, đồng thời hòa ước Vécđoong cũng
là mốc lòch sử đánh dấu sự thành lập ba nước mới là Pháp, Đức, Ý.
III. Quá trình hình thành chế độ phong kiến ở vương quốc Phrăng:
Sau khi thành lập nước, người Phrăng từ xã hội nguyên thủy chuyển lên chế độ

Hói phải ban bố sắc lệnh quy đònh các bồi thần tuy vẫn phải thực hiện nghóa vụ
quân sự, nhưng được truyền thái ấp và chức tước cho con cháu. Từ đó, thái ấp trở
thành những lãnh đòa cha truyền con nối gọi là phi- ép (fief).
Đến đây, quá trình biến ruộng đất trong xã hội thành ruộng đất phong kiến ở
vương quốc Phrăng hoàn thành.
Đồng thời với việc phong đất, các bồi thần còn được phong các chức tước
như Công tươcù, Hầu tước, Bá tước. Giờ đây, những chức tước ấy trở thành những
danh hiệu quý tộc và cũng được truyền cho con cháu cùng với lãnh đòa. Như vậy, ở
phương Tây, giai cấp lãnh chúa đồng thời cũng là giai cấp quý tộc.
Chính sách phân phong ruộng đất ấy đã tạo ra giai cấp quý tộc phong kiến
đông đảo làm cơ sở giai cấp của chế độ phong kiến.
2. Biến giai cấp nông nhân thành giai cấp nông nô:
Trong quá trình chinh phục, đồng thời với việc đem một bộ phận đất đai
phong cho các thân binh và biếu tặng các cơ sở của giáo hội Kitô, vua Phrăng giao
bộ phận còn lại cho các thành viên thò tộc của người Phrăng. Với những vùng đất
mới này, các thành viên thò tộc người Phrăng lập thành những công xã nông thôn
gọi là công xã Máccơ. Chẳng bao lâu, công xã nông thôn tan rã, nông dân trở
thành những người chủ của phần đất do công xã chia cho .
Đến thế kỉ VII, vì nhiều nguyên nhân như thiên tai, phải nộp thuế quá nặng,
đàn ông phải đi làm nghóa vụ, bệnh dòch, vợ con ở nhà không kham nổi việc sản
xuất v.v…,rất nhiều nông dân bò phá sản, do đó họ phải bán hoặc hiến ruộng đất
của mình cho lãnh chúa . Đồng thời các lãnh chúa cũng dùng nhiều cách để chiếm
đoạt ruộng đất của nông dân nên dần dần toàn bộ ruộng đất trong xã hội đều tập
trung vào tay giai cấp lãnh chúa.
Sau khi mất ruộng đất, nông dân chỉ còn một cách là phải lónh canh ruộng
đất của lãnh chúa để làm ăn, do đó bò biến thành nông dân đời đời lệ thuộc vào
lãnh chúa, gọi là nông nô.
Về kinh tế, do cày cấy ruộng đất của lãnh chúa, nông nô phải nộp đòa tô cho
lãnh chúa mà trong thời kì đầu, hình thức đòa tô phổ biến là lao dòch.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử

nhất là khoảng 100 hộ.
Trong trang viên thường có lâu đài, kho tàng , cối xay bột, lò bánh mì, xưởng
ép dầu, lò rèn v.v… của lãnh chúa; lại còn có nhà thờ và khu vực nhà chung của
các tu só. Ngoài ra còn có những túp lều của nông nô.
Đất đai trang viên bao gồm ruộng đất canh tác, bãi cỏ, rừng, ao hồ, đầm
lầy…
Ruộng đất canh tác chia làm hai phần: Phần đất tự sử dụng của lãnh chúa và
phần đất chia cho nông nô. Chính vì nông nô được nhận một mảnh đất ở bộ phận
thứ hai này nên hàng tuần phải dành một nửa thời gian và phải đem theo súc vật,
nông cụ đến làm việc trên đất đai của chủ. Đến mùa thu hoạch, nông nô cũng phải
đến gặt hái và chở về kho cho chủ.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 7 -
Ngoài đất canh tác ra, bãi cỏ, rừng, ao hồ … cũng là của chủ, vì vậy nông nô
muốn chăn súc vật, kiếm củi, bắt cá v.v… đều phải nộp thuế cho chủ.
Trang viên phong kiến là những đơn vò kinh tế tự sản tự tiêu (còn gọi là tự
cấp, tự túc) . Ngoài việc sản xuất nông nghiệp, trong trang viên còn sản xuất tiểu
thủ công nghiệp. Vì vậy ngoài những nông nô làm ruộng còn có những nông nô
làm các loại thợ thủ công như thợ mộc, thợ rèn, thợ dao kiếm, thợ vàng bạc v.v…
Những người thợ thủ công này được chủ cấp cho một mãnh đất nhỏ để tự sản xuất
lương thực.
Như vậy, các trang viên về cơ bản có thể thỏa mãn được các nhu cầu về
lương thực, thực phẩm cũng như các loại đồ dùng thường ngày của lãnh chúa và
nông nô, chỉ có những thứ không sản xuất được như muối, sắt và các thứ hàng xa
xỉ như vải lụa, hương liệu … mới phải mua của các lái buôn người Bidantium hoặc
Ả Rập. Do tình hình ấy trong vòng 5 thế kỷ, nền kinh tế hàng hóa hầu như chưa có
gì đáng kể, và tình hình ấy kéo dài cho đến thế kỷ XI, khi thành thò ra đời mới
chấm dứt.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 8 -

3. Bộ mặt và quy mô của thành thò:
Khi mới ra đời, thành thò ở châu u còn rất thô sơ, xung quanh mỗi thành
phố có thành xây bằng đá, bằng gạch thậm chí bằng gỗ, lại còn có hào sâu, có
tháp canh, có cổng thành chắc chắn cứ đến tối thì đóng lại.
Trong thành đường phố ngang dọc chằng chòt nhưng chật hẹp và đầy rác
rưởi, mùa hè thì bụi, mùa mưa thì lầy lội, mãi đến thế kỷ XIV, XV mới biết rải đá,
ban đêm thì tối tăm vì chưa có đèn đường.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 9 -
Những người thợ thủ công cùng nghề thường sống tập trung ở một khu vực,
do đó các tên phố thường được gọi theo tên nghề nghiệp như phố Thợ Rèn, phố
Thợ Mộc, phố Thợ Dệt…
Quy mô của các thành phố châu Âu lúc bấy giờ còn tương đối nhỏ. Cho đến
thế k XIII, Pari cũng mới chỉ có 100.000 dân, Luân Đôn, Milanô có khoảng
50.000 người, còn phần lớn các thành phố khác chỉ có khoảng dưới 10.000 người.
II. Hoạt động kinh tế của các thành thò:
Trong các thành phố của phương Tây lúc bấy giờ có hai ngành kinh tế chính là
thủ công nghiệp và thương nghiệp.
1. Thủ công nghiệp và tổ chức phường hội:
Thủ công nghiêp là ngành kinh tế quan trọng nhất trong hầu hết các thành
thò ở châu u lúc bấy giờ.
Những người thợ thủ công làm việc ngay tại nhà họ bằng công cụ lao động
và nguyên liệu của họ. Trong các xưởng thủ công nhỏ bé ấy, giúp việc cho thợ cả
thường có vài người thợ bạn, vài người thợ học việc và các thành viên trong gia
đình người thợ cả.
Tuy việc sản xuất được tiến hành riêng lẻ như vậy, nhưng để bảo vệ lẫn
nhau, những người thợ thủ công cùng nghề ở thành thò đã tổ chức thành những
đoàn thể nghề nghiệp gọi là phường hội.
- Mục đích chủ yếu của viêc thành lập phường hội là
+ Bảo đảm sự đồng đều về quyền lợi trong việc sản xuất cũng như trong

trong một thời gian nhất đònh.
+Về mặt xã hội, phường hội là tồ chức đoàn kết tương trợ của thợ thủ
công để đấu tranh chống lãnh chúa phong kiến, quý tộc thành thò và để giúp đỡ
lẫn nhau mỗi khi gặp khó khăn hoạn nạn.
Phường hội còn là tổ chức có tính chất quân sự và tôn giáo. Mỗi phường
hội có một đội dân binh có nhiệm vụ tuần tra canh gác để bảo vệ thành phố. Mỗi
phường hội thường có nhà thờ riêng và có những ngày lễ hội riêng của mình.
-Sự tan rã của phường hội: Đến thế kỷ XIV- XV, phường hội bắt đầu
bước vào quá trình tan rã. Do sự phát triển của nền sản xuất thủ công nghiệp, một
số chủ xưởng bất chấp quy chế tự động mở rộng quy mô sản xuất, tăng thêm số
lượng thợ bạn và thợ học việc, kéo dài thời gian lao động trong ngày, cải tiến kỹ
thuật…do đó đã dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo giữa các thành viên của các
phường hội.
Đồng thời, sự thâm nhập của chủ nghóa tư bản càng thúc đẩy nhanh
chóng quá trình tan rã của phường hội.
2. Thương nghiệp:
Hoạt động thương nghiệp ở Tây u lúc bấy giờ biểu hiện ở các mặt sau đây:
Sư trao đổi hàng hóa giữa thành thò với vùng nông thôn xung quanh: Lúc
đầu thợ thủ công cũng là người bán sản phẩm ngay tại xưởng của mình cho
người tiêu dùng.
Ngoài ra, mỗi thành phố còn có chợ của riêng mình. Chợ thành phố họp
mỗi tuần một hoặc hai lần, mỗi lần kéo dài suốt cả ngày.
Sự trao đổi hàng hóa giữa các vùng thậm chí giữa các nước với nhau: Do
điều kiện cụ thể của từng đòa phương, một số thành thò đã có những sản phẩm
nổi tiếng. Để trao đổi những sản phẩm ấy và các hàng quý hiếm chở từ phương
Đông tới như tơ lụa, đồ trang sức, hương liệu ( hồ tiêu, quế, hồi, đinh hương,
gừng…), ở nhiều nước Tây u đã tổ chức hội chợ.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 11 -
Sự hình thành các khu vực mậu dòch: Do sự phát triển mạnh mẽ của việc

một khoản tiền lớn, nhưng hình thức thông thường nhất là đấu tranh vũ trang.
Phong trào đấu tranh giành quyền tự trò của thành thò diễn ra rầm rộ nhất
trong hai thế kỷ XII, XIII.
-Kết quả: Các thành thò đã giành được thắng lợi với những mức độ khác
nhau:
+ Các thành phố ở Ý như Vênêxia, Giênôva, Phirenxê, Milanô, Pixa,…
nhờ có nền kinh tế phát triển sớm và do ở Ý không có chính quyền
trung ương mạnh mẽ nên đã được độc lập hoàn toàn. Hơn nữa các
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 12 -
thành phố này còn khống chế được vùng nông thôn xung quanh và các
thành phố nhỏ lân cận nên đã lập thành những nước cộng hòa thành
thò trong đó có chính quyền, viện Nguyên lão, pháp luật, tòa án, quân
đội.
+ Đa số các thành phố khác cũng được tự trò nhưng còn phải chòu một
số nghóa vụ đối với vua hoặc lãnh chúa như phải nộp một khoản đòa tô
nhất đònh, hoặc cơ quan quản lý thành phố phải thảo luận với quan lại
của vua cử đến khi giải quyết các công việc hành chính và tư pháp.
Tuy mức độ giành được quyền tự trò có khác nhau nhưng có một điểm
giống nhau là cư dân tất cả các thành phố đều được thoát khỏi thân phận nông nô,
do đó đều được tự do.
2. nh hưởng của thành thò đối với chế độ phong kiến:
Sự ra đời của thành thò với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế hàng
hóa đã có ảnh hưởng rất lớn đối với chế độ phong kiến.
- Trước hết, nền kinh tế của thành thò đã làm tan rã nhanh chóng nền kinh
tế tự nhiên. Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong việc sản xuất thủ công
nghiệp, lương thực thực phẩm và nguyên liệu mà thò dân cần dùng đều phải dựa vào
sự cung cấp của nông thôn, do đó đã lôi cuốn nhiều trang viên phong kiến vào việc
sản xuất hàng hóa.
- Thứ hai, nền kinh tế thành thò đã góp phần rất quan trọng trong việc làm

476, Tây La Mã diệt vong. Trên đất đai của Tây La Mã đã thành lập nhiều vương
quốc của người Giécmanh.
Nhân tình hình ấy, Tổng Giám mục La Mã tự xưng là Giáo hoàng, một mặt
muốn chiếm quyền lãmh đạo cao nhất toàn bộ giáo hội Kitô ở cả phương Tây và
phương Đông; một mặt muốn bắt quốc vương các nước mới thành lập ở Tây u phải
khuất phục dưới quyền lực của mình.
2. Đạo Kitô đầu thời Trung đại:
- Đến thời Trung đại, đạo Kitô nhấn mạnh thuyết con người sinh ra ai cũng
có tội. Sở dó như vậy là vì thủy tổ loài người là Adam và Eva đã không vâng lời Chúa
trời nên đã phạm tội. Do vậy, dòng giống của họ là toàn thể loài người phải mang tội
truyền kiếp. Ngoài ra, mỗi người trong cuộc đời của mình còn phạm những tội lỗi
riêng. Tuy nhiên, giáo hội Kitô tuyên truyền rằng bằng các nghi thức như Thánh thể
(cho ăn bánh thánh ), giải tội v.v…, các giáo só được nhân danh Chúa để ban phúc
lành, do đó có thể làm cho mọi người được thoát khỏi sự trừng phạt sau khi chết và
được hưởng hạnh phúc ở thiên đường.
- Ngoài ra giáo hội còn đề xướng chủ nghóa cấm dục, thành lập các nhà tu
kín, chủ trương thờ các di vật của các thánh, hành hương đến các đất thánh,v.v… để
làm tăng thêm sự tin tưởng của các tín đồ.
- Đối với những người vi phạm quy chế của giáo hội, giáo hội thường dùng
biện pháp khai trừ giáo tòch tức là loại bỏ sự cứu vớt linh hồn sau khi chết để buộc họ
phải ngoan ngoãn phục tùng giáo hội.
- Cơ sở vật chất của giáo hội là các lãnh đòa rộng lớn của các nhà thờ và tu
viện thuộc giáo hội La Mã.
- Hơn nữa, năm 756, vua của vương quốc Phrăng là Pêpanh Lùn sau khi
đánh bại người Lôngba đã đem đất đai lấy được ở Ý hiến cho Giáo hoàng, do đó
Giáo hoàng cũng có một lãnh thổ thật sự và quốc gia của Giáo hoàng cũng giống như
các vương quốc phong kiến khác ở Tây u.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 14 -
3. Mâu thuẫn trong nội bộ Giáo hội Kitô:

phong kiến một số nước Tây u muốn cướp bóc phương Đông và Giáo hoàng La
Mã muốn giành được quyền quản lý cả giáo hội phương Đông.
2. Các cuộc viễn chinh:
Từ cuối thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIII, những đoàn quân Thập tự đã tiến
hành 8 cuộc viễn chinh:
- Cuộc viễn chinh lần thứ nhất (1096-1099).
- Cuộc viễn chinh lần thứ hai (1147-1149).
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 15 -
- Cuộc viễn chinh lần thứ ba (1189-1192).
- Cuộc viễn chinh lần thứ tư (1202-1204).
- Cuộc viễn chinh lần thứ năm (1217-1219).
- Cuộc viễn chinh lần thứ sáu (1228-1229).
- Cuộc viễn chinh lần thứ bảy (1248-1254).
- Cuộc viễn chinh lần thứ tám (1270).
Trong 8 cuộc viễn chinh ấy, rầm rộ hơn cả là cuộc viễn chinh lần thứ nhất
và cuộc viễn chinh lần thứ tư.
a. Cuộc viễn chinh lần thứ nhất (1096-1099):
- Sự hô hào của Giáo hoàng:

Nhận thấy thời cơ xâm lược phương Đông đã thuận lợi, tháng 9-1095,
Giáo hoàng Uyếcbanh II (1088-1099) đã triệu tập một cuộc hội nghò tôn giáo ở
thành phố Clécmông (Pháp) để chuẩn bò viễn chinh.
Tại phiên bế mạc của cuộc hội nghò này, Giáo hoàng hô hào người
phương Tây hãy nhanh chóng đi cứu giúp những người anh em Kitô giáo ở phương
Đông, giải phóng mộ Chúa, đuổi bọn tà giáo ấy ra khỏi thế giới của tín đồ Kitô
giáo.
Đồng thời Giáo hoàng còn nói ở phương Đông “khắp nơi đầy mật và sữa”,
đặc biệt Giêrudalem là trung tâm của mặt đất thì lại càng giàu có, thậm chí đó là
“thiên đường thứ hai”. Vì vậy, “ai ở đây buồn khổ nghèo đói thì đến đó sẽ trở

buôn bán…họ cũng trở thành những kẻ hết sức giàu có.
Sự thống trò tàn bạo của bọn phong kiến Tây u làm cho nhân dân đòa
phương luôn luôn nổi dậy phản kháng nên các quốc gia này không ổn đònh.
b. Cuộc viễn chinh lần thứ tư (1202-1204):
Năm 1187, Giêrudalem bò Xuntan (vua) Ai Cập là Xalin chiếm, đoàn
quân Thập tự phương Tây do vua của 3 nước Đức, Pháp, Anh chỉ huy đã tiến hành
cuộc viễn chinh lần thứ ba nhưng không thu được kết quả gì đáng kể, Giêrudalem
vẫn thuộc về Ai Cập, vì vậy Giáo hoàng La Mã lại phát động cuộc viễn chinh lần
thứ tư.
Theo kế hoạch của Giáo hoàng thì mục tiêu của cuộc viễn chinh này là
Ai Cập, vì nếu đánh bại được Ai Cập thì sẽ chiếm được Giêrudalem.
Để thực hiện kế hoạch, quân Thập tự phải thuê thương nhân Vênêxia
dùng thuyền của họ để chở quân Thập tự đến Ai Câp.
Trong khi quân Thập tự đang chuẩn bò thì Thái tử lưu vong của Bidantium
yêu cầu quân Thập tự sang Côngxtăngtinốp để khôi phục ngôi vua cho Hoàng đế
Bidantium bò lật đổ.
Tháng 7-1203, quân Thập tự đổ bộ lên Côngxtăngtinốp, đến tháng 4-1204
thì tấn công và chiếm được thành phố này rồi thẳng tay cướp bóc, tàn sát, đốt phá.
Sau khi chiếm được Côngxtăngtinốp, quân Thập tự không muốn đi giải
phóng đất thánh Giêrudalem nữa. Trên 3/8 lãnh thổ của Bidantium đã chiếm được
quân Thập tự lập một quốc gia mới gọi là “đế quốc La Tinh”.
Thương nhân Vênêxia cũng được chia 3/8 đất đai của đế quốc Bidantium.
Người Bidantium chỉ còn lại vùng ven biển riatíc và phần đất đai ở
Tiểu Á trên vùng đất còn lại ấy họ lập 2 nước nhỏ pia và Nixê.
Năm 1261, đế quốc Latinh bò Nixê đánh bại. Đế quốc Bidantium được
khôi phục.
c. Cái gọi là “cuộc viễn chinh nhi đồng”:
Sau 4 lần viễn chinh rầm rộ nhưng không đạt được kết quả, ở hai nước
Pháp và Đức loan truyền một quan niệm cho rằng người lớn phạm nhiều tội lỗi
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử

Tây nhiều hơn trước. Vì vậy, nhiều thành phố ở Ý, Nam Pháp, Tây Ban Nha đã phát
triển nhanh chóng.
Ngoài ra, nhiều nghề mới như nghề làm giấy, làm thủy tinh, chế tạo thuốc
súng…và nhiều loại nông sản mới như lúa, chanh, dưa hấu… đã được truyền sang
Tây u.
- Về văn hóa, qua tiếp xúc với phương Đông, giai cấp phong kiến Tây u
đã học tập được nhiều điều mới mẻ như nghi thức ở cung đình, cách giao tiếp lòch sự,
cách để tóc, để râu, sự trau chuốt cầu kỳ về trang phục v.v…
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 18 -
- Về xã hội, phong trào này đã góp phần vào việc làm tan rã chế độ nông
nô và làm tăng thêm quyền lực của vua một số nước Tây u.

Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 19 -
Bài IV. NHỮNG(CUỘC PHÁT KIẾN LỚN VỀ ĐỊA LÝ.
I. Nguyên nhân và tiền đề của các cuộc phát kiến đòa lý:
1. Nguyên nhân:
Nguyên nhân chủ yếu thúc giục người Tây u tìm đường đến(những nơi
xa lạ là lòng thèm khát vàng. Sở dó như vậy là vì đến cuối thế kỷ XV, kinh tế công
thương nghiệp ở Tây u phát triển mạnh mẽ, do đó đòi hỏi phải có nhiều vàng
bạc để đúc tiền nhằm bảo đảm cho việc lưu thông hàng hóa.
Lúc bấy giờ theo quan niệm của người Tây u, n Độ, Trung Quốc, Nhật
Bản là những nước có rất nhiều vàng nên họ quyết tâm đến bằng được các xứ giàu
có ấy.
Ngoài ra, nhu cầu về hương liệu và các loại hàng cao cấp như tơ lụa, đồ
trang sức…cũng là một động cơ thôi thúc người Tây u phải tìm đường sang
phương Đông.
Thế nhưng những con đường từ Tây u sang phương Đông mà trước đó
người phương Tây đã đi qua đến thời kỳ này đều không an toàn và thuận lợi, vì

đường thông thương chủ yếu giữa Tây u và Viễn Đông trong gần ba thế kỷ, cho
đến năm 1869, khi kênh đào Xuy-ê hoàn thành thì mới không sử dụng nữa.
2. Phát hiện châu Mỹ:
Người tình cờ phát hiện ra châu Mỹ là Críxtốp Côlông (1451-1506), một nhà
hàng hải người Ý. Từ lâu, ông đã ấp ủ kế hoạch đi sang phương Đông bằng hướng
Tây vì ông cho rằng đó là con đường gần nhất.
Mãi đến năm 1492, ông mới được quốc vương Phécđinan và nữ hoàng
Ixabenla của Tây Ban Nha chấp nhận kế hoạch đó và cấp cho ông những phương
tiện cần thiết cho cuộc hằnh trình.
Ngày 3-8-1492, đoàn thám hiểm của Côlông gồm 3 chiếc thuyền với 9 thủy
thủ rời Tây Ban Nha tiến thẳng về hướng Tây. Sau 70 ngày lênh đênh trên Đại
Tây Dương, đoàn thám hiểm của Côlông đến một hòn đảo trong quần đảo
Bahama mà ông gọi là đảo Xan Xanvo. ng đi tiếp về hướng Nam và phát hiện
được nhiều đảo nhỏ khác, đến cuối năm 1492 thì đặt chân lên đảo Cuba và đảo
Ha-i-ti. Đầu năm 1493, Côlông trở về Tây Ban Nha.
Sau đó, Côlông còn tiến hành 3 cuộc thám hiểm nữa vào các năm 1493-
1496, 1498-1500, 1502-1504. Trong những lần thám hiểm này, ông đã phát hiện
được nhiều đảo mới và đã thăm dò vùng bờ biển Trung Mỹ và phía Bắc của Nam
Mỹ.
Năm 1506, Côlông chết, nhưng cho đến giờ phút cuối của đời mình ông cứ
đinh ninh đất đai mình tìm thấy là n Độ, do vậy cư dân ở đó được gọi là người
Anh Điêng (người n Độ).
Cũng khoảng thời gian đó, một người Ý khác là Amêrigô Véxpuxi (1454-
1512) từ năm 1449-1504, dưới lá cờ của Bồ Đào Nha đã thám hiểm vùng bờ biển
Nam Mỹ. Sau đó, ông nói rằng vùng đất này là một lục đòa mới. Do vậy, năm
1507, lục đòa mới này được gọi bằng tên của ông, tức là Amêrigô hoặc Amêricơ
(Amérique), ta quen gọi là châu Mỹ.
III. Cuộc hành trình vòng quanh trái đất:
Sau khi phát hiện châu Mỹ, người Tây ban Nha vẫn muốn tiếp tục tìm
đường sang Đông Á bằng hướng Tây. Năm 1519, một quý tộc Bồ Đào Nha là

chiếm được, người Tây Ban Nha vừa cướp bóc vừa khai thác các mỏ vàng bạc và
thành lập đồn điền.
Do người bản xứ bò tàn sát rất nhiều nên người Tây Ban Nha đã sang
châu Phi bắt rất nhiều người da đen đưa sang châu Mỹ bán làm nô lệ.
2. Hậu quả kinh tế đối với Tây Âu:
Do chính sách buôn bán bòp bợm, cướp bóc và khai thác ở các vùng đất
mới, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã chở về Tây u rất nhiều vàng bạc và các
loại sản phẩm có giá trò của phương Đông và châu Mỹ. Tình hình đó đã đã dẫn
đến cuộc cách mạng thương nghiệp và cuộc cách mạng giá cả ở Tây u.
Từ đây thò trường thế giới được mở rộng, hàng hóa tăng lên nhiều, đường
buôn và trung tâm buôn bán thay đổi. Đồng thời các tổ chức mới phục vụ cho
ngành thương nghiệp như Sở giao dòch Công ty cổ phần, Công ty bảo hiểm…cũng
ra đời.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 22 -
Đồng thời, do số vàng khai thác được tăng gấp 5 lần và số lượng tiền đúc
bằng vàng bạc nhiều gấp 4 lần so với trước nên giá trò của đồng tiền bò giảm, giá
cả hàng hóa tăng vọt.
Tình hình đó làm cho những người làm thuê lấy tiền công và những đòa
chủ phong kiến thu đòa tô bằng tiền theo hợp đồng dài hạn bò thiệt hại rất lớn.
Trái lại, các nhà tư sản mới ra đời ở thành thò và nông thôn là có lợi nhât
vì họ thuê được nhân công với gía rẻ mạt nhưng lại bán được sản phẩm với giá
không ngừng tăng lên.
Như vậy, cuộc cách mạng giá cả đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích lũy
vốn ban đầu của chủ nghóa tư bản.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 23 -
Bài V. SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN Ở TÂY ÂU.
Từ thế kỷ XIV,XV, những nhân tố lẻ tẻ của chủ nghóa tư bản đã xuất hiện trong
các thành thò ở Ý, ở vùng sông Ranh và ở Nêđéclan, nhưng đến đầu thế kỷ XVI,

mà còn có cả ruộng đất nhà cửa của nông dân và đất hoang mà mọi người cùng
được sử dụng.
Sau khi tước tư liệu sản xuất của nông dân, nhà nước liền ban hành các
đạo luật cấm những người vô sản đi ăn xin và đi lang thang, do đó họ không có
con đường nào khác là phải làm thuê cho các nhà tư bản.
Nguyễn Gia Phu Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới Trung Đại - 24 -
Song song với biện pháp trên là việc cướp bóc tài nguyên kể cả bản thân
con người ở những vùng mới phát hiện. Những của cải chiếm đoạt được ở những
nơi này được đưa về chính quốc và biến thành tư bản.
Như vậy, trong hai biện pháp ấy, biện pháp thứ nhất đem lại kết quả chủ
yếu là tạo nên tầng lớp vô sản đông đảo phải làm thuê cho các nhà tư bản, còn kết
quả chủ yếu của biện pháp thứ hai là tích lũy tiền vốn một cách nhanh chóng.
II. Sự ra đời của nền sản xuất tư bản chủ nghóa:
1. Các hình thức sản xuất tư bản chủ nghóa trong công nghiệp:
Hình thức sản xuất mang tính chất tư bản chủ nghóa đầu tiên trong lónh
vực công nghiệp là công trường thủ công. Công trường thủ công gồm hai loại là
công trường thủ công phân tán và công trường thủ công tập trung.
a. Câông trường thủ công phân tán:
Sự xuất hiện công trường thủ công phân tán thường gắn liền với hoạt
động của lái buôn bao mua. Những lái buôn này đem nguyên liệu đến bán hoặc
ứng trước cho thợ thủ công rồi sau đó thu mua sản phẩm với giá đã thỏa thuận. Về
sau, thợ thủ công không những chỉ vay nguyên liệu mà còn phải dựa vào lái buôn
bao mua để được trang bò công cụ lao động nên phải giao nộp toàn bộ sản phẩm
cho lái buôn bao mua và được nhận một khoản thù lao nhất đònh.
Trong quá trình đó, người thợ thủ công vẫn làm việc tại nhà mình, nhưng
vì phải làm việc theo yêu cầu của lái buôn bao mua, nên thực tế họ đã được tổ
chức thành một tập đoàn sản xuất trong đó họ đã trở thành người làm thuê và bò
bóc lột giá trò thặng dư, còn lái buôn bao mua thì thực tế đã trở thành những ông
chủ xí nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status