TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI
(1917 – 1945)
(Giáo trình dành cho lớp từ xa)
HOÀNG THỊ NHƯ Ý
2002
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 2 – MỤC LỤC
CHƯƠNG I
5
I. NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CÁCH MẠNG. CUỘC CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TƯ
II. HỘI NGHỊ OASINHTƠN VÀ NHỮNG HÒA ƯỚC ĐƯC KÍ KẾT 24
Phần B 26
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC NƯỚC TƯ BẢN SAU CHIẾN
TRANH (1918 –1923) 26
II. CÁC NƯỚC TƯ BẢN TRONG GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH (1924 –1929) 27
1. Ổn đònh về kinh tế 27
2. Ổn đònh tương đối về chính trò 28
III. CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ YẾU TRONG GIAI ĐOẠN 1929-1939 31
1. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 31
2. Chủ nghóa phát xít Đức, Italia và chủ nghóa quân phiệt Nhật 32
3. Các đế quốc “dân chủ” Mó, Anh và Pháp 36
IV. Kết luận 39
Chương IV 40
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 3 – I. CAO TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1918-1923 40
1. Cao trào giải phóng dân tộc ở Châu Á 40
2. Phong trào cách mạng ở Châu Phi 40
3. Phong trào cách mạng ở châu Mó latinh 41
II. Phong trào giải phóng dân tộc trong những năm 1924-1929 41
III. Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào mặt trận nhân dân chống phát xít
trong những năm1929-1939
41
IV. Phong trào giải phóng dân tộc trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) 42
V. Phong trào cách mạng tiêu biểu – Cuộc cách mạng dân tộc dân tộc dân chủ ở
Trung Quốc (1919 – 1945)
42
1. Cách mạng Trung Quốc chuyển từ dân chủ tư sản kiểu cũ sang dân chủ tư sản
giới thứ II
52
3. Phát xít Đức thôn tính o và âm mưu xâm lược Tiệp Khắc 53
4. Cuộc đàm phán Anh – Pháp –Xô để bảo vệ an ninh châu Âu 53
5. Cuộc tấn công của Nhật ở hồ Khaxan và sông Khakhingôn. Vụ “Muynich
phương Đông”
54
6. Hiệp đònh Xô – Đức không xâm lược nhau 54
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 4 – CHƯƠNG VII 56
I. NGUYÊN NHÂN CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 56
II. DIỄN BIẾN 56
1. Giai đoạn I: Phát xít Đức đánh chiếm châu Âu tu bản (1-9-1939 Ỉ 22-6-1941)
56
2. Giai đoạn 2: Phe phát xít tấn công Liên Xô mở rộng chiến tranh xâm lược ra
toàn thế giới
58
3. Giai đoạn thứ 3: chiến thắng Xtalingrát và bước chuyển biến căn bản trong tiến
trình chiến tranh thế giới thứ hai
62
4. Giai đoạn thứ 4 (24-12-1943Ỉ9-5-1945): Những thắng lợi quyết đònh của phe
đồng minh chống phát xít –chủ nghóa phát xít Hitle bò tiêu diệt.
63
5. Giai đoạn 5: Nhật đầu hàng chiến tranh thế giới thứ hai thống nhất (9-5-
1945Ỉ14-8-1945)
65
SƠ KẾT LỊCH SỬ HIỆN ĐẠI TỪ 1917 ĐẾN 1945 68
yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghóa đế quốc đòi hỏi phải được giải quyết
bằng một cuộc cách mạng vô sản?
Thực tế lòch sử lúc bấy giờ cho thấy rằng, nùc Nga chính là khâu yếu nhất của
chủ nghóa đế quốc lúc bấy giờ và cũng là nơi có các tiền dề khách quan và chủ quan
cho sự bùng nổ thắng lợi của cách mạng vô sản .
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghóa tư bản Nga cũng như các đế quốc
phương Tây đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghóa, đạt trình độ phát triển cao
về tổ chức sản xuất công nghiệp và tốc độ phát trển nhanh của nền kinh tế quốc dân.
Năm 1914, Nga có khoảng 30.000 nhà máy, 80.000 km đường sắt, đứng thứ 5 thế giới
về tổng sản lượng công nghiệp. Nước Nga cóhơn 150 công ti độc quyền lớn, hàng
nghìn ngân hàng ,trong đó có 5 ngân hàng lớn nhất tập trung một nửa số vốn của các
ngân hàng, các tập đoàn tài chính công nghiệp ra đời trên cơ sở cấu kết giữa tư bản
công nghiệp và tư bản ngân hàng, ví dụ như tập đoàn ngân hàng Nga – Á khống chế
nhiều ngành công nghiệp và 1/3 số vốn các ngân hàng ở Nga.
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 6 – Đặc thù của nứơc Nga khác với các đế quốc phương Tây là tuy đã chuyển
sang giai đoạn đế quốc chủ nghóa nhưng vẫn còn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế
Sa hoàng kìm hãm sự phát triển của chủ nghóa tư bản Nga, do đó nước Nga chỉ là
TBCN trung bình, lạc hậu so với các nước Tây Âu. Nga phải vay vốn và đầu tư của
nước ngoài nên phụ thuộc chặt chẽ vào tư bản phương Tây. Các ngành kinh tế then
chốt đều nằm trong tay tư bản nước ngoài, nhất là Anh và Pháp. Đa số các xí nghiệp
công nghiệp lớn chỉ tập trung ở 5 –6 vùng thuộc khu vực Châu Âu của đất nước, còn
những vùng rộng lớn khác rất lạc hậu vẫn duy trì nền nông nghiệp trung cổ. Đầu thế
kỷ XX, 28000 đại đòa chủ vẫn chiếm tới 70 triệu ha ruộng đất, bằng số ruộng của 10
triệu gia đình nông dân, 4/5 nông dân sống trong tình trạng đói kém, nông dân Nga
phải chòu hai tầng áp bức bóc lột, đòa chủ và tư sản .
Chế độ quân chủ Nga hoàng tồn tại đã cấu kết chặt chẽ với giai cấp tư sản,
Giai cấp nông dân là lực lượng cách mạng to lớn, là bạn đồng minh tin cậy của
giai cấp công nhân.
Các dân tộc bò áp bức là lực lượng cách mạng quan trọng và là bạn đồng minh
của giai cấp công nhân Nga.
Tóm lại, những tiền đề kinh tế – xã hội khách quan và những điều kiện chủ
quan đã có đủ cho sự bùng nổ và thắng lợi của một cuộc cách mạng xã hội ở nước
Nga. Nhưng cách mạng chỉ nổ ra khi có tình thế cách mạng xuất hiện. Chiến tranh thế
giới thứ nhất (1914-1918) đã làm xuất hiện tình thế cách mạng đó ở nước Nga. Đảng
Bônsêvích đứng đấu là Lenin đã vạch rõ tính chất phi nghóa của chiến tranh đế quốc,
kêu gọi biến “chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, và lãnh đạo nhân dân
lãnh đạo cách mang lật đổ chế độ phong kiến Nga hoàng.
2. Cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai
Đầu năm 1917, nước Nga lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Quần chúng
nhân dân tin rằng lúc này chỉ có một lối thoát: lật đổ chế độ Sa hoàng. Tình thế cách
mạng đã chín muồi.
Ngày 18-2 (3-3), 30000 công nhân đình công ở nhà máy Putilốp, nhà máy lớn
nhất nước Nga lúc này. Chủ xưởng quyết đònh đóng cửa nhà máy, đình công lan rộng.
Tình hình thủ đô Pêtơgrát căng thẳng.
Ngày 23-2(8-3), nhân ngày Phụ nữ quốc tế, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng
Bônsêvích, 9 vạn nữ cônh nhân ở 50xí nghiệp ở thủ đô đã xuống đường biểu tình và
chuyển thành cuộc bãi công. Hôm sau, cuộc đấu tranh lôi cuốn thêm 20000 công nhân
tham gia. Sang ngày thứ 3, công nhân toàn thành phố bãi công chuyển thành tổng bãi
công chính trò chống chế độ Nga hoàng.
Ngày 26-2(11-3), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích công nhân tiến hành
khởi nghóa vũ trang. Hôm sau cuộc khởi nghóa vũ trang lan ra khắp thành phố. Chính
phủ huy động 60000 lính và cảnh sát đàn áp phong trào. Binh lính được nhân dân vận
động, lôi kéo, đã bắn vào cảnh sát, đi theo cách mạng. Công nhân, binh lính khởi nghóa
mạng chuyển sang giai đoạn mới.
3. Cách mạng chuyển từ dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ
nghóa
Tối 3-4 (16-4), Lênin từ Thụy Só trở về Pêtơrôgrát. Hôm sau, trong cuộc họp
những người Bônsêvích, Người đã trình bày bản “Luận cương tháng Tư”. Người vạch
rõ nhiệm vụ chủ yếu lúc này là chuyển cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng
XHCN”, chủ trương “tuyệt đối không ủng hộ Chính phủ lâm thời” và thực hiện “Tất cả
chính quyền về tay Xô Viết”.
Lênin cho rằng có khả năng chuyển toàn bộ chính quyền vào tay các Xô viết
một cách hòa bình, vì lúc này quần chúng công nông đã có trong tay chính quyền của
mình là các Xô viết, giai cấp tư sản chưa dám dùng bạo lực đối với quần chúng, vũ khí
nằm trong tay nhân dân mà nhân dân ủng hộ các Xô viết vàĐảng Bônsêvích có quyền
hoạt động tự do trong quần chúng.
Quần chúnh lúc này còn tạm thời tin ở Chính phủ lâm thời và bọn thỏa hiệp
Mensêvích và Xã hội – cách mạng, vì những luận điệu mò dân của chúng, nhưng ngày
càng thấy rõ rằng Chính phủ lâm thời, do bản chất giai cấp của nó không thể nào giải
quyết được những yêu cầu bức xúc của nhân dân là hoà bình, ruộng đất và bánh mì.
Ngày 18-4 (11-5), Chính phủ lâm thời gửi công hàm cho Đồng minh cam kết sẽ
tiếp tục “đưa chiến tranh đến thắng lợi cuối cùng”. Công hàm này đã thổi bùng lên
ngọn lửa căm phẫn, dẫn đến những cuộc biểu tình của hàng chục vạn quần chúng
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 9 – trong hai ngày 20 và 21-4, dẫn đến Chính phủ lâm thời bò đổ, chính quyền của giai cấp
tư sản bước đầu lâm vào cuộc khủng hoảng và phải cải tổ.
Đầu tháng 6, Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ nhất được triệu tập. Những
người Mensêvích và Xã hội cách mạng chiếm đa số tại hội nghò đã thông qua nghò
Coocnilốp.
Sau vụ Coocnilốp, uy tín của Đảng Bônsêvích ngày càng lên cao. Quần chúng
đã thấy rõ chân tướng của những người Mensevích và Xã hội – cách mạng, nên đuổi
họ ra khỏi các Xô viết. Một quá trình Bônsêvích hóa các Xô viết diễn ra nhanh chóng
trong cả nùc, các Xô viết được chuyển sang tay những người Bônsêvích. Khẩu hiệu
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 10 – “Tất cả chính quyền về tay Xô viết!” tạm gác lại sau sự kiện tháng Bảy vì sự phản bội
của Mensevích và Xã hội – cách mạng lúc đó, nay lại được đưa ra, nhưng với nội dung
mới: giành chính quyền về tay các Xô viết băng khởi nghóa vũ trang. Điều kiện khởi
nghóa đã chín muồi.
Ngày 7-10 (20-10), Lênin bí mật từ Phần lan trở về Pêtơrôgrát. Ngày 10-10, hội
nghò Trung ương Đảng Bônsêvích họp, quyết đònh sẽ tiến hành khởi nghóa vũ trang
ngày 25-10, tức ngày khai mạc Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ II. Trong hội nghò,
một số người không tán thành chủ trương khởi nghóa vũ trang vì cho rằng nước Nga
chưa có điều kiện chín muồi để làm cách mạng XHCN. Sau đó họ đã đăng lên báo
“Đời sống mới” bản tuyên bố của họ chống lại nghò quyết về khởi nghóa vũ trang của
hội nghò Trung ương Đảng. Do đó, kẻ thù đã biết rõ kế hoạch và thời gian của cuộc
khởi nghóa vũ trang. Chúng điều những đơn vò đặc biệt về thủ đô, trấn giữ các đòa điểm
xung yếu và chuẩn bò đàn áp cách mạng.
Tình hình Pêtơrêgrát trở nên hết sức căng thẳng. Trước tình thế khẩn cấp,
Lênin đã quyết đònh khởi nghóa ngay ngày 24-10. Đêm 24-10, Lênin đến viện
Xmônnưi trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghóa. Theo kế hoạch của Lênin đã vạch ra từ
trước, các đơn vò Cận vệ đỏ của công nhân và binh lính cách mạng đã đánh chiếm các
khu vực đầu mối, trụ sở các bộ, tổng đài điện thoại, các nhà ga, các cầu bắc qua sông
Nêva … Lực lượng hầu như không bò tổn thất, quân khởi nghóa đã chiếm được toàn bộ
Pêtơrêgrát và bao vây Cung điện Mùa Đông, nơi ẩn náu cuối cùng của chính phủ tư
sản. Tối 25-10, chiếm hạm Rạng Đông nổ hàng loạt súng lệnh báo hiệu cuộc tấn công
tiên trên thế giới. Chính quyền cách mạng đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, tưởng
chừng không thể đứng vững được. Nó phải giải quyết ba nhiệm vụ quan trọng và cấp
bách:
- Xây dựng một nhà nước kiểu mới, chưa có tiền lệ trong lòch sử
- Bằng mọi cách ra khỏi chiến tranh đế quốc để củng cố chính quyền mới còn
non yếu và xây dựng lại nền kinh tế bò đổ nát
- Đấu tranh chống các lực lượng phản cách mạng bên trong và bên ngoài
1. Nhiệm vụ thứ 1
Đây là một sự nghiệp đầy khó khăn và phức tạp. Phải đập tan bộ máy nhà nước cũ của
tư sản và đòa chủ, thiết lập một bộ máy nhà nước vô sản mới: Nhà nước Xô viết. Công
nhân và nông dân, những người còn thiếu văn hóa và kinh nghiệm quản lý, được cử ra
đảm nhiệm những chức vụ chủ chốt trong chính quyền mới. Trong hệ thống chính
quyền mới này, tòa án nhân dân thay cho tòa án của Nga hoàng; công an nhân dân
thay cho cảnh sát, mật vụ cũ; giải thể quân đội cũ và tổ chức quân đội cách mạng –
Hồng quân (thành lập 1 –1918).
Chính phủ Xô viết tuyên bố xóa bỏ các đẳng cấp xã hội, các tước vò phong
kiến, những đặc quyền của nhà thờ, và tách nhà thờ ra khỏi Nhà nước, trường học
Chính quyền Xô viết còn công bố nam nữ bình quyền, thực hiện rộng rãi các quyền tự
do dân chủ với mọi công dân Xô viết.
Thực hiện sắc lệnh về ruộng đất, Chính phủ đã tiến hành những cải tạo nông
nghiệp cơ bản; nông dân đã được nhận hơn 150 triệu ha ruộng đất của đòa chủ; những
món nợ của nông dân với tổng số khoảng 1,5 tỷ rúp vàng bò xóa bỏ; một số nông
trường quốc doanh đầu tiên được thành lập.
Từ cuối năm 1917, chính quyền Xô viết bắt đầu tiến hành quốc hữu hóa các xí
nghiệp lớn, giao thông vận tải, các ngân hàng và nắm nắm độc quyền về ngoại thương.
Người ta gọi là “cuộc tấn công của Đội cận vệ đỏ ở thành thò”. Nhà nước Xô viết đã
nắm lấy những vò trí chỉ huy của nền kinh tế quốc dân.
lực để xây dựng Hồng quân đông tới 3 triệu người, đủ sức đánh bại quân thù.
Hồng quân lần lượt đánh tan các cuộc tấn công của các đế quốc và bọn bạch
vệ. Năm 1919, đánh bại quân của đô đốc Cônsắc ở mặt trận phía đông; năm 1920,
đánh tan đạo quân của tướng Đênikin ở phía nam và tướng Iêních ở phía bắc; tiếp
đó đánh tan đạo quân của chính phủ tư sản Ba lan và đạo quân của tướng Vơrăngghen.
Năm 1920, Hồng quân đã đánh tan được các cuộc tấn công của 14 nước đế quốc và
các cuộc nổi loạn của bọn tướng tá bạch vệ. Nhà nước Xô viết đã được bảo vệ và giữ
vững.
Như thế trải qua ba năm chiến đấu gian khổ và khốc liệt, giai cấp công nhân và
nhân dân lao động Xô viết đã bảo vệ thành công Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế
giới. Chính quyền Xô viết được giữ vững, nền độc lập và tự chủ của đất nước được
khẳng đònh. Đó là thắng lợi có ý nghóa lòch sử và quốc tế sâu sắc, cổ vũ mạnh mẽ giai
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 13 – cấp công nhân và các dân tộc bò áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghóa tư bản
thế giới.
Nguyên nhân có có tính chất quyết đònh làm cho nước Nga Xô viết đánh bại
thù trong giặc ngoài là sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích do Lênin đứng đầu. Là người
tổ chức vàlãnh đạo cuộc chiến đấu, Đảng Cộng sản đã động viên, lôi cuốn và tổ chức
giai cấp công nhân, nông dân lao động và các nhân dân các dân tộc thiểu số đứng lên
đấu tranh với kẻ thù. Đảng có đường lối lãnh đạo đúng đắn , khai thác và phát huy cao
nhất mọi sức mạnh, mọi nguồn của cải của nhân dân và đất nước để giành chiến
thắng.
Sức mạnh của khối liên minh công nông, tình đoàn kết hữu nghò giữa các dân
tộc Xô viết, cuộc chiến đấu vô cùng ngoan cường của Hồng quân và các đội du kích,
sự đoàn kết và ủng hộ mạnh mẽ của giai cấp công nhân quốc tế và nhân dân bò áp bức
trên toàn thế giới là những nhân tố quan trọng, không thể thiếu được đã đưa tới thắng
lợi vẻ vang của Chính quyền Xô viết.
Năm 1921, sau khi nội chiến chấm dứt, nước Nga Xô viết bước vào thời kỳ hòa
bình xây dựng chế độ mới. Nước Nga Xô viết bắt tay vào xây dựng chủ nghóa xã hội
trong một hoàn cảnh khó khăn đặc biệt:
Nước Nga là nước đầu tiên xây dựng CNXH, khai phá con đường hoàn toàn
mới vào lòch sử.
Nước Nga xây dựng CNXH trong vòng vây thù đòch của chủ nghóa đế quốc,
chúng luôn bao vây về kinh tế và đe dọa tấn công về quân sự.
Điểm xuất phát về kinh tế của nước Nga rất thấp – một nước tư bản lạc hậu hơn nhiều
so với Tây Âu , lại bò bảy năm chiến tranh tàn phá đến kiệt quệ.
Hoàn cảnh đó đã quyết đònh đường lối, biện pháp,hình thức và nhòp độ xây dựng
CNXH ở Liên Xô.
V.I Lênin đã đề ra công thức nổi tiếng: “Chủ nghóa Cộng sản là chính quyền
Xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc, cộng với trật tự đường sắt Phổ, cộng với quản
lí của các tơrớt Mó…”, có nghóa là một nền chuyên chính vô sản (về chế độ chính trò),
cộng với một cơ sở vật chất kỹ thuật cao, tiên tiến, khoa học. Để thực hiện công thức
này, ngay từ năm 1920, tức là khi nội chiến còn chưa kết thúc, Lênin đã đề ra kế
hoạch GOELRO. Đây không những là một kế hoạch vó đại, điện khí hóa nước Nga mà
còn là một dự án “kết hợp hài hòa” nông nghiệp, công nghiệp và giao thông vận tải.
Lênin đã gọi kế hoạch này là cương lónh thứ hai của Đảng.
Nhưng những năm 1921-1925, việc đầu tiên phải làm là khôi phục lại nền kinh
tế bò chiến tranh tàn phá nặng nề. Năm 1920, sản xuất nông nghiệp chỉ bằng ½ mức
chiến tranh, 20 triệu ha đất bò bỏ hoang, mùa màng nhiều nơi bò mất, vấn đề lương thực
trở nên căng thẳng. Công nghiệp còn ở tình trạng suy sụp, khó khăn hơn cả nông
nghiệp, sản lượng chỉ còn bằng 1/7 mức trước chiến tranh. Nhiều sản phẩm chủ yếu
còn giảm sút nhiều hơn: sắt chỉ còn 2,25%, điện 15%, than 23%… Bọn đế quốc và
bạch vệ đã phá hoại ngành giao thông vận tải đường sắt, đường bộ, tàn phá phần lớn
hầm mỏ ở Đônbát, vùng dầu lửa ở Bacu, phá nhiều nhà máy. Các xí nghiệp ngừng
hoạt động vì thiếu nguyên, nhiên liệu. Điện không đủ, thành phố tối tăm, Những hàng
hóa cần thiết cho đời sống hằng ngày hết sức thiếu thốn: bánh mì, thòt muối, dầu hỏa,
xà phòng… Những người cộng sản đã kế thừa kế một nước Nga trung cổ, với những
thực thừa và thay thế bằng thuế lương thực cố đònh (thuế được quy đòng trước vụ gieo
hạt mùa xuân, người nông dân sau khi nộp đủ thuế được tự do bán số lương thực thừa
để mua hàng công nghiệp), cho tự do buôn bán trong nước, mở ra các chợ; những xí
nghiệp không quá 20 công nhân được trả lại cho tư nhân, tư nhân được phép thuê xí
nghiệp, thuê ruộng đất à tự do mua nguyên liệu, bán hàng hóa; cho tư bản nước ngoài
thuê xí nghiệp, khai thác hầm mỏ (dưới hình thức tô nhượng) để lợi dụng vốn, kó thuật
của họ; nhà nước nắm các mạch máu kinh tế: công nghòêp, ngân hàng, giao thông vận
tải, nội và ngoại thương…
Thực chất của những biện pháp này là chuyển từ kinh tế nhà nước nắm độc
quyền về mọi mặt, dựa trên cơ sở cưỡng bức lao động, trưng thu và cung cấp theo kiểu
“cộng sản thời chiến” sang nền kinh tế hàng hóa có sự điều tiết của nhà nước, công
nhận sự cùng tồn tại và phát triển trong một thời gian nhất đònh của nhiều thành phần
kinh tế khác nhau, và sử dụng vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm của tư bản trong và ngoài
nước để thúc đẩy linh tế phát triển.
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 16 – Trong thời kỳ khôi phục kinh tế, chính sách kinh tế mới lấy việc khôi phục và
phát triển nông nghiệp làm căn bản, qua đó thúc đẩy công nghiệp và các ngành kinh tế
khác phát triển. Chính sách thuế nông nghiệp đã kích thích mạnh mẽ người tiểu nông
trong việc làm ăn của họ; thực chất của chính sách này là sự liên minh giữa công nhân
và nông dân trên cơ sở mới về kinh tế.
Cuối năm 1922, toàn thể lãnh thổ Xô viết được giải phóng. Lúc này, công cuộc
xây dựng CNXH và củng cố quốc phòng đòi hỏi các dân tộc trong đất nước Xô viết
phải liên minh khăng khít hơn nữa, về mọi mặt. Ngày 20-12-1922, việc thống nhất các
dân tộc tự nguyện sáp nhập thành một quốc gia duy nhất đã được thực hiện. Liên bang
Cộng hòa XHCN Xô viết (gọi tắt là Liên Xô) chính thức được thành lập. Lúc đầu gồm
bốn nước: Ucraina, Bêlarút, Nga, Ngoại Capcadơ. Đầu năm 1924, hiến pháp của Liên
Xô được ban hành.
tiên phát triển công nghiệp nặng, sản xuất ra các tư liệu sản xuất. Công nghiệp nặng
sẽ là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, củng cố
quốc phòng, và là điều kiện cơ bản để thực hiện tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng
suất lao động.
Việc phát triển công nghiệp nặng đã ít lợi nhuận, vòng quay chậm, lại đòi hỏi
vốn đầu tư lớn, kó thuật cao. Hơn nữa không thể giải quyết vấn đề vốn giống như các
nước tư bản bằng cách bóc lột quần chúng lao động, cướp bóc thuộc đòa bằng chiến lợi
phẩm và tiền bồi thường chiến tranh, hoặc bằng vay mượn nước ngoài (vòng vây
phong tỏa của CNTB khiến Liên Xô không thể vay mượn ai, trông mong vào ai được),
nên Liên Xô chỉ có thể dựa vào chính bản thân mình. Nhân dân Liên Xô đã lấy
phương châm tự lực cánh sinh, phấn đấu gian khổ, “thắt lưng buộc bụng”, để tiến hành
công nghiệp hóa đất nước. Cả đất nước như một công trường lớn. Nhiều nhà máy mới
mọc lên, các nhà máy cũ được khôi phục lại trên cơ sở kó thuật mới. Nhờ lao động
nhiệt tình, đầy hi sinh của nhân dân lao động Liên Xô, công cuộc hóa tiến triển nhanh
chóng.
Năm 1928, tỉ trọng công nghiệp chiếm 54,5% tổng sản lượng công nông nghiệp.
Năm 1929, công cuộc công nghiệp hóa XHCN ở Liên Xô đã thu được những thành tựu
quan trọng và bước ngoặt quan trọng và bước đầu giải quyết được ba vấn đề cơ bản:
vấn đề tích lũy vốn; vấn đề xây dựng một nền công nghiệp nặng có thể tự sản xuất lấy
những máy móc và thiết bò cần thiết; vấn đề nâng cao năng suất lao động (vượt mức
chiến tranh hơn 1,3 lần). Những công trình khổng lồ đã được xây dựng: nhà máy thủy
điện Đơnhiép, nhà máy ô tô Matxcơva, nhà máy kéo Xtalingrat, tuyến đường sắt
Tuyêckextan – Xibia.
III. CÔNG CUỘC TẬP THỂ HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ HOÀN
THÀNH KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1928 –1933)
Đến năm 1929. công nghiệp đã có những bước tiến cơ bản và mang tính chất
XHCN, nhưng nông nghiệp vẫn dựa trên cơ sở sản xuất cá thể phân tán với kó thuật
phương pháp cưỡng bức, mệnh lệnh bắt nông dân phải gia nhập nông tranh tập thể;
đánh tràn lan cả vào đông đảo tầng lớp trung nông; vi phạm hình thức ácten, nhảy sang
hình thức công xã, có nơi tập thể hóa cà nhà cửa, gia súc nhỏ, gà vòt…Cũng vì thế,
nông dân bò kích động, giết hết cả gia súc để ăn trước khi vào nông trang tập thể,
Riêng năm 1929-1930, nông dân đã giết 14 triệu 60 vạn súc vật lớn có sừng, làm cho
ngành chăn nuôi bò thiệt hại nặng nề. Tháng 3-1930, Đảng và Nhà nước Xô viết đã có
những biện pháp sửa chữa, uốn nắn những sai lầm, khuyết điểm này. Nhờ đó, công
cuộc tập thể hóa dần dần đi vào quỹ đạo đúng.
Năm 1931, nông trang tập thể và nông trường đã chiếm 2/3 diện tích trồng trọt
và gần 53% tổng số nông hộ toàn quốc. Tới cuối năm 1932, công cuộc tâp thể hóa
nông nghiệp căn bản hoàn thành.
Đại hội Đảng năm 1927 cũng thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928-
1932), với nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN, hoàn thành tập thể
hóa nông nghiệp, đẩy mạnh công cuộc cách mạng văn hóa, đẩy lùi và tiến tới tiêu diệt
hoàn toàn thành phần kinh tế TBCN ở thành thò và nông thôn.
Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất hoàn thành trước thời hạn (4 năm 3 tháng). Từ
một nước nông nghiệp, Liên Xô đã trở thành một nước công nghiệp. Sản lượng công
nghiệp chiếm 70% tổng sản lượng kinh tế quốc dân. Trong hơn 4 năm đã xây dựng mới
1500 xí nghiệp. Nền công nghiệp Liên Xô lúc này đã có khả năng trang bò kó thuật mới
không chỉ trong công nghiệp mà cả trong các ngành giao thông vận tải, xây dựng và
nông nghiệp.
Cuộc cách mạng văn hóa đã được tiến hành sâu rộng trong toàn quốc. Năm
1930, chính phủ Liên Xô đã thực hiện chế độ giáo dục phổ thông cơ sở bắt buộc.
Trong thời gian kế hoạch 5 năm, số trường cao đẳng công nghiệp đã tăng 10 lần, số
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 19 – trường kó thuật trung cấp tăng 4 lần, ngành đại học đã cung cấp 10 vạn kó sư và cán bộ
đại học.
mọi người và phổ cập giáo dục phổ thông cấp II ở các thành phố. Số học sinh từ 8 triệu
năm 1913 tăng lên 23 triệu năm 1937, số sinh viên cũng tăng từ 112.000 lên 542.000
người; đội ngũ trí thức Xô viết đông tới 10 triệu người. Về mặt xã hội, các giai cấp bóc
lột đã bò thủ tiêu, lúc này chỉ còn lại hai giai cấp lao động là công nhân, nông dân và
tầng lớp trí thức mới XHCN. Mối quan hệ giữa các dân tộc gắn bó hơn trước.
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 20 – Những thành tựu to lớn về mọi mặt trên đã chứng tỏ nhân dân Liên Xô đã hoàn
thành hai nhiệm vụ cơ bản của thời kì quá độ từ CNTB lên CNXH là :
- Xây dựng cơ sở vật chất – kó thuật của CNXH
- Thực hiện những cải tạo XHCN có nghóa là đã bước đầu xây dựng được những
nền móng kinh tế, chính trò và xã hội của XHCN
- Trên cơ sở đó, sự nghiệp xây dựng CNXH còn phải trải qua một quá trình lâu
dài, phải tiếp tục không ngừng củng cố, phát triển và hoàn thiện nó
Để phán ánh những thành quả đó, cuối năm 1936, Hiến pháp mới được thông
qu atahy cho Hiến pháp 1924. Đảng Cộng Sản(B) Liên Xô gọi hiến pháp mới là “Hiến
pháp của CNXH thắng lợi”, đánh dấu sự kết thúc của thời kì quá độ từ CNTB lên
CNXH ở Liên Xô.
Sự phát triển nhanh chóng phi thường của Liên Xô, trong một thời gian rất ngắn
từ một nước nông nghiệp lạc hậu vươn lên đuổi kòp và vượt các nước tư bản tiên tiến
trở thành một đại cường quốc công nghiệp đứng đầu Châu Âu, có một sức mạnh kinh
tế, chính trò, quân sự to lớn đè bẹp được bộ máy chiến tranh khổng lồ của Phát xít Đức
sau này, đó là sự thật lòch sử không ai có thể phủ nhận được, đó là tính ưu việt của
CNXH.
Nhưng mặt khác, công cuộc xây dựng chủ nghóa xã hội ở Liên Xô cũng chứa
đựng một số sai lầm thiếu sót. Sau khi Lênin qua đời (1924), những tư tưởng và nguyên
tắc mà Lênin vạch ra trong công cuộc xây dựng CNXH bò vi phạm. Chính sách kinh tế
mới (NEP) sớm bò xóa bỏ. Nhả nước nắm độc quyền về kinh tế và hình thành chế độ
I. HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VECÙXAI
1. Hoàn cảnh triệu tập Hội nghò
Chiến tranh thế giới kết thúc, các nước thắng trận họp hội nghò ở Vécxai để
chia lại thế giới. Hội nghò khai mạc ngày 18-1- 1919, trong tình hình thế giới có sự
thay đổi lớn, đó là:
- Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga làm cho CNTB không còn là
một hệ thống duy nhất trên thế giới, thúc đẩy phong trào cách mạng
thế giới phát triển đe doạ đến sự tồn tại của CNTB. Vì thế các nước đế
quốc tìm mọi cách để tiêu diệt nước Nga Xô viết .
- Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã tàn phá nghiêm trọng các nước
tham chiến, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các nứoc tư bản
sau chiến tranh, Mỹ vươn lên hàng đầu vè kinh tế, thành chủ nợ của
các nước châu Âu, các nước đế quốc còn lại dù thắng trận hay thất bại
cũng đều bò suy yếu.
Hội nghò gồm đại biểu của 27 nùc tham dự, nắm quyền quyết đònh của
hội nghò là 3 cường quốc Mỹ, Anh, Pháp.
Mỗi nước đế quốc tham gia hội nghò đều có tham vọng mục đích riêng,
mâu thuẫn với nhau, do đó hội nghò diễn ra hết sức gay go quyết liệt.
- Pháp muốn dựa vào ưu thế lục quân của mình để giữ vai trò bá chủ lục
đòa, nhân cơ hội này làm cho Đức suy yếu hết kình đòch với Pháp. Pháp
đòi lại vùng Angiátloren và muốn chiếm vùng Xarơ của Đức, muốn cắt
lãnh thổ của Đức nhập voà Đồng minh Pháp, muốn bắt Đức phải bồi
thường chiến tranh lớn và chòu sự kiểm soát về kinh tế quân sự.
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 22 – - Anh vàMỹ cũng muốn kiềm chế Đức phụ thuộc vào mình vừa muốn
níu giữ Đức cân bằng với Pháp đồng thời lại vừa muốn phục hồi chủ
vẹn lãnh thổ và độc lập chính trò tạm thời, giải quyết những vấn đế tranh cha61p quốc
tế. Nhưng quan hệ quốc tế trước trái với quy ước đều bò hủy bỏ. Nước nào vi phạm
bằng biện pháp kinh tế và tài chính.
Như vậy Hội Quốc liên được thành lập trước hết nhằm giữ gìn trật tự của thế
giới tư bản do các ĐQ chiến thắng sắp đặt tại hội nghò Vécxai . Nó là kết quả sự dung
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hòên đại 1917 –1945 - 23 – hòa mâu thuẫn trong phe ĐQ về việc phân chia lại thế giới chủ yếu là bốn cường quốc
Mỹ, Anh, Pháp, Nhật.
Hội Quốc liên chỉ là một công cụ của chủ nghóa ĐQ nhằm dung hòa và bảo vệ
những quyền lợi giữa các nước ĐQ với nhau, nhưng lại được che đậy bằng những danh
từ đẹp đẽ trang trọng.
b) Hòa ước Vécxai với Đức
Ngày 28-6-1919, phái đoàn nước Đức do Muyle và Ben đại diện nhận Hòa ước
Vécxai, xác nhận sự thất bại của Đức trong chiến tranh thế giới thứ nhất.
Theo hòa ước Đức phải trả cho Pháp hai tỉnh Andát và Loren, nhường cho Bỉ
khu Open và Manmơri, cho Đan Mạch vùng Bắc Sơlétíc, cho ban làn vùng Pốtxnami
và một hành lang chạy ra biển. Còn vùng Xarơ giao cho Hội Quốc liên quản trò. Tách
miền Đông Phổ ra khỏi nước Đức. Các thuộc đòa Đức giao cho các cường quốc khác
quản lí.
Nước Đức bò hạn chế tối đa về vũ trang: được giữ lại 100000 bộ binh, không có
không quân, hải quân. Vùng tả ngạn sông Ranh do quân đội Đồng minh đóng trong
vòng 15 năm, vùng hữu ngạn thành vùng phi quân sự. Đức phải bồi thường chiến phi
do một y ban bồi khoản của Đồng minh quy đònh trước ngày 1-5-1921.
Tóm lại, theo hòa ước Vécxai, Đức mất 1/8 đất đai, 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt. 2/5
sản lïn gang, 1/3 sản lượng thép, và gần 1/7 diện tích trồng trọt. Tuy nhiên gánh nặng
của Hòa ước chủ yếu đè nặng lên vai nhân dân lao động.
Những hòa ước kí kết đó hợp thành hệ thống hòa ước Vécxai. Đó là văn bản
chính thức đầu tiên sau chiến tranh thế giới thứ nhất xác đònh việc phân chia thế giới
và tổ chức lại trật tự thế giới giữa các nước đế quốc thắng trận với nhau.
Tóm lại, hệ thống hòa ước Vécxai là kết quả của một quá trình vừa đấu tranh
vừa thỏa hiệp, xâu xé lẫn nhau giữa các nước đế quốc chiến thắng và chiến bại. Nó
không đảm bảo được hòa bình cho các dân tộc, trái lại làm sâu sắc thêm những mâu
thuẫn của CNĐQ như Uyliam Bulít (cộng tác viên đắc lực của Uynxơn) đã nhận xét
hội nghò hòa bình chỉ làm một việc là chuẩn bò những xung đột quốc tế trong tương lai.
II. HỘI NGHỊ OASINHTƠN VÀ NHỮNG HÒA ƯỚC ĐƯC KÍ KẾT
Hội nghò Véc xai kết thúc không một nước nào thỏa mãn với kết quả của hội
nghò đặc biệt là Mó, thượng nghò viện Mó không thông qua hòa ước Vecxai. Mâu thuẫn
Mó – Anh, Mó – Nhật càng gay gắt hơn do đo tháng 11-1921, Mó triệu tập hội nghò
Oasinh tơn gồm Anh, Pháp, Ý, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Quốc.
Mục đích của Mó là tìm cách củng cố vò trí trên thế giới và khu vực Thái Bình
Dương trên cơ sở làm thiệt hại quyền lợi của các đòch thủ khác trước hết là Anh và
Nhật.
Hội nghò đã kí được ba bản hiệp ước quan trọng:
- Hiệp ước 4 nước (Mó, Anh, Nhật, Pháp) kí ngày 3-12-1921 xác nhận lại
về mặt pháp lí việc phân chia thuộc đòa ở Hội nghò Vécxai. Nhân dòp
đó Mó gây áp lực buộc Anh không gia hạn thêm hiệp ước Liên minh
Anh – Nhật (kí từ 1902) để cô lập Nhật.
- Hiệp ước 9 nước (6-2-1922) nhằm mở rộng cửa Trung Quốc chống lại
lợi ích dân tộc của Trung Quốc,biến Trung Quốc trở thành thò trường
chung của các nước đế quốc.
- Hiệp ước 5 nước (6-6-1922) Mỹ,Anh , Nhật, Pháp, Ý quy đònh tỉ lệ hải
quân cho mỗi nước: Mỹ, Anh bằng nhau; Pháp, Ý bằng nhau; Nhật xếp
sau Mó (theo tỉ lệ mới 5:5:3:1,75:1,75 theo thứ tự các nùc là
Anh:Mỹ:Nhật:Pháp:Ý). Như vậy từ đây Anh mất quyền bá chủ trước