Nguyên lý kế toán nguyễn tất bình, đại học mở tp.hồ chí minh, 2006 - Pdf 13


i
Nguyên lý
kế toán
ª

ii
NGUYỄN TẤN BÌNH
Chủ biên
NGUYÊN LÝ
KẾ TOÁN

Tham gia biên soạn:
 Lê Minh Đức
 Phan Đức Dũng
 Nguyễn Trần Huy

đơn thuần các giao dịch kinh tế phát sinh mà còn phải biết sử
dụng các công cụ tài chính như là một sức mạnh thực sự để
đạt đến mục tiêu. Hơn nữa, với tốc độ phát triển của khoa học
công nghệ, hình ảnh kế toán “giấy với bút” đã được thay thế

bằng máy tính. Đã đến lúc đối xử với kế toán như một khoa
học và nghiên cứu chúng bằng thái độ nghiêm túc.
Quyển sách được trình bày theo kiểu “xẻ dọc”. Theo đó,
mặc dù mỗi chương là một chủ đề nhưng từng chương đều dẫn
đến mục tiêu cuối cùng: các báo cáo tài chính.
Mục tiêu của quyển sách nhằm đến những vấn đề căn
bản của kế tóan, d
ễ đọc, vì chủ đích cho những người mới bắt
đầu. Do vậy, nhiều nội dung nghiệp vụ mang tính chuyên sâu
sẽ không được đề cập trong quyển sách này.

Tác giả.

ii
HƯỚNG DẪN BẠN ĐỌC TỰ HỌC

I. Tinh thần quyển sách:
 Xác định nguyên lý kế toán là một khoa học, cũng
giống như nguyên lý thống kê vậy, không biên giới,
không phụ thuộc vào bất kỳ quy định hay chế độ của
bất kỳ quốc gia nào; Và mục tiêu của quyển sách chỉ
nhằm đến những nội dung căn bản của kế toán, dành
cho những người mới bắt đầu.
 Tuy nhiên, sau khi nắm vững nguyên lý kế toán bạn có
thể tiếp tục nghiên cứu chi tiết hơn, rèn luyện kỹ năng,

.

CHÚC BẠN ĐỌC MAY MẮN !
Tác giả.

iv
Mọi trao đổi, góp ý với tác giả
xin vui lòng gửi về địa chỉ:
1
Chương 1
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ
KẾ TOÁN
Nội dung học tập của chương này:
1. Hiểu được tại sao thông tin do kế toán cung cấp lại trợ
giúp trong việc ra quyết định.

giới của kế toán, và chúng ta sẽ sớm nhận ra rằng những gì mà
kế toán mang lại là nhằm để quản lý các hoạt động kinh
doanh và tình hình tài chính một cách dễ dàng, giúp cho các
nhà đầu tư hay các cổ đông biết cách sử dụng các thông tin kế
toán để có sự hiểu biết tốt hơn về doanh nghiệp mà họ đang có
quyền lợi ở đó.
Trước khi bắt đầu, để giúp b
ạn đọc thêm tự tin chúng tôi xin
có một lời khẳng định rằng, mọi doanh nghiệp dù lớn hay
nhỏ, cũ hay mới, sản xuất hay dịch vụ, tư nhân hay nhà nước,
và dù bất kể chế độ kinh tế nào cũng đều có cùng một quy
trình kế toán căn bản giống hệt như nhau, trên phạm vi toàn
cầu.
Cuốn sách, vì vậy sẽ không lệ thuộc vào, và cũng không đề
cập đến ch
ế độ kế toán riêng lẻ của một quốc gia cụ thể nào.
Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu bạn có thể hiểu, thậm chí tự rèn
luyện thêm kỹ năng để làm nghề kế toán ở bất cứ đâu, Việt

3
Nam hay Mỹ, Trung Quốc hay Châu Âu, chỉ bởi vì kế toán là
một khoa học, và nguyên lý kế toán thì chỉ có một mà thôi.
Tuy nhiên, ngoài chuẩn mực kế toán quốc tế
1
do Liên đoàn kế
toán thế giới thống nhất và nỗ lực cập nhật thường xuyên
thông qua các kỳ họp, mỗi quốc gia thường xây dựng chuẩn
mực kế toán của riêng mình. Ở
Việt Nam, khi thực hành kế toán
các bạn sẽ tham khảo các chuẩn

cung cấp lại trợ giúp trong
việc ra
q
u
y
ết định.4
Theo đó, cả những người bên trong công ty, tức các nhà quản
trị lẫn bên ngoài công ty sử dụng các thông tin kế toán này
trong việc ra quyết định như thế nào, cái gì, khi nào, quyết
định mua hay quyết định bán.
BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN
Nhiệm vụ của kế toán là tổ chức và tổng hợp các thông tin
kinh tế để những người ra quyết định có thể sử dụng chúng.
Các thông tin được trình bày dưới dạng các bảng biểu được
gọi là các báo cáo tài chính. Để lập các báo cáo này, các kế
toán viên phải xác định, ghi chép, lượng hóa, tích lũy, tổng
hợp, phân loại, báo cáo và diễn giải các sự kiện kinh tế ảnh
hưởng tới công ty về mặt tài chính.
Hàng loạt các bước liên quan tới việc ghi chép và chuyển
thông tin vào trong các báo cáo tài chính được gọi là hệ thống
kế toán. Các kế toán viên phân tích các thông tin cần thiết cho
các nhà quản trị và những người ra quyết định và thiết lập một
hệ th
ống kế toán sao cho đáp ứng tốt nhất những nhu cầu nêu
trên.
Giá trị đích thực của bất kỳ hệ thống kế toán nào là ở chỗ chất
lượng các thông tin mà nó cung cấp, chứ không phải là những

6
 Một nhà đầu tư đang cân nhắc nên mua cổ phiếu của REE
hay của SAMCO thì cần phải tham khảo các báo cáo kế toán
được công bố và so sánh kết quả tài chính trong thời gian gần
đây giữa hai công ty. Những thông tin trong các báo cáo sẽ
giúp người mua cổ phiếu ra quyết định đầu tư.
 Một đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố đang phản biện
kế hoạch xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp s
ẽ tác
động như thế nào đến ngân sách thành phố. Các thông tin kế
toán cho biết kế hoạch này nếu được thực hiện sẽ tiêu tốn bao
nhiêu ngân sách và sẽ huy động bằng nguồn kinh phí nào.
 Một ngân hàng xem xét cho một công ty vay tiền để mở
rộng sản xuất thì cần phải kiểm tra kết quả kinh doanh trong
quá khứ, tình hình tài chính hiện tại, và dự đoán công ty sẽ sử
dụng số tiền vay vào hoạt động mới như
thế nào.
Kế toán giúp cho việc ra quyết định bằng cách chỉ ra đồng tiền
sẽ được chi tiêu ở đâu và khi nào, các cam kết đã được thực
hiện ra sao, đánh giá hiệu quả kinh doanh, và đưa ra các kiến
nghị tài chính cho việc lựa chọn kế hoạch này hay bác bỏ kế
hoạch khác. Kế toán cũng giúp dự báo tác động của các quyết
định, và chỉ ra các vấn đề khó khăn, những bất hợp lý, những
v
ấn đề hiện tại cũng như các cơ hội trong tương lai.
Mối liên hệ cơ bản trong tiến trình ra quyết định sau:

Các sự
kiện hay
giao dịch

vị.
Có 2 câu hỏi chủ yếu liên quan tới sự thành công về tài
chính của một doanh nghiệp mà những người ra quyết
định
muốn được giải đáp là:
Tình hình tài chính vào một ngày cụ thể nào đó ra sao?
Và hiệu quả kinh doanh trong thời gian vừa qua như thế nào?
Kế toán quản trị chỉ phục
vụ bên trong tổ chức.
Mục tiêu học tập 2: Phân
biệt kế toán tài chính và kế
toán quản trị. 8
Các kế toán viên trả lời hai câu hỏi trên bằng ba báo cáo
tài chính chủ yếu: bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và
báo cáo ngân lưu.
Bảng cân đối kế toán phản ảnh tình hình tài chính của doanh
nghiệp vào một thời điểm cụ thể, ví dụ ngày 31/12/2005. Hai
báo cáo còn lại phản ánh hiệu quả hoạt động của cả một thời
kỳ, ví dụ năm 2005.
Sự tín nhiệm và vai trò kiểm toán
Các nhà qu
ản trị là những người có trách nhiệm cung cấp các
báo cáo tài chính của công ty, nhưng có thể họ sẽ chủ quan vì
vậy phải cần đến một bên thứ ba, đó là các kiểm toán viên.
Kiểm toán viên sẽ xem xét các thông tin mà các nhà quản trị
đưa ra trong các báo cáo tài chính nhằm đảm bảo rằng chúng
thể hiện đúng đắn và chính xác về tình hình hoạt động kinh


2. Phân biệt kế toán tài chính và kế toan quản trị. Sự
khác nhau chủ yếu giữa hai khái niệm này là do chúng được sử
dụng cho hai nhóm người ra quyết định khác nhau. Kế toán tài
chính chủ yếu phục vụ cho những người bên ngoài công ty,
chẳng hạn như các cổ đông, nhà cung cấp, ngân hàng, sở thuế
và các cơ quan quản lý nhà nước. Trong khi Kế toán quản trị
chỉ nhằm để phục vụ cho nhữ
ng người bên trong công ty như
các nhà quản trị cấp cao, giám đốc hay trưởng các phòng ban,
đơn vị.

3. Kiểm toán giúp tăng cường chất lượng thông tin kế
toán. Sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý ở công ty
đã phát sinh nhu cầu kiểm toán, tức cần một bên thứ ba để
kiểm tra các báo cáo tài chính. Các kiểm toán viên kiểm tra

11
công tác hạch toán của công ty và kiểm tra chi tiết các nghiệp
vụ và số dư cuối kỳ để đảm bảo rằng các báo cáo tài chính
phản ánh một cách trung thực tình hình tài chính của công ty.

12
Chương 2
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Nội dung học tập của chương này:

t. Bảng cân đối kế toán của
Công ty Baco sẽ được thiết lập như sau:
C
Bảng cân đối kế toán là một trong
ba báo cáo tài chính chủ yếu, nó cho
biết tình hình tài chính của công ty
tại một thời điểm cụ thể, ví dụ tại
ngày 31/12/2005.
Mục tiêu học tập 1:
Mô tả các thành phần của bảng cân
đ
ối kế toán.

13
Công ty Baco
Bảng cân đối kế toán, ngày 31/12/2005
Đơn vị: triệu đồng
Tài sản Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu
Tiền mặt 500 Nợ phải trả (vay ngân hàng) 100
…… Vốn chủ sở hữu (vốn của anh Thanh) 400
Tổng tài sản 500 Tổng Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu 500
Các thành phần trong bảng cân đối kế toán cho biết tình
trạng tài chính của công ty Baco vào ngày 31/12/2005.
Tài sản của Baco tại thời điểm này trị giá 500 triệu đồng
được trình bày ở cột bên trái. Chúng cân bằng với cột bên phải gồm
nợ phải trả và vốn chủ sở hữu (vay ngân hàng 100 triệu và 400 triệu
của anh Thanh bỏ ra).
Phần bên trái và bên phải luôn bằng nhau, nên mới được
gọi là bảng cân đối.
Từ dạng “bảng cân đối”



p
hải trả.14
nghiệp bắt đầu hoạt động, vốn chủ sở hữu được xác định bằng tổng
số tiền đầu tư của chủ doanh nghiệp.
Do đó, từ đẳng thức kế toán căn bản trên đây, vốn chủ sở
hữu có thể hiểu và viết lại như sau:
VỐN CHỦ SỞ HỮU = TÀI SẢN – NỢ PHẢI TRẢ
Các giao dịch tác động lên bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán chịu tác
động của mỗi giao dịch của đơn
vị hạch toán. Đơn vị hạch toán
là một tổ chức độc lập hoặc một
bộ phận trực thuộc hoạt động
như một chủ thể kinh tế độc lập.
Giao dịch là các sự kiện có tác động lên tình hình tài chính
công ty và có thể ghi nhận bằng đơn vị tiền tệ.
Để gọi là một giao dịch (có thể ghi chép được), phải trả lời
được cả ba câu hỏi. Giao dịch ảnh hưởng đến:
Khoản mục nào; Tăng hay giảm; Bao nhiêu.
Mỗi giao dịch chỉ có thể rơi vào một trong bốn trường hợp:

T
À
I


1:
T
à
i
s

n

t
ă
n
g
,
T
à
i
s

n

g
i

m

Tr
ườ
ng
hợ
p

16
ườ
ng
hợ
p
4:
à
i
s

n

t
ă
n
g
ồn
tăng
Vì vậy, sau mỗi giao dịch đẳng thức vẫn cân bằng. Một kế
toán viên lập bảng cân đối kế toán mà không cân bằng thì chắc chắn
là đã sai ở một chỗ nào đó.
Giao dịch 1
: Đầu tư ban đầu. Giao dịch đầu tiên của công ty Baco
là chủ doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào ngày 31/12/2005. Anh
Thanh có thể cất 400 triệu đồng tiền mặt trong két sắt hoặc có thể
mang gởi tại một tài khoản mang tên công ty Baco ở ngân hàng
3
.
Đẳng thức kế toán được thiết lập như sau:


phải trả 100 triệu đồng và vốn chủ sở hữu 400 triệu đồng).
Giao dịch 3
: Mua hàng nhập kho trả tiền mặt. Ngày 02/01/2006
mua bánh kẹo từ nhà máy về nhập kho trị giá 150 triệu đồng.
Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Tiền mặt Hàng tồn kho Vay ngân hàng Vốn anh Thanh
Dư đầu kỳ 500 = 100 + 400
(3) -150 +150 = 0 + 0
Dư cuối kỳ 350 150 = 100 + 400

Đối với giao dịch này, dùng tiền mặt mua hàng nhập kho
nên làm tăng một loại tài sản là Hàng tồn kho và làm giảm một loại
tài sản khác là Tiền mặt với cùng một giá trị như nhau. Hàng tồn
kho là tài sản mà công ty nắm giữ với mục đích để bán ra cho
khách hàng, kiếm lời. Từng loại tài sản đã thay đổi về giá trị, tuy
nhiên tổng cộng giá trị tài sản vẫn không đổi. Ngoài ra, phần bên
phả
i cũng không có gì thay đổi.
Baco có thể lập bảng cân đối kế toán
tại bất cứ thời điểm nào, ngay cả sau mỗi giao
dịch. Bảng cân đối kế toán ngày 02/01/2006 sau
3 giao dịch phát sinh đầu tiên sẽ như sau:
500 500
Hàng tồn kho là
tài sản mà công ty
nắm giữ chờ bán
ra, kiếm lời.
500500

19

(từ giao dịch 4 đến giao dịch 10) như sau:
4. Ngày 03/01, Công ty Baco mua một lô bánh kẹo trị giá 10 triệu
đồng từ nhà máy SABICO. Nhà máy yêu cầu thanh toán 4 triệu
đồng vào ngày 10/01, số còn lại chậm trả trong vòng 2 tháng.

4
Một khi hệ thống kế toán được “phần mềm hoá”, có lẽ nhiệm vụ của kế toán viên chỉ
còn là phân tích, định khoản mà thôi.
Tài khoản là một ghi
chép tóm tắt về những
thay đổi của một tài sản,
một loại nợ phải trả hay
một loại vốn chủ sở hữu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status