Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lưu vực sông Thị Vải nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, chảy qua
địa phận các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh với diện tích lưu
vực là 394 km
2
.
Sông Thị Vải dài khoảng 46km, lòng sông sâu (trung bình 30 – 50 m) và rộng
(trung bình 300 – 800 m) nên rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, đặc biệt là
xây dựng các cảng nước sâu. Vùng tả ngạn sông Thị Vải có trục quốc lộ 51 - tuyến
đường huyết mạch nối liền thành phố biển Vũng Tàu với các trung tâm kinh tế lớn
như TP Hồ Chí Minh, TP Biên Hòa cùng với hệ thống cảng nước sâu thì quá trình
phát triển công nghiệp và cảng dọc theo lưu vực sông là điều tất yếu.
Quá trình phát triển công nghiệp trong khu vực đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế
cho địa phương nói riêng và cả nước nói chung (như tăng nguồn thu cho ngân sách
nhà nước qua thuế, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng vạn lao động…) mặt
khác lại là nguyên nhân làm gia tăng các hoạt động xấu, làm nảy sinh nhiều vấn đề
tiêu cực đối với môi trường, đặc biệt là sự suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước
sông Thị Vải.
Thực tế, nước thải tại các khu công nghiệp đã làm cho nước sông Thị Vải bị ô
nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là từ khu vực cảng Phú Mỹ trở lên Nhơn Trạch. Điều
đó được thể hiện qua màu nước sông đã bị chuyển sang màu đen và có mùi hôi thối
rất khó chịu, các chỉ tiêu phân tích chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn, hệ động -
thực vật thủy sinh và động vật đáy bị ảnh hưởng nghiêm trọng theo chiều hướng
xấu cả về thành phần và số lượng loài. Tuy nhiên từ sau năm 2008, khi vụ việc vi
phạm của công ty Vedan bị phát hiện và ngăn chặn, công tác quản lý và bảo vệ môi
trường trên lưu vực sông Thị Vải diễn ra chặt chẽ hơn, đã có nhiều hệ thống xử lý
nước thải được xây dựng và hoạt động. Hiện nay, các nhà máy, xí nghiệp trên lưu
1
- Xây dựng biện pháp bảo vệ môi trường như biện pháp quản lý, giảm thiểu ô
nhiễm tại nguồn, giám sát ô nhiễm…
3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn đánh giá chất lượng nước trên sông Thị Vải đoạn chảy qua huyện
Tân Thành.
Tổng hợp và phân tích những nguyên nhân làm thay đổi chất lượng nước trên
sông Thị Vải từ thượng nguồn đến khu vực hợp lưu Thị Vải – Gò Gia.
4. Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp được sử dụng để thực hiện luận văn này:
- Thu thập và tổng hợp tài liệu: các số liệu về khí tượng, thủy văn, địa chất,
hiện trạng môi trường, kinh tế - xã hội…được thu thập và tổng hợp cho phù hợp với
giới hạn của đề tài.
- Lựa chọn các thông số giám sát: lựa chọn một số thông số đặc trưng dựa trên
đặc điểm của các nguồn thải chính có khả năng làm biến đổi chất lượng nước sông
Thị Vải gồm: nhiệt độ, TSS, pH, DO, BOD
5
, COD, N-NH
4
+
, N-NO
3
-
, N-NO
2
-
, tổng
N, tổng P…Các thông số được phân tích tại Trung tâm Quan trắc và Kĩ thuật Môi
trường bằng các phương pháp như trong bảng 3.4.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở kế thừa các tài liệu nghiên cứu trước đây:
4
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
Hình 1.1. Bản đồ sông Thị Vải đoạn khảo sát
5
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
1.1.2. Đặc điểm khí tượng
Với vị trí địa lý như trên nên đặc điểm khí hậu mang tính chất khí hậu ven biển
tương đối ổn định, nắng nóng, mưa nhiều và có hai mùa rõ rệt:
- Mùa khô: (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc, ít mưa .
- Mùa mưa: (từ tháng 5 đến tháng 10) chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam,
mưa nhiều, chiếm 90% lượng mưa cả năm.
Chế độ nhiệt
Nhiệt độ không khí trung bình năm tương đối cao và ít biến động qua các tháng
trong năm. Theo số liệu của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, nhiệt không
khí trung bình năm tại huyện Tân Thành giai đoạn 2006 – 2011 dao động trong
khoảng 27,3 – 27,9
o
C. Nhiệt độ cao nhất vào tháng 4 (khoảng 29,5
o
C), thấp nhất
vào tháng 1 (khoảng 25,4
o
C). Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất
và tháng lạnh nhất là khoảng 4
o
C.
Năm 2007 2008 2009 2010 2011
Nam, Tây – Tây Nam với vận tốc trung bình khoảng 2 – 4 m/s, mang theo nhiều hơi
nước và gây mưa nhiều.
- Vào các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4) chủ yếu là gió mùa Đông,
Đông - Bắc mang ít hơi nước.
- Hướng gió chuyển tiếp giữa hai mùa là hướng Đông – Đông Nam.
1.1.3. Đặc điểm thủy văn
Sông Thị Vải bắt nguồn từ suối Bưng Môn (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai)
kéo dài đến cửa Cái Mép (huyện Tân Thành, tỉnh BR – VT ) và cuối cùng đổ ra
vịnh Gành Rái với tổng chiều dài sông khoảng 46 km. Tại hạ lưu của sông có một
số nhánh nối với hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai như Tắc Nha Phương, sông Gò
Gia. Có 4 phụ lưu đổ vào sông Thị Vải là: sông Sóc, sông Quýt, sông Nước Lớn,
7
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
sông Chân. Ngoài các phụ lưu trên còn có một số suối nhỏ đổ vào với lưu lượng
không đáng kể.
Sông Thị Vải có phần thượng nguồn rất nhỏ bé và có thể coi nó là một con sông
cụt nếu so sánh ảnh hưởng của phần thượng nguồn này với ảnh hưởng của phần hạ
nguồn.
Sông Thị Vải là một hệ thống tương đối biệt lập nhờ các giáp nước và nối với
vịnh Gành Rái. Vịnh này là một vùng biển nông và tương đối khép kín. Đường bờ
sông Thị Vải khá quanh co.
Sông Thị Vải không có các mùa kiệt và mùa lũ tương ứng với hai mùa khô và
mùa mưa như các sông khác trong vùng Nam bộ. Ở đây chỉ có thể có các cơn lũ
quét nhỏ, thời gian ngắn hay sự ngập úng do mưa lớn tại chỗ, tuyệt đối không có lũ
dài ngày do nước trên thượng nguồn đổ về.
Bảng 1.1: Các yếu tố đặc trưng của hệ thống sông Thị Vải
Tên sông Sóc Quýt Nước Lớn Chân Thị Vải
Cao độ nguồn 175 125 100 50 265
Chiều dài sông (km) 16 16 21 24 76
lưu lượng cực đại khoảng +11,236 m
3
/s (cực tiểu khoảng +7,252 m
3
/s). Tại khu vực
Gò Dầu, dòng chảy vào có hướng Đông Bắc với vận tốc cực đại -54,2 cm/s (cực
tiểu -9,3 cm/s) và lưu lượng cực đại khoảng -3,129 m
3
/s (cực tiểu -0,572m
3
/s), dòng
chảy ra có hướng Tây Nam với vận tốc cực đại khoảng +80,7 cm/s (cực tiểu +4,3
cm/s) và lưu lượng cực đại khoảng +5,034 m
3
/s (cực tiểu +188 m
3
/s).
Chế độ thủy triều
Diễn biến mực nước lên xuống theo thủy triều
Triều lên lúc 4 – 9h sáng và 16 – 23h đêm, triều xuống lúc 9 – 16h và 23 – 4h
sáng hôm sau. Mực nước sông trung bình thay đổi từ 39 – 35 cm. Mực nước cao
nhất đã quan trắc được là +180 cm, mực nước thấp nhất là -329 cm. Giá trị trung
9
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
bình của độ lớn thủy triều là 310 cm, độ lớn thủy triều lớn nhất là 465 cm và độ lớn
thủy triều nhỏ nhất là 141 cm. Lưu lượng nước cực đại pha triều rút là 3.400 m
3
/s.
Lưu lượng nước cực đại pha triều lên là 2.300 m
Đông Tp.HCM năm 1994 cho thấy phần lớn diện tích lưu vực sông Thị Vải đợc phủ
bởi các trầm tích thềm sông, thềm biển hệ Đệ Tứ gồm các phân vị địa tầng sau:
Thống Pleistocen, phụ thống hạ - phần trên:
Gồm các trầm tích hỗn hợp sông - biển (amQ
I
3
tb) phân bố tại vùng trũng cửa
sông trong khu vực Vũng Tàu - Cần Giờ và hoàn toàn không lộ ra trên mặt. Trầm
tích có đặc điểm thường xen kẹp giữa phần thô và phần mịn theo mặt cắt đứng. Bề
dày trầm tích biến đổi, tăng dần về phía Tây Nam từ khoảng 5 – 10 m đến trên 20 –
25 m. Trong trầm tích thường chứa di tích cổ sinh với mức độ không đồng đều và ít
phong phú, trong đó các dạng ưu mặn chiếm đa số.
Thống Pleistocen, phụ thống trung - phụ thống thượng – phần dưới:
Gồm các trầm tích sông - biển hỗn hợp (amQ
II-III
1
tđ): các trầm tích này phân bố
từ khu vực trung tâm bắt đầu từ Hố Nai – Trảng Bom và mở rộng về phía Nam qua
Long Thành – Nhơn Trạch kéo dài tới Vũng Tàu. Trầm tích thường có thành phần
hạt mịn chiếm ưu thế. Trong trầm tích rải rác gặp di tích thực vật và bào tử phấn
hoa không đồng đều, ở các mặt cắt vùng thấp còn gặp cả di tích tảo nước mặn xen
nước lợ, di tích vỏ động vật biển và trừng lỗ, đặc biệt là quanh khu vực Vũng Tàu.
Bề dày trầm tích biến đổi chủ yếu trong khoảng 10 – 30 m và có thể tới 40 – 50 m
trong các mặt cắt đầy đủ ở Vũng Tàu.
Thống pleistocen, phụ thống thượng - phần trên:
Gồm các trầm tích hỗn hợp sông - biển (am): các trầm tích đồng bằng cửa sông
(am) của hệ tầng Củ Chi phân bố quanh khu vực Long Thành về phía Tây và Tây
Nam qua Nhơn Trạch xuống Mỹ Xuân – Phú Mỹ tạo bề mặt ngang khá ổn định từ 8
– 15 m. Đặc điểm chung của trầm tích có độ lựa chọn vừa phải, ít hạt thô (cuội),
càng về phía Nam (từ phía Nam Nhơn Trạch trở xuống) có độ chọn lọc khá và chứa
Tân Thành
Xã Mỹ Xuân 37.059 19.544
Thị trấn Phú Mỹ 3.174 20.235
Xã Tân Phước 5.500 8.322
Xã Phước Hòa 5.540 10.896
Tổng cộng 74.546 96.708
Nguồn: Tổng hợp số liệu năm 2006
1.2.2. Văn hóa – giáo dục
Nhìn chung mặt bằng trình độ dân trí của những người trong độ tuổi lao động
trong vùng còn thấp. Đa số người dân học hết cấp 1, cấp 2 đã nghỉ học do gia đình
gặp nhiều khó khăn, và do các công việc lúc bấy giờ chưa đòi hỏi trình độ cao (như
làm ruộng lúa, làm muối, đánh bắt thủy sản). Đây là một hạn chế trong việc tuyển
lựa công nhân có kĩ thuật người địa phương phục vụ cho các khu công nghiệp.
12
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
Những năm gần đây, việc đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo nghề ven lưu vực
sông Thị Vải đã được chú trọng, trình độ dân trí được nâng cao rõ rệt.
1.2.3. Vệ sinh môi trường – y tế
Công tác vệ sinh môi trường trên khu vực chưa tốt: hầu hết các hộ gia đình đều
đã có nhà vệ sinh riêng nhưng phân và nước thải của các chuồng chăn nuôi gia cầm
gia súc còn tùy tiện nên làm ô nhiễm môi trýờng và phát triển ruồi, muỗi gây dịch
bệnh cho khu dân cư. Hiện nay, mới chỉ có các xã dọc theo trục đường chính (như
quốc lộ 51) và những nơi đông dân cư như chợ, trường học có dịch vụ thu gom rác
thải sinh hoạt, còn lại vẫn xả rác bừa bãi hoặc thiêu đốt tự tiện không hợp vệ sinh.
Hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt vẫn chưa có nên hiện tượng ngập úng thường
xảy ra vào mùa mưa.
Công tác khám chữa bệnh ở các xã trong vùng nhìn chung tương đối tốt, hầu hết
các xã đều có trạm y tế và bác sĩ khám chữa bệnh, sức khỏa người dân được đảm
bảo.
sinh Caesar Việt Nam…
- Công nghiệp thuộc da, dệt may.
- Công nghiệp điện - điện tử - cơ khí.
Nuôi trồng và khai thác thủy sản
Nghề khai thác thủy sản mang tính truyền thống lâu đời của nhiều hộ dân tại
đây. Trước đây, nghề khai thác thủy sản rất phát triển, chủ yếu là khai thác tôm, cá
trên sông rạch. Trong những năm gần đây, sản lượng khai thác đang có chiều hướng
giảm dần do môi trường nước bị ô nhiễm và nạn sử dụng xung điện khai thác thủy
sản đã làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản.
14
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
Việc phá rừng để làm ao nuôi tôm đã làm diện tích rừng ngập mặn giảm đi đáng
kể, cộng với việc lạm thác nguồn lợi thủy sản của ngư dân đã làm suy kiệt nguồn lợi
thủy sản của rừng ngập mặn. Trên 50% hộ dân hành nghề khai thác trước đây có
điều kiện đã chuyển sang nghề khác để sinh sống. Những hộ không đủ điều kiện để
chuyển nghề khác do thu nhập không đủ trang trải có nhiều người vẫn cố tình sử
dụng những nghề mang tính hủy diệt như te điện, cào điện để khai thác thủy sản
trong khi Chính phủ đã có quy định cấm từ lâu.
15
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
Chương 2
TỔNG QUAN CÁC THÔNG SỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
2.1. Các thông số đặc trưng cho chất lượng nước mặt
2.1.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ của nước có vai trò quan trọng đối với các quá trình sinh hóa diễn ra
trong thủy vực. Nhiệt độ nước quá cao sẽ ảnh hưởng tới tốc độ phân hủy vật chất,
tới độ oxy hòa tan… do đó ảnh hưởng tới chất lượng nước và ảnh hưởng tới thủy
sinh vật.
loại. Trong nông nghiệp, chloride tác động lên cây trồng làm giảm sản lượng và
chất lượng nông phẩm.
Chloride có trogn tất cả các loại nước tự nhiên. Nguồn nước ở vùng cao và đồi
núi thường chứa hàm lượng chloride thấp, trong khi nước sông và nước ngầm lại
chứa một lượng chloride rất cao. Chloride tồn tại trong nước theo nhiều cách:
- Nước hòa tan chloride từ tầng đất mặt, hay các tầng đất sâu hơn.
- Bụi mù từ biển di chuyển vào đất liền dưới dạng những giọt nhỏ bổ sung liên
tục chloride vào đất liền.
- Nước biển xâm nhập vào các con sông gần biển và tầng nước ngầm lân cận.
- Chất thải của con người trong sinh hoạt và sản xuất.
2.1.4. Giá trị pH
pH là chỉ số đặc trưng cho nồng độ ion H
+
trong dung dịch, đặc trưng cho độ
axit hay độ kiềm của nước.
Độ pH của nước có liên quan đến dạng tồn tại của kim loại và khí hòa tan trong
nước. pH của nước sẽ ảnh hưởng tới các quá trình hóa học như quá trình đông tụ
hóa học, sát trùng, ăn mòn… Độ pH còn ảnh hưởng tới sự cân bằng các hệ thống
hóa học trong nước, qua đó ảnh hưởng tới đời sống thủy sinh vật. Ví dụ, khi nước
17
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
trong thủy vực có tính axit thì các muối kim loại tăng khả năng hòa tan, gây độc cho
thủy sinh vật. Do vậy pH rất có ý nghĩa về khía cạnh sinh thái môi trường.
2.1.5. Hàm lượng chất rắn
Chất rắn trong nước là sự có mặt của tất cả các chất (vô cơ và hữu cơ) hiện diện
trong nước, ngoại trừ bản thân nước (H
2
O). Các chất rắn hiện diện trong nước từ
nhiều nguồn khác nhau như: quá trình các chất rửa trôi từ đất, quá trình phân hủy
chất ô nhiễm. Trong kiểm soát ô nhiễm các dòng chảy, đòi hỏi phải duy trì DO
trong giới hạn thích hợp cho các loại động vật thủy sinh. Việc xác định DO được
dùng làm cơ sở xác định BOD để đánh giá mức độ ô nhiễm của nước thải. Do là
yếu tố liên quan đến khống chế sự ăn mòn sắt, thép…
Nồng độ oxy hòa tan trong nước (DO) tuân theo định luật Henry. Đối với nước
mặt, nồng độ oxy hòa tan trong nước phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ và thường
nằm trong khoảng 14,6 mg/l ở 0
o
C đến 7 mg/l ở 35
o
C dưới áp suất 1atm. Nếu nước
có độ khoáng hóa càng cao (nồng độ muối cao) thì khả năng hòa tan oxy càng thấp.
Khả năng hòa tan của oxy vào nước ương đối thấp, do vậy cần phải hiểu rằng khả
năng tự làm sạch của các nguồn nước tự nhiên là rất có giới hạn. Do đó, hàm lượng
oxy hòa tan là thông số đặc trưng cho mức độ nhiễm bẩn chất hữu cơ của nước mặt.
Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DO:
- Sự khuếch tán oxy từ không khí vào nước: lượng oxy khuếch tán vào nước
phụ thuộc vào nhiệt độ, sự có mặt của các khí khác trong nước, nồng độ oxy hòa tan
trong nước.
- Sự tiêu hao oxy do quá trình phân hủy sinh học chất hữu cơ: lượng tổn thất
oxy do nhu cầu phân hủy sinh học chất hữu cơ của các vi khuẩn hiếu khí được coi là
lượng tiêu hao oxy lớn nhất trong nước. Lượng tiêu hao này phụ thuộc vào bản chất
và lượng chất ô nhiễm hữu cơ, lượng và loại vi khuẩn, nhiệt độ, thể tích ao hồ, lưu
lượng và tốc độ dòng chảy.
19
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
- Sự tiêu hao oxy do quá trình phân hủy các chất hữu cơ ở đáy thủy vực tạo ra
quá trình phân hủy yếm khí thải ra các loại khí độc hại (NH
3
BOD là một thông số quan trọng:
- Là chỉ tiêu duy nhất để xác định lượng chất hữu cơ có khả năng phân hủy
sinh học.
- Là tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng các dòng thải chảy vào các thủy vực
thiên nhiên.
- Là thông số bắt buộc để tính toán mức độ tự làm sạch của nguồn nuocw,
phục vụ công tác quản lý môi trường.
20
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
2.1.8. Nhu cầu oxy hóa học (COD – Chemical Oxygen Demand)
COD là nhu cầu oxy cần thiết để oxy hóa các chất hữu cơ trong điều kiện môi
trường oxy hóa mạnh và nhiệt độ cao. Về bản chất, đây là thông số được sử dụng để
xác định tổng hàm lượng các chất hữu cơ có trong nước, bao gồm cả nguồn gốc
sinh vật và phi sinh vật. Ở đây chất oxy hóa chính là oxy và quá trình oxy hóa được
thực hiện nhờ hoạt động sống của vi sinh vật hiếu khí. Như vậy, nếu xác định được
lượng oxy tiêu thụ trong quá trình này cũng có nghĩa là xác định được hàm lượng
chất hữu cơ trong môi trường.
COD là một thống số quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm chất hữu cơ nói
chung và cùng với thông số BOD
5
, giúp đánh giá phần ô nhiễm không phân hủy
sinh học của nước từ đó có thể lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp.
Trong môi trường nước tự nhiên, ở điều kiện thuận lợi nhất cũng cần đến 20
ngày để quá trình oxy hóa chất hữu cơ được hoàn tất. Tuy nhiên, nếu tiến hành oxy
hóa chất hữu cơ bằng chất oxyx hóa mạnh (mạnh hơn hẳn oxy) đồng thời lại thực
hiện phản ứng oxy hóa ở nhiệt độ cao thì quá trình oxy hóa có thể hoàn tất trong
thời gian rút ngắn hơn nhiều. Đây cũng là ưu điểm nổi bật của thông số này so với
thông số BOD
5
điều kiện để amoni chuyển thành khí.
Nitrit và nitrat là các hợp chất có nguồn gốc từ nitơ, đây là nguồn dinh dưỡng
quan trọng cho thực vật và tảo. Nếu nồng độ nitrat > 10 mg/l sẽ rất thích hợp cho sự
phát triển của tảo và quá trình phân hủy (ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh do
làm giảm oxy hòa tan trong nước).
Trong nước tự nhiên, các hợp chất chứa nitơ đáng lưu ý gồm NH
4
+
và NO
3
-
, do
sự hiện diện với nồng độ cao của NH
4
+
là mối nguy hiểm tiềm tàng vì có thể khiến
nồng độ oxy hòa tan giảm mạnh do quá trình oxy hóa tiếp theo của NH
4
+
. Trong khi
đó, NO
3
-
quá nhiều trong nước là điều kiện thuận lợi cho các thực vật bậc thấp phát
triển quá mức (hiện tượng phú dưỡng hóa). Còn NO
2
-
tuy có độc tính cao nhưng
thường hiện diện với nồng độ rất thấp trong nước mặt. Trang thái dinh dưỡng của
nước tự nhiên được phân cấp và đánh giá thông qua nồng độ của nitrat trong nước.
thông qua nồng độ của orthophosphate (trong phân tử chỉ có một nhóm phosphate)
trong nước.
Nguồn gốc các hợp chất chứa Photpho có liên quan đến sự chuyển hóa các chất
thải của người và động vật, sau này là lượng phân lân khổng lồ sử dụng trong nông
nghiệp và các chất tẩy rửa tổng hợp có chứa Phosphate sử dụng trong sinh hoạt và
một số ngành công nghiệp trôi theo dòng nước. Ngoài ra còn phải kể đến sự phong
hóa các khoáng Phosphate cũng là nguyên nhân khiến Photpho hiện diện trong nước
tự nhiên.
Trong các loại nước tự nhiên và nước thải, Photpho hiện diện chủ yếu ở các
dạng Phosphate. Các hợp chất Phosphate được chia thành Phosphate vô cơ và
Phosphate hữu cơ:
- Phosphate vô cơ: bao gồm orthophosphate và polyphosphate. Trong nước tự
nhiên thì orthophosphate chiếm đa số, còn polyphosphate chỉ chiếm phần nhỏ. Các
chất này đều ở dạng hòa tan và thường bắt nguồn từ phân lân, nước lò hơi, nước
thải công nghiệp giặt tẩy…
- Phosphate hữu cơ: photpho trong các liên kết với các chất hữu cơ, bao gồm
cả chất lơ lửng và các chất hòa tan. Loại này thường hiện diện trong các loại nước
23
Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Thị Vải trong những năm gần đây
(đoạn chảy qua huyện Tân Thành)
thải sinh hoạt, nước thải sản xuất thực phẩm, nước thải chăn nuôi… và nồng độ có
thể lên tới vài chục mg/l.
2.1.11. Vi sinh vật
Trong nước thiên nhiên có rất nhiều loại vi trùng và siêu vi trùng, trong đó có
các loại vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm: kiết lị, thương hàn, dịch tả, bại liệt…Việc
xác định sự có mặt của các vi trùng gây bệnh này thường rất khó khăn và mất nhiều
thời gian. Trong thực tế số vi khuẩn thường được xác định trong nước là E.coli vì
đặc tính của nó có khả năng tồn tại cao hơn các vi trùng gây bệnh khác. Do đó, sau
khi xử lý, nếu trong nước không còn phát hiện thấy E.coli chứng tỏ các loại vi trùng
khác cũng đã bị tiêu diệt, mặt khác việc xác định loại vi khuẩn này đơn giản và
Đứng trước hiện trạng chất lượng các nguồn nước ngày càng suy giảm do tác
động của các yếu tố nhân tạo (chủ yếu là nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiệp),công tác thanh tra, kiểm tra các nguồn thải ngày càng được tiến hành chặt
chẽ hơn. Khả năng tự làm sạch của các nguồn nước tự nhiên đang giảm sút. Do đó
năm 2008, một số TCVN về chất lượng nước mặt đã được thay thế bằng QCVN,
với ý nghĩa quy chuẩn do cơ quan nhà nước ban hành và bắt buộc áp dụng. Cụ thể
về chất lượng nước mặt có QCVN 08:2008/BTNMT do ban soạn thảo quy chuẩn
quốc gia về chất lượng nước biên soạn, Tổng cục môi trường và Vụ pháp chế trình
duyệt ban hành theo quyết định số 126/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm
2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Quy chuẩn này áp dụng thay thế cho
TCVN 5642:1995 - Chất lượng nước – Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt trong danh
mục các TCVN về mooi trường bắt buộc áp dụng, ban hành kèm theo Quyết định số
35/2002/QĐ – BKHCNMT ngày 25 tháng 6 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường.
25