Tìm Hiểu Về Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành Android - Pdf 13

Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
MẠNG MÁY TÍNH
BÀI TẬP LỚN
NGUYÊN LÝ HỆ ĐIỀU HÀNH
Giáo Viên Hướng Dẫn: Nguyễn Thị Hữu Phương
Sinh Viên Thực Hiện: Lê Minh Đạt 1121050025
Hoàng Thanh Tùng 1121050333
Vũ Thị Huyền 1121050226
Lớp: Mạng Máy Tính K56
Đề Tài: Tìm Hiểu Về Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành Android
Hà Nội – Ngày 24 Tháng 04 Năm 2013
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
2.1) Model 31
2.2) Thương hiệu 31
2.3) Phiên bản Android 31
2.4) Độ phân giải màn hình 32
2.5) Các bản ROM 32
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
1. Vũ Thị Huyền.
Tìm hiểu về:
- Sự ra đời của hệ điều hành Android.
- Giấy phép.

- Kết luận.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
ANDROID NGƯỜI KHỔNG LỒ XANH
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
GIỚI THIỆU VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH MÃ NGUỒN MỞ ANDROID.
Android là hệ điều hành trên điện thoại di động (và hiện nay là cả trên một số thiết
bị kĩ thuật số khác như máy ảnh và đầu kĩ thuật số) được phát triển chính bởi Google và
dựa trên nền tảng hệ điều hành Linux. Trước đây, Android được phát triển bởi công ty
liên hợp Android ( sau đó được Google mua lại vào năm 2005). Theo công ty nghiên cứu
thị trường NPD, thiết bị di động sử dụng hệ điều hành Android bán được tại Mỹ trong
quý II năm 2010 xếp vị trí đầu tiên với 33%, thứ 2 là BlackBerry OS với 28% và iOS ở vị
trí thứ 3 với 22%. Android có một cộng đồng những nhà phát triển rất lớn viết các ứng
dụng cho hệ điều hành của mình. Hiện tại có khoảng 80,000 ứng dụng cho Android OS
và vào khoảng 100,000 ứng dụng đã được đệ trình, điều này khiến Android trở thành hệ
điều hành di động có môi trường phát triển lớn thứ 2. Các nhà phát triển viết ứng dụng
cho Android dựa trên ngôn ngữ Java. Sự ra mắt của Android vào ngày 5 tháng 11 năm
2007 gắn với sự thành lập của liên minh thiết bị cầm tay mã nguồn mở, bao gồm 78 công
ty phần cứng, phần mềm và viễn thông nhằm mục đính tạo nên một chuẩn mở cho điện
thoại di động trong tương lai. Google công bố hầu hết các mã nguồn của Android theo
bản cấp phép Apache. Hệ điều hành Android bao gồm 12 triệu dòng code; 3 triệu dòng
XML (eXtensible Markup Language, "Ngôn ngữ Đánh Dấu Mở rộng"), 2.8 triệu dòng
mã C, 2.1 triệu mã Java và 1.75 triệu dòng mã C++.
I. HỆ ĐIỀU HÀNH MÃ NGUỒN MỞ ANDROID.
1. Sự Ra Đời.
Tháng 7 năm 2005 Google mua lại Android Inc, một công ty nhỏ được thành lập
từ năm 2003 có trụ sở ở Palo Alto, California, Mỹ. Những nhà đồng sáng lập của

động. Cùng với sự thành lập của OHA (Liên minh thiết bị cầm tay mã nguồn mở), họ
cũng giới thiệu sản phẩm Android đầu tiên. Nó là một thiết bị di động có hệ điều hành
dựa trên nhân Linux phiên bản 2.6.(2.7)
Ngày 9 tháng 12 năm 2008 thêm 14 thành viên mới gia nhập dự án Android được
công bố, gồm có ARM Holdings, Atheros Communications, Asustek Computer Inc,
Garmin Ltd, Softbank, Sony Ericsson, Toshiba Corp và Vodafone Group Plc
2. Giấy Phép.
Trừ những giai đoạn cập nhật ngắn, Android đã lưu hành với mã nguồn mở kể từ
ngày 21 tháng 10 năm 2008. Google đã mở toàn bộ mã nguồn (bao gồm cả các ngăn xếp
mang và điện thoại) dưới giấy phép Apache. Với giấy phép Apache, các nhà cung cấp có
thể thêm những mở rộng thương mại mà không cần chuyển chúng thành mã nguồn mở.
3. Biểu Tượng.
Biểu tượng đại diện của hệ điều hành Android hiện tại là chú robot màu xanh, vốn
được biết đến với tên gọi Bugdroid, ngay từ khi ra mắt đã trở nên phổ biến và được ưa
chuộng trên thị trường di động thế giới. Tuy nhiên, chú robot xanh xinh xắn lại không
phải là biểu tượng đầu tiên của hệ điều hành này.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
Người máy màu xanh lá này đã trở nên quá quen thuộc trên toàn cầu
Hình ảnh về những con robot trông có vẻ tinh nghịch với hình dáng như những
chiếc kẹo bên dưới đây chính là hình đại diện được đề cử đầu tiên dành cho hệ điều hành
Android. Chúng được sáng tạo bởi Dan Morill, một nhân viên làm việc trong bộ phận lập
trình của Google, vào năm 2007. Tuy không được lựa chọn để làm hình ảnh đại diện
chính thức, nhưng những biểu tượng vui nhộn này cũng đã tồn tại trong một khoảng thời
gian khá dài với biệt danh Dandroids.
Dandroids có vẻ "nhí nhố" hơn Bugdroid
Dandroids mặc dù mang những nét đặc trưng riêng nhưng đến sau cùng, Google
đã chọn “người máy” Bugdroid – với dáng vẻ hiện đại và trẻ trung hơn – được sáng tạo
bởi Irina Blok, làm biểu tượng chính thức cho hệ điều hành di động của họ. Bên cạnh đó,

Thanh thông báo kéo từ trên xuống: Ngay từ ngày đầu tiên trình làng, Android
đã được tích hợp một hệ thống cảnh báo vô cùng hữu dụng so với những đối thủ cạnh
tranh thời bấy giờ mặc dù nó không được tốt như Notification Bar trên các thế hệ
Android mới. Người dùng có thể nhanh chóng xem những tin nhắn đến, xem ai mới gọi
nhỡ hoặc bất cứ thứ gì mà phần mềm trên đang máy muốn người dùng biết. Tất cả thông
báo đều tập hợp trong một danh sách duy nhất. Thanh trạng thái, bao gồm đồng hồ, biểu
tượng pin, biểu tượng cho các kết nối cũng được tích hợp vào nơi đây, giúp tiết kiệm tối
đa không gian màn hình nhưng vẫn phục vụ đầy đủ nhu cầu thông tin cho người sử dụng.
Mãi cho đến ngày nay, Android 4.2 vẫn duy trì ý tưởng tuyệt vời này.
Màn hình chính và widget: Nếu muốn so sánh Android, iOS và Windows Phone,
điểm khác biệt lớn nhất đó là một màn hình chính. Màn hình chính của Android thật sự
rất phong phú. Có thể thay đổi hình nền (Windows Phone không làm được điều này), đặt
icon ra màn hình chính, sử dụng widget và hơn hết là thay luôn cả cái màn hình chính
nếu muốn. Độ tùy biến của màn hình chính trên Android có thể xem là cao nhất trong các
hệ điều hành di động hiện nay. Về phần widget, đây cũng là một điểm hay của Android
vì nó cho phép người dùng nhanh chóng truy cập đến một số tính năng nào đó hoặc xem
nhanh các thông tin cập nhật chi tiết một cách nhanh nhất. Widget cũng đóng vai trò
trang trí cho màn hình chính nữa. Symbian cũng có widget nhưng chưa so được với
Android về mức độ phong phú và chức năng (tất nhiên là phải về sau này, còn lúc mới ra
thì chưa có nhiều).
Tích hợp chặt chẽ với Gmail: Lúc chiếc G1 ra mắt, Gmail đã hỗ trợ giao thức
POP và IMAP để dùng được với các trình gửi nhận email trên thiết bị di động, nhưng vấn
đề nằm ở chỗ không có giao thức nào được tận dụng tối đa để phục vụ những tính năng
độc đáo của Gmail (ví dụ như lưu trữ, đánh nhãn cho email). Android 1.0 ra mắt đã khắc
phục được vấn đề này và có thể nói chiếc G1 đã mang lại trải nghiệm Gmail tốt nhất trên
thị trường vào thời điểm đó.
Về mặt giao diện: Google xây dựng giao diện của Android 1.0 với sự hợp tác của
một công ty thiết kế đến từ Thụy Điển với tên gọi The Astonishing Tribe (TAT). Từ
Android 1.0 đến 2.2, có thể thấy sự xuất hiện của một widget đồng hồ quen thuộc, tuy
đơn giản nhưng khá đẹp mắt, đó chính là dấu ấn của TAT. Một thời gian sau, TAT bị

mang lại, chẳng hạn như:
Bàn phím ảo: Tại sao Google không cho
những bản Android đầu tiên bàn phím mềm? Đâu
phải là họ không có khả năng làm đâu? Thực chất,
mục tiêu ban đầu của Android là cạnh tranh với
BlackBerry. Vâng, thời đó BlackBerry đang rất nổi
và được nhiều người dùng quan tâm, nhất là ở Mỹ,
bởi chính bàn phím vật lí của nó. Bởi vậy mà G1 có
một bàn phím QWERTY trượt ngang. Mãi đến bản
Cupcake này mới có một chiếc điện thoại Android
thuần cảm ứng là HTC Magic được giới thiệu.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
Cùng với đó, Google tích hợp vào Cupcake những "cái móc", dân lập trình gọi là
hook, để họ có thể tự do viết phần mềm bàn phím của riêng mình cho Android. Lại thêm
một điểm nữa khiến cho Android trở nên khác biệt với các hệ điều hành đối thủ khác.
Lúc Cupcake xuất hiện, bàn phím ảo mặc định rất chậm và không chính xác khi so sánh
với iOS, chính vì thế mà những hãng sản xuất phần cứng như HTC đã phát triển riêng
một biện pháp khắc phục, cũng may là có hook do Google mở ra.
Mở rộng khả năng cho widget: Android 1.0 và 1.1 có tích hợp widget, nhưng
tiềm năng của nó chưa được khai thác hết vì Google chưa đưa bộ phát triển phần mềm
cho lập trình viên. Từ Android 1.5 trở đi thì chuyện đã thay đổi, và đến thời điểm hiện
tại, kho widget của Android đã rất phong phú, đó là chưa kể đến những ứng dụng của bên
thứ ba cũng mang sẵn trong mình widget nữa. Nhờ có khả năng này mà việc tùy biến
giao diện của Android càng được đẩy mạnh hơn nữa.
Cải tiến clipboard: Thật ra Android đã hỗ trợ việc copy và paste ngay từ những
ngày đầu tiên rồi, nhưng nó bị giới hạn lại ở textbox (là những chỗ nào chúng ta có thể gõ
chữ được) và sao chép các đường link mà thôi. Ví dụ đang đọc mail hay đang duyệt web
thì chịu, chúng ta không cách gì sao chép được. Với Cupcake thì Google cho phép sao

Nhưng có lẽ điểm thú vị nhất
của Donut đó là hỗ trợ các
thành phần đồ họa độc lập
với độ phân giải. Lần đầu
tiên, Android có thể chạy trên nhiều độ phân giải và tỉ lệ màn hình khá nhau, cho phép
những thiết bị có nhiều độ phân giải hơn là 320 x 480. Hiện nay, chúng ta có những chiếc
smartphone Android chạy ở độ phân giải QVGA, HVGA, WVGA, FWVGA, qHD, và
720p, HD và Full HD. Vài chiếc máy tính bảng còn đạt mức 1920 x 1080 nữa.
Tính năng Quick Search Box, được biết nhiều hơn trong thế giới điện thoại với cái
tên Universal Search, cũng là một điểm mà Android nhận được nhiều lời khen. Có thể
tìm kiếm danh bạ, ứng dụng, nhạc, tin nhắn,…, tất cả đều chỉ thao tác trong một hộp tìm
kiếm mà thôi. Trước Donut, khi nhấn nút Search trên máy Android thì chỉ có thể tìm
kiếm thông qua google.com mà thôi. Google cũng cho phép những lập trình viên tích hợp
tính năng tìm kiếm mới này vào ứng dụng của mình để mở rộng thêm khả năng của
Quick Search Box.
Android 1.6 còn có gì mới? Đó là một Android Market với thiết kế mang tông
màu xanh trắng đặc trưng của Android, có thể hiển thị các ứng dụng free và trả phí hàng
đầu. Những ứng dụng bên thứ ba cũng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Giao diện camera
mới, tíhc hợp với trình xem ảnh tốt hơn, giảm thời gian chờ giữa hai lần chụp ảnh. Nhưng
cũng thường thì các nhà sản xuất cũng thay thế bằng ứng dụng của riêng mình.
5. Android 2.0 và Android 2.1 Éclair (Linux Kernel 2.6,29 – 26/10/009)
Đầu tháng 9 năm 2009, một năm sau khi G1 chào đời, Android 2.0 đã được ra
mắt. Thật sự không ngoa khi mô tả Android 2.1 bằng một chữ "lớn". Một cơ hội lớn cho
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
những nhà phát triển, một tiềm năng lớn cho Android về sau, những chiếc điện thoại
"lớn" được ra mắt và phân phối bởi các nhà mạng lớn. Eclair, tên gọi của Android 2.0,
lúc mới ra mắt chỉ được dùng độc nhất cho chiếc Motorola Droid của nhà mạng Verizon,
một trong những chiếc điện thoại đã kích hoạt cho một kỉ nguyên Android lớn mạnh như

Android 2.0 cũng có nhiều điểm nâng cấp đáng khen. Google đã hỗ trợ HTML5, bao
gồm luôn khả năng phát video ở chế độ toàn màn hình. Hộp địa chỉ kết hợp với thanh tìm
kiếm (giống với trình duyệt Chrome) cũng lần đầu xuất hiện trên Android. Để bù lại cho
tính năng cảm ứng đa điểm, trình duyệt mới hỗ trợ chạm hai lần để phóng to nội dung
trên màn hình, kèm theo đó là hai nút Zoom in, Zoom out.
Giao diện mới: các biểu tượng giờ đây đã đẹp hơn, sang trọng hơn, gọn gàng hơn
nhiều so với trước. Widget cũng được thiết kế mới để tương thích với độ phân giải cao
trên Droid. Giao diện menu cũng đẹp hơn nữa.
Về phần Android 2.1, mặc dù không "lớn" như Android 2.0 vì nó chủ yếu ra mắt
để sửa lỗi và thêm hàm API để lập trình viên can thiệp sâu hơn vào hệ thống nhưng nó đã
hỗ trợ thêm vài tính năng lý thú như Live Wallpaper, chuyển giọng nói thành văn bản và
một màn hình khóa mới.
Android 2.1
cũng có rất nhiều ý
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
nghĩa về việc thay đổi chiến lược của Google. Nhận thấy rằng các hãng phần cứng
thường thay đổi giao diện gốc của Android theo ý họ, Google đã chọn HTC để làm việc
trực tiếp và tạo ra Nexus One, chiếc điện thoại đầu tiên của hãng. Nexus One mang trong
mình một bản Android 2.1 thuần khiết nhất và không hề bị chỉnh sửa gì cả. Không chỉ nổi
bật về mặt phần mềm, Nexus One còn có phần cứng mạnh mẽ thời bấy giờ. Nó là một
trong những smartphone đầu tiên chạy trên CPU Snapdragon 1GHZ của Qualcomm,
đồng thời sở hữu màn hình AMOLED độ phân giải WVGA. Thực ra, Google đã tiến
hành việc này kể từ chiếc Droid với Android 2.0. Google và Motorola đã làm việc chặt
chẽ để cùng phát triển một mẫu điện thoại tốt, nhưng Eclair trong Droid vẫn có vài sự
tinh chỉnh. Và tất nhiên là Google chưa bao giờ trực tiếp bán Droid cả.
6. Android 2.2 Froyo (Linux Kernel 2.6,32 Ngày 20 Tháng 5 Năm 2010)
Android 2.2 được ra mắt trong năm 2010 và mục tiêu của chương trình Nexus đã
xuất hiện rõ hơn bao giờ hết: Nexus One là chiếc điện thoại đầu tiên được nâng cấp lên

thời bấy giờ.
7. Android 2.3 Gingerbread (Linux Kernel 2.6,33,34 – 6 Tháng 12 Năm
2010)
Khoảng nửa năm sau khi FroYo xuất hiện, Google đã trở lại với bản Android 2.3.
Google giới thiệu nó với nhiều tính năng mới, tập trung vào việc phát triển game, đa
phương tiện và phương thức truyền thông mới. Android 2.3 có tên mã là Gingerbread,
hiện bộ SDK Android 2.3 dành cho các nhà phát triển cũng đã được Google phát hành.
Android 2.3 thật ra không phải là một bản nâng cấp lớn nhưng những ảnh hướng
mà nó mang lại thì không nhỏ chút nào. Lần đầu tiên Android khoác lên mình một giao
diện đen, trông ngầu và chuyên nghiệp hơn. Các thành phần trên màn hình chính có thêm
tông màu xanh lá đậm. Bên cạnh đó, việc sử dụng màu đen còn là ý định của Google để
giúp các máy dùng màn hình AMOLED tiết kiệm pin hơn. Vài tính năng mới trên
Android 2.3:
Hai thanh chặn khi chọn văn bản:
Hồi Android 2.2, việc chọn văn bản khi đang
soạn thảo hoặc khi đang duyệt web rất cực khổ.
Nhờ có thanh chặn này mà người dùng có thể
chọn từng kí tự một, tiện lợi hơn rất nhiều.
Bàn phím được cải tiến: Google một lần nữa đầu tư cho bàn phím ảo, lần này có
sự thay đổi lớn về tông màu của bàn phím. Nhìn các phím đẹp hơn, đen hơn và cả kí tự
cũng được thay đổi so với hồi Android Cupcake. Nhờ có khả năng nhận biết đa điểm trên
bàn phím mà việc việc soạn thảo đã dễ chịu hơn, cho phép người dùng nhấn cùng lúc
nhiều phím để chuyển sang bàn phím dạng kí tự.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
Công cụ quản lí pin và ứng dụng: vì Android cho phép các ứng dụng chạy nền
thực thụ chứ không bị ngắt lại, vấn đề pin bị người dùng phàn nàn rất nhiều, đặc biệt là
các phần mềm không được viết để thoát khỏi bộ nhớ sau khi đã hoàn tất công việc của
mình. Một công cụ mới đã ra mắt với biểu đồ nhằm theo dõi mức độ tiêu thụ pin cùng

còn trang bị cho chúng ba phím Back, Home và Menu (và Search nữa) riêng biệt, cả nút
cứng lẫn nút cảm ứng, mà thay vào đó nó đã được bố trí ngay trên màn hình của người
dùng. Android 3.x có khả năng ẩn hoặc hiện các nút này một cách linh hoạt tùy vào việc
người dùng đang chạy ứng dụng gì.
Cải thiện đa nhiệm: nút Recent Apps lần đầu tiên xuất hiện trên Android cho
phép người dùng duyệt qua các ứng dụng mà mình mới chạy trong thời gian gần đây, nhờ
đó việc chuyển đổi app dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn. Mỗi ứng dụng như vậy cũng có
một ảnh chụp màn hình thu nhỏ để tiện cho việc chọn lựa. Từ Gingerbread trở về trước,
việc chạy đa nhiệm phải nhờ đến việc nhấn giữ nút Home để tiết lộ bảng các ứng dụng
gần đây, bất tiện hơn nhiều.
Thanh Action Bar: một thanh chức năng được đặt bên trên mỗi ứng dụng, ở đó
lập trình viên có thể đặt các nút nhấn để điều khiển ứng dụng lên. Ngoài ra, Honeycomb
còn hỗ trợ cho việc bố cục ứng dụng theo nhiều cột để hướng đến việc hỗ trợ máy tính
bảng tốt hơn.
Sau Android 3.0, Android 3.1 và 3.2 là hai bản nâng cấp nhỏ của Honeycomb và
vẫn dùng lại cái tên này. Mục đích chủ yếu của chúng là để sửa lỗi và thêm vài tính năng
mới như resize widget ngay trên homescreen, hỗ trợ thẻ SD,
9. Android 4.0 Ice Cream Sandwich (Ngày 19 Tháng 10 Năm 2011)
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
Cuối năm 2011, Google chính thức giới thiệu điện thoại Galaxy Nexus, thiết bị
đầu tiên trên thị trường sử dụng Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Có thể nói Android
4.0 là sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử phát triển của Android tính nay. Android 4.0 hỗ
trợ một bộ font mới tên là Roboto được cho là tối ưu hóa để dùng trên các màn hình độ
phân giải càng ngày càng cao hơn, đồng thời để hiển thị được nhiều thông tin hơn trên
màn hình. Hệ thống thông báo (Notification) già nua của Android đã được làm mới hoàn
toàn, đẹp hơn, tiện dụng hơn, nhất là tính năng trượt ngang để xóa từng thông báo riêng
lẻ. Tương tự như vậy cho tính năng Recent Apps và cả trình duyệt của máy. Bàn phím
cũng được làm mới với khả năng tự động sửa lỗi cao hơn, việc sao chép, cắt dán chữ và

dụng mới mà về Project Butter giúp mang lại độ mượt chưa từng có cho Android. Theo
như giải thích của Google, độ mượt này có được là nhờ vào dự án Butter. Project Butter
đã được Google đề cập tới tại I/O 2012 với mục đích giải quyết tình trạng lag và độ phản
ứng không tốt của Android. Với Project Butter, các kỹ sư Android đã tăng framerate cho
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
phiên bản mới nhất này lên 60 khung hình/giây (trước đó trên Android 3.0 hay Android
4.0 framerate là 30 khung hình/giây) cũng như bổ sung VSync, tăng bộ đệm lên gấp ba
để nâng cao trải nghiệm người dùng. Project Butter sẽ có tác động trực tiếp tới toàn bộ hệ
thống của Jelly Bean nhằm mang tới trải nghiệm người dùng nhanh và mượt mà nhất có
thể. VSync sẽ cải thiện hiệu năng đồ hoạ tổng thể trong khi bộ nhớ đệm tăng gấp ba lần
sẽ cho phép GPU và CPU cũng như màn hình hoạt động song song với nhau. Hồi Google
I/O, Google đã mang một máy quay chậm có tốc độ lên tới 300 khung hình/giây để so
sánh độ mượt.
III. CẤU TRÚC CỦA ANDROID.
1. Bộ Nạp Khởi Động - BootLoader
Ở mức độ cơ bản nhất, smartphone giống như một ổ đĩa cứng đã được phân vùng
hoàn chỉnh. Một trong số các vùng đó lãnh nhận trách nhiêm nặng nề: chứa tất cả các tập
tin khởi động của hệ điều hành Android; số còn lại nhận trách nhiệm lưu trữ tất cả các
phần mềm, dữ liệu. Tại đó người dùng có thể làm được rất nhiều thứ với các công cụ có
sẵn.
Có thể nói rằng, bộ nạp khởi động cũng giống như một trạm kiểm soát an ninh cho
hệ thống. Nếu thay đổi bất cứ thứ gì trên phân vùng này, người dùng có thể phá vỡ hoạt
động ổn định của hệ điều hành. Hoặc nếu rành về lập trình, người dùng có thể tùy chỉnh
hệ thống phù hợp với mình
Có rất nhiều sự phàn nàn về việc bootloader bị mã hóa. Và trên thực tế, đa số các
điện thoại đều khóa phân vùng này lại, kể cả các nhà phát triển được cho là gần gũi nhất
như Nexus. Nói một cách chính xác nhất, tất cả các phân vùng khởi động đều được khóa
và mã hóa chặt chẽ, nghĩa là khó có thể mở nó một cách dễ dàng và các lệnh mở khóa

ngôn ngữ lập trình (Java chẳng hạn) được
biến đổi thành các tập tin dex mà các Dalvik
có thể sử dụng (tương tự một số tập tin jar
nếu một người sử dụng tiêu chuẩn Java VM).
Các dữ liệu lập trình chỉ được dịch một lần ra
các tập tin dex, giúp tiết kiệm không gian và
sử dụng đĩa cứng tiết kiệm hơn. Các tập tin
đó có thể được sửa đổi đôi chút khi người
dùng cài đặt một ứng dụng để tối ưu hóa cho
Giảng Viên: Nguyễn Thị Hữu Phương
1
Đề Tài: Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hệ Điều Hành ANDROID.
điện thoại di động của người dùng. VM Dalvik được viết dành riêng cho Android sử
dụng.
Dalvik là một phiên bản tối ưu hóa
của một Java Virtual Machine, được xây
dựng từ dự án Apache Harmony, Dalvik là
một phiên bản mã nguồn mở để chạy tốt
hơn so với một tiêu chuẩn Java VM trên
phần cứng hạn chế của một hệ thống nào
đó. Dalvik cũng được thiết kế để sử dụng
như một máy chủ đa nhiệm tại một thời
điểm nhất định nào đó. Điều thú vị là
Dalvik là một phần mềm mã nguồn mở, có
thể được sử dụng trên các hệ điều hành
khác, nó được sử dụng trên các dòng
BlackBerry PlayBook.
3. Hacking – Root.
Đối với hacking trong Android Central là vấn đề truy cập vào phần mềm (hoặc
phần cứng) và thay đổi mọi thứ cho đến khi chúng phù hợp với sở thích của cá nhân. Đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status