LUẬN VĂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC ỨNG DỤNG MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT ĐỂ TẠO CHỒI CÂY CHÈ Ở GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH - Pdf 13

Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KĨ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
000
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH
TRƯỞNG THỰC VẬT ĐỂ TẠO CHỒI CÂY CHÈ Ở
GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH
Chuyên ngành: Công Nghệ Sinh Học
Mã số ngành: 111
GVHD : Th.S. Trịnh Thị Lan Anh
SVTH : Nguyễn Thái Sơn
MSSV : 105111055
Tp.HCM, tháng 7 năm 2010
i
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
1. Đầu đề Đồ án tốt nghiệp:
“Ứng dụng một số chất điều hòa sinh trưởng thực vật để tạo chồi cây chè
ở giai đoạn sau thu hoạch”.
2. Nhiệm vụ: Thế kỉ 20 là thế kỉ của “ công nghệ sinh học” bởi ngay từ những
thập niên đầu tiên của thế kỉ này nhân loại đã được chứng kiến những khám phá
mang tính đột biến của chúng. Đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp với cuộc
cách mạng xanh đã mang lại cho con người một lượng lương thực khổng lồ. Các
chất điều hòa sinh trưởng thực vật dần dần được định dạng và sản xuất trên quy
mô công nghiệp. Nhờ có chất điều hòa sinh trưởng mà con người đã chủ động
hơn trong sản xuất, con người có thể can thiệp vào đời sống sinh lí của thực vật
bắt chúng phải phục vụ các nhu cầu đa dạng của con người.
Trong đề tài này chúng tôi quan tâm đặc biệt đến 3 chất điều hòa sinh trưởng
Auxin(NAA), cytokinin(BAP), gibbereline(GA3) và ứng dụng chúng vào việc
sản xuất PHÂN BÓN LÁ đặc hiệu cho cây chè nhằm mục đích tăng số lượng búp

Ngày bảo vệ:………………………………………………….
Điểm tổng kết:……………………………………………….
Nơi lưu trữ Đồ án tốt nghiệp:…………………………………
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Ban Giám Hiệu trường
Đại Học Kĩ Thuật Công Nghệ TP Hồ Chí Minh cùng các Quý Thầy Cô Khoa
Môi Trường & Công Nghệ Sinh Học đã hết lòng dạy dỗ em trong suốt quãng thời
gian theo học tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn cô – Th.S. Trịnh Thị Lan Anh đã tân tình
hướng dẫn bảo ban em trong quá trình thực hiện Đồ án tốt nghiệp.
Xin trân thành cảm ơn công lao to lớn của bố mẹ đã không quản gian nan
vất vả nuôi dưỡng con nên người.
Xin gửi lời cảm ơn tha thiết nhất đến tập thể lớp 05 DSH, những người
bạn tốt, những người đồng hành cùng tôi trong 4 năm qua.
Và cuối cùng tôi xin có lời cám ơn sâu sắc đến Ban Giám Đốc cùng toàn
thể các nhân viên của Công Ty TNHH SX – TM Long Phú đã ủng hộ giúp đỡ tôi
rất nhiều trong suốt quá trình thực tập và thực hiện Đồ án tốt nghiệp này.
Vì đây cũng là lần đầu tiên em tham gia nghiên cứu khoa học, một lĩnh
vực đòi hỏi tính chuyên môn cao cùng với tính kiên nhẫn tỉ mỉ do đó không thể
tránh khỏi những sai xót nhầm lẫn mong Quý Thầy Cô trong hội đồng chấm bảo
vệ Đồ án cùng bạn đọc tham gia góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn và có khả
năng ứng dụng rộng rãi hơn.
TP. HCM, tháng 7 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thái Sơn
iii
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
MỤC LỤC

2.2.1.3. Tính chất sinh lý của auxin 35
2.2.1.4. Cơ chế tác dụng của auxin lên sự sinh trưởng của cây 39
2.2.1.5. Quá trình tổng hợp và phân giải Auxin trong cây trồng 40
2.2.2. Cytokinin 41
2.2.2.1. Lịch sử hình thành 41
2.2.2.2. Phân loại 42
2.2.2.3. Tính chất sinh lý 43
2.2.2.4. Quá trình tổng hợp và phân hủy cytokinin trong cây trồng 45
2.2.3. Gibberelin 46
2.2.3.1. Lịch sử 46
2.2.3.2. Về mặt hóa học 47
2.2.3.3. Phân loại 47
2.2.3.4. Chức năng 48
2.2.3.5. Gibberellin trong cây trồng 50
2.2.4. Các chất ức chế tăng trưởng 50
2.2.4.1. Các chất có nguồn gốc phenol 50
4.2. Acid abscisic 51
2.2.5. Ethylene 52
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 53
3.1. Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 53
3.2. Vật liệu 53
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu 53
3.2.2. Trang thiết bị, máy móc, dụng cụ và hóa chất 53
3.2.3. Bố trí thí nghiệm 55
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 60
4.1. Thí nghiệm 1. Ảnh hưởng của sự thay đổi nồng độ BAP kết hợp
với nồng cố định của NAA và GA3 lên sự tạo mới chồi chè và thời
gian thu hoạch 60
4.2.Thí nghiệm 2. Ảnh hưởng của sự thay đổi BAP kết hợp vớiNAA,
GA3 và chất nền NPK cố định lên sự tạo mới chồi chè và thời gian thu

Bảng 3.2. Khối lượng các chất trong quá trình pha trộn các nghiệm thức 57
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ auxin/cytokinin lên quá trình tạo chồi chè 57
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của việc thay đổi nồng độ BAP kết hợp với nồng
độ cố định của NAA và GA3 lên thời gian tạo mới chồi chè 61
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của việc thay đổi nồng độ BAP kết hợp với nồng
độ cố định của NAA và GA3 lên số lượng chồi thu hoạch sau 35 ngày 66
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của sự thay đổi BAP kết hợp với NAA, GA3 và
chất nền NPK cố định lên thời gian hình thành chồi chè 72
Bảng 4.4. Số lượng búp chè thu hoạch ở các ngiệm thức thí nghiệm sau
35 ngày tiến hành thí nghiệm (ở giai đoạn thu hoạch) 77
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng phun trực tiếp
lên cây chè đến thời gian hình thành chồi 82
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng có phối trộn
chất nền NPK dưới dạng phân bón lá phun lên cây chè đến thời gian hình
thành chồi 83
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng phun trực tiếp
lên cây chè đến thời gian hình thành chồi 86
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng có phối trộn
chất nền NPK dưới dạng phân bón lá phun lên cây chè đến số lượng
chồi thu hoạch 86
viii
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Cây chè trung quốc lá nhỏ 10
Hình 2.2. Cây chè shan 11
Hình 2.3. Cây chè Ấn Độ 12
Hình 2.4. Thân và cành cây chè 13
Hình 2.5. Mầm đỉnh của cây chè 15
Hình 2.6. Mầm nách của cây chè 15

(do thừa cytokinin oxydase) (b) 44
Hình 2.33. Cơ chế tác động của cytokinin 44
Hình 2.34. Tác dụng kìm hãm quá trình thoái hóa của cytokinin
(a) Có cytokinin; (b) Không có cytokinin 45
Hình 2.35. Tác dụng đối kháng tính ưu thế chồi non của cytokinin 45
Hình 2.36. Quá trình chuyển hóa qua lại của các cytokinin 46
Hình 2.37. Quá trình phân giải cytokinin trong cây trồng 47
Hình 2.38. Kauren (hợp chất trung gian của GA ) 48
Hình 2.39. Cấu trúc của môt số gibbereline 48
Hình 2.40. Tác dụng kì diệu của gibberelin 49
Hình 2.41. Tác dụng của gibberelin lên sự ra hoa 49
Hình 2.42. Tác dụng của gibbereline tạo quả không hạt 50
Hình 2.43. Tác dụng gibberelin trong việc thức tỉnh chồi non 53
Hình 3.1. Bãi chè thực hiện thí nghiệm trước khi thu hái 58
Hình 3.2. Cây chè sau khi thu hoạch dùng để tiến hành thí nghiệm 62
Hình 4.1. Các chồi non hình thành ở nghiệm thức A3 64
Hình 4.2. Chồi non biến dị hình thành ở nghiệm thức A9 và nghiệm thức
A10 68
Hình 4.3. Cây chè ở giai đoạn thu hoạch ở nghiệm thức A3 76
Hình 4.4. Cây chè đến giai đoạn thu hoạch ở nghiệm thức B3 79
Hình 4.5. Các búp chè ở giai đoạn thu hoạch của nghiệm thức B10 80
Hình 4.6. Rau cháy lá do chất điều hòa sinh trưởng thực vật ở nồng
độ cao 89
Hình 4.7. Cây chè sau khi xử lý chất điều hòa sinh trưởng ở nồng độ
cao vẫn bình thường 89
x
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang

tỉnh táo hơn sau những giờ làm việc mệt mỏi. Thói quen uống trà đã ngày càng
phổ biến hơn không chỉ ở những người lớn tuổi mà ngay cả ở lớp trẻ, không chỉ ở
các nước Châu Á mà ngay cả ở các nước Châu Âu (các nước phát triể ).
Ngày nay người ta quan tâm rất nhiều đến thức uống có lợi cho sức khỏe.
Các loại nước uống đơn thuần chỉ để giải khát như cocacola hay pepsi đã dần dần
được thay thế bằng các loại nước uống có lợi cho sức khỏe có nguồn gốc từ trà
xanh như “trà xanh 0
o
” hay “ C2 ”. Do đó nhu cầu về chè là vô cùng lớn. Mặc dù
có đủ điều kiện cần thiết để phát triển cây chè nhưng trên thực tế tổng kết cho
thấy sản lượng chè chúng ta sản xuất ra rất khiêm tốn chỉ đủ để tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu một ít ra nước ngoài. Nguyên nhân đơn giản vì chúng ta chưa
tâm huyết với cây chè, nhà nước chưa quan tâm đúng mức tới loại cây rất kinh tế
này. Chúng ta vẫn chỉ dừng lại ở phương thức sản xuất thủ công tự phát và chủ
yếu vẫn đang sản xuất theo kiểu kinh tế gia đình nhỏ lẻ không tập trung, chưa
ứng dụng phát triển của công nghệ sinh học vào thực tế sản xuất.
Ngày nay với sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ sinh học, đặc biệt là
những tiến bộ trong lĩnh vực nông nghiệp, các nhà khoa học đã nghiên cứu đã và
sản xuất ra các loại phân bón tốt, các chất điều hòa sinh trưởng thực vật đã được
tinh sạch hơn và bước đầu được áp dụng trên cây chè.
Tuy có rất nhiều các lợi thế để phát triển cây chè nhưng Việt Nam vẫn
chưa được xếp vào các nước xuất khẩu chè trên thế giới như Trung Quốc, Ấn
Độ… Vì vậy việc ứng dụng được những tiến bộ của công nghệ sinh học vào thực
tế sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp là vấn đề đang được quan tâm
hiện nay. Để tìm hiểu về tác động của các chất điều hoà sinh trưởng thực vật lên
1
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
sự tạo chồi ở cây chè ngoài đồng ruộng nhằm tăng số lượng búp chè thu hoạch,
chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng một số chất điều hòa sinh
trưởng thực vật để tạo chồi cây chè ở giai đoạn sau thu hoạch”.

2.1.1.1. Giá trị sử dụng
Chè là thức uống lí tưởng có nhiều giá trị về dược liệu. Hỗn hợp Tanin
chứa trong chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả, lỵ,
thương hàn… Theo M.N. Zaprometop thì Catechin của chè có tác dụng làm
thông các mao mạch. Cafein và một số hợp chất Alkaloit khác có trong chè là
những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não
làm cho hệ thần kinh thêm minh mẫn, nâng cao tinh thần làm việc, giảm mệt
nhọc khi công việc căng thẳng. Chè chứa nhiều vitamin như vitamin A, B1, B2,
B6, PP và nhiều nhất là vitamin C. Các chất này có tác dụng quan trọng đối với
đời sống con người, đặc biệt gần đây nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ,
Nhật Bản cho thấy uống chè xanh có tác dụng chống phóng xạ và ung thư da.
Các nhà nghiên cứu đến từ trường Đại học Western, nước Úc đã thí nghiệm trên
chuột cho thấy dầu của cây chè có thể ngăn chặn sự phát triển của các khối u trên
da.(07/2010).
Hiện nay chè là thức uống phổ biến không chỉ là uống chè đơn thuần mà
là chế biến ra các dạng thực phẩm, nước uống từ chè. Nhu cầu tiêu thụ chè tỉ lệ
thuận với tốc độ phát triển công nghiệp vì thế chè ngày càng được sử dụng với
nhu cầu lớn, điển hình như khả năng tiêu thụ ở một số nước G8 và OPEC.
2.1.1.2. Giá trị kinh tế
Chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu kì kinh tế dài nhưng nhanh cho
sản phẩm thu hoạch. Đảng và Nhà nước ta coi cây chè là cây xóa đói giảm nghèo
ở các tỉnh lẻ.
Trồng chè còn thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải
quyết việc làm, là một trong những cây có giá trị cao ở trung du miền núi phía
bắc và tây nguyên góp phần thúc đẩy trung du và miền núi có điều kiện hòa hợp
với miền xuôi về kinh tế, văn hóa và xã hội.
3
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
Chè là cây trồng dễ áp dụng rộng rãi vào các loại hình kinh tế, đặc biệt là
kinh tế trang trại. Trồng chè sẽ mở rộng diện tích canh tác ở các vùng cao, góp

hiện nay là 4 %. Cả nước hiện nay có 102 đầu mối xuất khẩu chè trong đó tổng
công ty chè Việt Nam chiếm 46.5 % về giá trị tổng kim ngạch 50 triệu USD.
Tỉ trọng các thị trường trên tổng số 42.145 tấn chè xuất khẩu được chia ra
như sau:
+ Châu Á và trung Cận Đông 36.226 tấn = 85,35% (20 nước) trong đó:
Iraq : 16.412 tấn
Đài Loan : 9.071 tấn
Pakistan : 2091 tấn
Singapore : 1617 tấn
Nhật Bản : 998 tấn
Hồng Kông : 888 tấn
+ Châu Âu 7044 tấn = 16,54 % (13 nước), trong đó:
Nga : 1547 tấn
Anh : 899 tấn
Hà Lan : 818 tấn
Đức : 755 tấn
+ Hoa Kỳ, Canada – 1161 tấn = 2,57% trong đó:
Canada : 585 tấn
Hoa Kỳ : 576 tấn
+ Nam Mỹ và Châu Úc 71 tấn
+ Các nước Châu Phi và các nước khu vực khác 42 tấn
Thời gian gần đây chúng ta có nhiều nước là thị trường mới như Áo, Bỉ, Lúc
Xăm Bua, Séc, Tây Ban Nha, Panama, Paragoay…
2.1.2.2. Thị trường trong nước (nội tiêu)
Chè tiêu thụ trong nước khoảng 20.000tấn/năm, chè xanh, chè hương
được chế biến theo phương pháp thủ công và bán cơ giới do tư thương kinh
doanh là chủ yếu. Giá chè nội tiêu không ổn định và thường cao hơn giá chè xuất
khẩu. Giá chè nội tiêu thường tăng đột biến vào các dịp lễ, tết.
Thị trường trong nước hiện nay với hơn 80 triệu dân theo dự toán tương
lai sẽ có khoảng 100 triệu dân. Bình quân các nước uống chè nhiều như Anh,

trung ở các bang Atxam, Kachar, Duvars và Darjiling. Atxam và Darjiling là hai
khu vực chè nổi tiếng trên thế giới. Vùng chè ở phía nam tập trung ở hai bang
Kerala và Madras.
+ Srilanca:
Srilanca bắt đầu trồng chè vào khoảng năm 1837-1840 nhưng thực sự phát
triển mạnh từ năm 1867-1873. Chè Srilanca tập trung ở các tỉnh miền trung, miền
6
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
tây và tây bắc. Chế độ nhiệt trung bình 18-19
o
C lượng mưa dưới 1860 mm. Sản
lượng chè năm 1999 đạt khoảng 283.716 tấn.
+ Nhật Bản:
Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc (năm 805-814),
chè trồng tập trung ở giữa 35-38 vĩ độ Bắc. Một số ít diện tích trồng ở 40 vĩ độ
Bắc. Chè Nhật Bản trồng chủ yếu ở nơi đất bằng, độ cao so với mặt biển không
quá 80-100m, khí hậu chịu ảnh hưởng của gió mùa, lượng mưa tương đối lớn
2150 mm/năm. Sản phẩm chè chủ yếu là chè xanh, giống trồng chủ yếu
Yabukita, Merỵaku, Youkon và Gurikha.
+ Indonesia:
Bắt đầu trồng chè từ thể kỉ 19. Chè được trồng tập trung ở miền tây đảo
Java nơi có độ cao so với mặt nước biển 2300m, ở miền đông bắc và nam
Xumatra có độ cao so với mặt biển 900m. Cả 2 đảo này nằm trong vùng nhiệt
đới, lượng mưa hàng năm 2500-4000mm, phân bố đồng đều, vì vậy chè được thu
hoạch quanh năm, năng xuất cao, bình quân lớn hơn 9 tấn/ha. Sản phẩm chế biến
chủ yếu là chè đen.
2.1.4. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây chè có từ lâu đời, uống chè trở thành nhu câu thiết yếu
hàng ngày của nhân dân ta. Với đất đai khí hậu thích hợp cho sự phát triển của
cây chè, Việt Nam là một trong 7 vùng chè cổ xưa của thế giới. Chất lượng chè

tổng hợp, trong đó cây dã sinh chỉ là một điều kiện mà điều chủ yếu cần xét đến
tập quán sử dụng, lịch sử trồng trọt và tình hình phân bố các loại hình sản xuất có
quan hệ tới cây trồng đó.
Những công trình nghiên cứu của Đjêmukhatze (1961 - 1976) về phức
catechin của lá chè từ các nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất
catechin giữa các loại chè được trồng trọt và chè mọc hoang dại đã nêu lên luận
điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và trên cơ sở đó xác minh nguồn gốc
cây chè. Đjêmukhatze kết luận rằng: những cây chè mọc hoang dại từ cổ xưa,
tổng hợp chủ là (-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat, ở chúng phát triển
chậm khả năng tổng hợp (-) epigalo catechin và các galat của nó để tạo thành (+)
galocatechin. Nghiên cứu các cây chè dại ở Việt Nam cho thấy chúng cũng tổng
hợp chủ yếu là (-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat (chiếm 70% tổng số các
loại catechin). Khi di thực những cây chè dại này lên phía Bắc, với các điều kiện
8
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
khắc nghiệt hơn về khí hậu, chúng sẽ thích ứng dần với các điều kiện sinh thái
bằng cách có thành phần catechin phức tạp hơn, cùng với sự tạo thành (-)
epigalocatechin và các galat của nó. Điều này có nghĩa là sự trao đổi chất ở đây
hướng về phía tăng cường quá trình hydroxyl hóa và galin hóa. Từ những biến
đổi sinh hóa này của lá các cây chè mọc hoang dại và cây chè được trồng trọt
chăm sóc, cho phép đi tới một kết luận mới "Nguồn gốc của cây chè chính là ở
Việt Nam".
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất
khác nhau từ 30 độ vĩ Nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ Bắc (Gruzia - Liên
Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản. Chè được
trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833, Xrilanca 1837 -
1840, Ấn Độ 1834 -1840 và Tasmania (Châu đại dương) năm 1840.
Những thành tựu gần đây của các nhà nông học Liên Xô cũng như một số
nước khác đã tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng trong những điều
kiện khí hậu khác nhau mở ra nhiều triển vọng cho sự nghiệp trồng chè trên thế

và kích thước của các loại lá, số đôi gân lá
- Cơ quan sinh sản: độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của
đầu nhị cái.
- Đặc tính sinh hóa: chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin. Mỗi giống chè đều có
hàm lượng tanin biến động trong phạm vi nhất định.
Dưới đây giới thiệu phân loại của Cohen Stuart (1919). Cách phân loại này được
nhiều người chấp nhận. Tác giả chia Camellia sinensis L. làm 4 thứ (varietas):
2.1.5.2.1. Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var. Bohea)
Hình 2.1. Cây chè trung quốc lá nhỏ
10
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
Đặc điểm:
- Cây bụi thấp phân cành nhiều.
- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5cm.
- Có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều.
- Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường.
- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -12
o
C đến -15
o
C.
- Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số
vùng khác.
2.1.5.2.2. Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. macrophylla)
Đặc điểm:
- Thân gỗ nhỡ cao tới 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên.
- Lá to trung bình chiều dài 12 - 15 cm, chiều rộng 5 - 7 cm, màu xanh nhạt,
bóng, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn.
- Có trung bình 8 - 9 đôi, gân lá rõ.
- Năng suất cao. Phẩm chất tốt.

với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung du lá xanh,
Trung du lá vàng, v.v Tỷ lệ trồng các giống chè trung du ở miền bắc đạt tới
70%. Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4 - 5
12
Đồ Án Tốt Nghiệp Nguyễn Thái Sơn
tấn/ha.
Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng nhiều sâu hại: rầy xanh, bọ
cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá. Chè Trung du thường để chế biến
chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt.
- Camellisa sinensis var. Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền bắc và ở
miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng). Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau
như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thường
đạt 6 - 7 tấn/ha. Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho
phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn.
2.1.6. Đặc điểm hình thái học và sinh vật học của cây chè
2.1.6.1. Thân và cành
Hình 2.4. Thân và cành cây chè
Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là đơn trục, nghĩa là chỉ có
một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành. Do đặc điểm sinh trưởng và do
hình dạng phân cành khác nhau, người ta chia thân chè ra làm ba loại: thân gỗ,
thân nhỡ (thân bán gỗ) và thân bụi.
Thân gỗ là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao.
Thân nhỡ hay thân bán gỗ là loại hình trung gian, có thân chính tương đối rõ rệt,
vị trí phân cành thường cao khoảng 20 - 30cm ở phía trên cổ rễ.
Đặc điểm của thân bụi là cây không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng
thấp, phân cành nhiều, vị trí phân cành cấp 1 thấp ngay gần cổ rễ. Trong sản xuất
thường gặp loại chè thân bụi. Vì sự phân cành của thân bụi khác nhau nên tạo
cho cây chè có các dạng tán: tán đứng thẳng, tán trung gian và tán ngang.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status