TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HỢP ĐỒNG BOT (XÂY DỰNG – KINH DOANH – CHUYỂN
GIAO) THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Vũ Trường Thọ
Lớp : Luật KDQT - Khóa 46
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Minh Hằng Hà Nội, 2011
LỜI CẢM ƠN
1.2. Đặc điểm của hợp đồng BOT 12
1.2.1 Hợp đồng BOT mang các đặc điểm của hợp đồng thương mại 12
1.2.2 Điểm đặc thù của hợp đồng BOT 14
1.2.3 So sánh hợp đồng BOT với một số loại hợp đồng tương tự 15
1.3 Ưu và nhược điểm của hợp đồng BOT 16
1.3.1 Ưu điểm của hợp đồng BOT 16
1.3.2 Nhược điểm của hợp đồng BOT. 18
1.4. Vai trò của hợp đồng BOT 19
1.4.1 Vai trò của hợp đồng BOT trên khía cạnh kinh tế 21
1.4.2 Vai trò của hợp đồng BOT xét trên khía cạnh xã hội 24
CHƢƠNG 2:CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
HỢP ĐỒNG BOT 26
2.1. Tiến trình phát triển của pháp luật về hợp đồng BOT tại VN 26
2.1.1. Pháp luật về hợp đồng BOT áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài . 28
2.1.2. Pháp luật về hợp đồng BOT áp dụng cho nhà đầu tư trong nước . 29
2.1.3. Giai đoạn pháp luật về hợp đồng BOT áp dụng cho cả nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài. 29
3
2.2 Nội dung cơ bản của hợp đồng BOT theo quy định của pháp luật Việt Nam 30
2.3 Các quy định về tài chính và biện pháp bảo đảm đầu tư 42
2.3.1 Các quy định về tài chính 42
2.3.1.1 Nguồn vốn thực hiện hợp đồng BOT 42
2.3.1.2 Các ưu đãi tài chính áp dụng đối với nhà đầu tư và doanh
nghiệp dự án 44
2.3.2 Các biện pháp bảo đảm đầu tư 46
2.3.2.1 Bảo lãnh nghĩa vụ của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án 46
2.3.2.2 Bảo đảm quyền mua ngoại tệ 47
2.3.2.3 Bảo đảm cung cấp các dịch vụ công cộng 48
2.3.2.4 Bảo đảm về vốn và tài sản của nhà đầu tư 48
3.2.1.3 Các giải pháp khác 78
3.2.2 Giải pháp đối với nhà đầu tư 85
3.2.2.1 Nghiên cứu kỹ về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và
tiến độ của hợp đồng dự án 86
3.2.2.2 Tìm hiểu rõ pháp luật về hợp đồng BOT nhằm giảm thiểu rủi ro
pháp lý khi thực hiện hợp đồng BOT 87
3.2.2.3 Nghiên cứu kỹ khả năng thu hồi vốn và khả năng sinh lời của
hợp đồng dự án 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
BẢNG
Bảng 3.1: Danh sách các dự án cơ sở hạ tầng giao thông kêu gọi dự án
BOT giai đoạn 2006-2010 63
BIỂU
Biểu đồ 1.1: Dự án BOT và PPI ở các nước đang phát triển trong giai đoạn 1990-
2006(tỷ đô la Mỹ) 20
Biểu đồ 1.2: Số dự án BOT và PPI tại các nước đang phát triển trong giai đoạn
1990-2006 20
Biểu đồ 2.1: Tiến trình phát triển của quy định pháp luật về hợp đồng BOT 27
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP
Chính Phủ
BKH&ĐT
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
NĐ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới hiện nay, việc
mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại là một xu thế tất yếu và khách
quan. Đây là quá trình khai thác các nguồn lực phát triển bên ngoài để phát
huy nội lực của nền kinh tế quốc gia. Quá trình này đòi hỏi tất cả các nước
phải nỗ lực xây dựng những nền tảng căn bản phục vụ cho quá trình hội nhập
với nền kinh tế thế giới và khu vực. Một trong những cơ sở căn bản đó là một
hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, không chỉ phục vụ cho hoạt động thương mại
trong nước mà còn phục vụ cho quá trình tham gia vào hoạt động thương mại
quốc tế. Hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản bao gồm các lĩnh vực: viễn thông,
năng lượng, giao thông vận tải và cấp nước…
Việc xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đặt ra rất nhiều khó
khăn đối với các quốc gia đang phát triển. Thứ nhất, việc huy động vốn gặp
nhiều khó khăn vì trên thực tế các dự án cơ sở hạ tầng đòi hỏi một khối lượng
vốn khổng lồ mà nguồn vốn ngân sách Nhà nước của các quốc gia thường
không đủ để đáp ứng. Thứ hai, các quốc gia đang phát triển khó khăn về trình
độ chuyên môn, năng lực xây dựng, vận hành, khai thác, bảo trì và quản lý hệ
thống cơ sở hạ tầng. Để giải quyết những khó khăn này, cần phải có sự tham
gia của khu vực tư nhân cả trong nước và quốc tế vào các dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng. Thông qua sự tham gia này Nhà nước sẽ tận dụng nguồn tài chính
khổng lồ cũng như năng lực quản lý trình độ chuyên môn kỹ thuật của khu
vực tư nhân thông thường cao hơn của khu vực Nhà nước. Tuy nhiên, mục
tiêu theo đuổi của khu vực tư nhân chủ yếu là lợi nhuận. Để đảm bảo sự quản
lý của Nhà nước đối với các dự án cơ sở hạ tầng, để đảm bảo các cơ sở hạ
tầng đó phục vụ cho lợi ích của cộng đồng, lợi ích kinh tế và đảm bảo chủ
quyền quốc gia, đồng thời vẫn khuyến khích được khu vực tư nhân tham gia
2
vào lĩnh vực này, Nhà nước đã có các quy định pháp luật về hợp đồng BOT,
Vì thế trong khuôn khổ nghiên cứu, khóa luận chỉ giới hạn tập trung
nghiên cứu pháp luật về hợp đồng BOT trong khoảng thời gian từ 2005 – 2011.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong việc thực hiện khóa luận
này là phương pháp nghiên cứu tổng hợp như phương pháp phân tích, phương
pháp so sánh dựa trên các tài liệu sơ cấp bao gồm các văn bản pháp luật, các
số liệu thống kê từ website của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư và tài liệu thứ cấp
thu thập được thông qua các bài báo điện tử, giáo trình, sách tham khảo
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài các phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hợp đồng BOT
Chương 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng BOT
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
BOT 4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG BOT
Nhà nước lại hạn hẹp, không đủ đáp ứng. Hơn nữa, hiệu quả từ việc đầu tư
của cơ quan Nhà nước vào cơ sở hạ tầng không cao. Chính vì vậy, khi chủ
nghĩa tư bản phát triển, thế giới trải qua cuộc cách mạng công nghiệp cũng là
lúc hợp đồng BOT ra đời, do đó hợp đồng BOT có thể được coi là đứa con
của cuộc cách mạng công nghiệp. Đồng thời, sự phát triển kinh tế vượt bậc ở
khu vực tư nhân, cùng sự tham gia ngày càng sâu rộng của khu vực tư nhân
vào tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội, trong đó có nhiều lĩnh vực
trước đây chỉ có duy nhất Nhà nước mới có quyền tham gia đã chứng tỏ vai
trò kinh tế của lĩnh vực tư nhân trong đời sống xã hội
1
.
Trong những năm cuối thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19, hợp đồng BOT
đã ra đời tại Vương quốc Anh bắt nguồn từ việc xây dựng những con đường
quốc lộ và đường ray xe lửa. Kế tiếp là tại Mỹ, khái niệm hợp đồng BOT xuất
hiện từ các thỏa thuận nhằm xây dựng công trình 15000 dặm đường thu phí vào
giữa thế kỷ 19 của những doanh nhân giàu có. Trong suốt 4 thập kỷ đầu thế kỷ
19 đã có khoảng 450 tuyến đường đã được xây dựng trên khắp nước Mỹ được
thực hiện theo hình thức hợp đồng BOT giữa một bên là các bang nước Mỹ và
một bên là các nhà đầu tư tư nhân. Còn tại Pháp, năm 1782 anh em nhà Perier
đã trở thành những nhà đầu tư thực hiện theo hình thức BOT đầu tiên tại Pháp
với hợp đồng xây dựng đường giao thông tại Paris. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, năm 1844
dự án đầu tiên theo hình thức BOT cũng được thực hiện. Đặc biệt đối với Ai
Cập, ý tưởng về hợp đồng BOT cũng xuất hiện từ khá sớm với việc xây dựng
kênh đào Suez năm 1869 dựa trên nguồn vốn kết hợp giữa nhà đầu tư tư nhân 1
Emmanuelle Auriol and Pierre M. Picard (2009), Theory of BOT Concession Contracts, tr1-2
6
2
http://www.gsd.harvard.edu/users/pollalis/books/bot_part_1.pdf
3
http://www.chanrobles.com/default7.htm
7
ích công chúng. Cũng vào đầu thế kỷ 20, các nước Châu Á cũng đã trải qua
cuộc cách mạng kinh tế, bắt nhịp với sự văn minh nhân loại, thúc đẩy các
hình thức đầu tư mới với sự ra đời của hợp đồng BOT dựa trên xu hướng tư
nhân hóa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Các dự án BOT thành công
đã xuất hiện ngày càng nhiều. Tại Hong Kong đã có nhiều dự án BOT thành
công như đường hầm, cầu cảng Harbour-Crossing năm 1999. Còn tại Trung
Quốc, các dự án năng lượng dựa trên hợp đồng BOT ngày càng trở thành hình
thức phổ biến và là hình thức được Nhà nước và nhà đầu tư ưa thích.
1.1.1.2 Định nghĩa hợp đồng BOT
Hợp đồng BOT thường gắn liền với việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Vì
vậy, định nghĩa hợp đồng BOT trên thế giới cũng gắn liền với định nghĩa cơ
sở hạ tầng. Liên quan đến định nghĩa cơ sở hạ tầng, trên thế giới, khái niệm
cơ sở hạ tầng được coi là việc cung cấp các tiện ích, dịch vụ thiết yếu, phục
vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất hàng ngày của mọi người dân cũng như các
nhà sản xuất, nhà kinh doanh. Các cơ sở hạ tầng có thể kể ra như nhà máy
điện, nguồn cung cấp nước, việc xử lý nước thải… cũng như các công trình
kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng như đường giao thông, cầu cống,
sân bay…
BOT có thể hiểu là viết tắt của 3 từ build, operate, transfer (kinh doanh,
xây dựng, chuyển giao) là một phương thức huy động vốn từ nhà đầu tư tư
nhân. Trên thế giới, hợp đồng BOT được định nghĩa là hợp đồng với mô hình
sử dụng vốn từ khu vực tư nhân để thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng vốn
dĩ vẫn được dành riêng cho khu vực Nhà nước
BTO, Build-Transfer-Operate (Xây dựng, chuyển giao, kinh doanh).
BLT, Build-Lease-Transfer (Xây dựng, cho thuê, chuyển giao).
BRT, Build-Rent-Transfer (Xây dựng, cho thuê, chuyển giao).
ROT, Rehabilitate-Operate-Transfer (Cải tạo, hoạt động, chuyển giao).
ROO, Rehabilitate-Own-Operate (Cải tạo, sở hữu, kinh doanh).
9
1.1.2 Khái niệm hợp đồng BOT tại Việt Nam
1.1.2.1 Nguồn gốc hợp đồng BOT
Cũng giống như trên thế giới, hợp đồng tại Việt Nam xuất hiện ngay từ
khi con người có sự phân công lao động, với hình thức sơ khai là bản giao
kèo bằng miệng từ thời kỳ công xã nguyên thủy. Trải qua thời gian, pháp luật
về hợp đồng ngày càng được hoàn thiện, hoà nhịp cùng sự phát triển với pháp
luật về hợp đồng BOT trên thế giới.
Hợp đồng BOT dựa chủ yếu trên nguồn vốn tư nhân cho nên nhắc đến
nguồn gốc hợp đồng BOT không thể không nhắc đến tiến trình lịch sử của
Việt Nam trong việc công nhận lĩnh vực kinh tế tư nhân là một thành phần
không thể tách rời trong nền kinh tế đất nước. Trở lại với lịch sử, năm 1945,
nước Việt Nam mới được thành lập, với kế hoạch phát triển, với định hướng
Xã hội chủ nghĩa. Khi đó, Việt Nam phải đối mặt với cả thù trong giặc ngoài,
Nhà nước ta đã phải định hướng phát triển kinh tế theo hướng tập trung, bao
cấp. Chính sách đó kéo dài đến những thập kỷ 80 của thế kỷ trước, ngay cả
khi Việt Nam đã hòa bình, thống nhất đất nước. Nhận thấy, chính sách phát
triển kinh tế theo định hướng tập trung, quy mô hợp tác xã, tự cung tự cấp
không còn phù hợp với nền kinh tế Việt Nam, khiến cho đất nước ngày càng
suy thoái và trì trệ. Năm 1986, Việt Nam chính thức thực hiện chính sách đổi
mới một cách sâu rộng, và bắt đầu thực hiện giai đoạn công nghiệp hóa-hiện
đại hóa đất nước. Điều này đã giúp Việt Nam thoát khỏi nền kinh tế quan liêu
bao cấp, đưa kinh tế đất nước phát triển theo nền kinh tế thị trường. Các thành
phần kinh tế mới được mở rộng, các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều
Bên cạnh đó, hoạt động thương mại theo cách hiểu của Luật Thương
mại 2005 là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm các hoạt động
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
11
động nhằm mục đích sinh lợi khác. Việc thực hiện đầu tư theo hình thức BOT
được coi là một hình thức của hợp đồng thương mại. Vì vậy, trước khi đi vào
định nghĩa hợp đồng BOT là gì, khoá luận muốn đi vào phân tích khái niệm
hợp đồng thương mại. Theo GS.TS Nguyễn Thị Mơ
5
, hợp đồng thương mại là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ đối với nhau trong việc thực hiện các hoạt động thương mại nhằm
mục đích sinh lời. Theo đó, các bên tham gia hợp đồng thương mại đều có
quyền và nghĩa vụ riêng của mình hay nói cách khác quyền của bên này sẽ là
nghĩa vụ của bên kia, và ngược lại.
Tại Việt Nam, hợp đồng BOT được định nghĩa là hợp đồng đầu tư
được ký kết giữa Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh
doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn,
nhà đầu tư phải chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt
Nam
6
. Có được khái niệm này là sự kết hợp hai định nghĩa riêng biệt về hợp
đồng BOT được quy định trong quy chế đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT
áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tại khoản 1, Điều 1 Nghị
định 62/1998/NĐ-CP, ngày 15/8/1998 và định nghĩa hợp đồng BOT áp dụng
cho đầu tư trong nước, tại khoản 4 Điều 1, Nghị định 77-CP ngày 18/6/1997.
Định nghĩa này đã cho thấy Nhà nước nhìn nhận hợp đồng BOT trên hai
khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất cho thấy hợp đồng BOT được thực hiện dựa trên
một quá trình đầu tư của nhà đầu tư, nhấn mạnh đến tiến trình từ việc nhà đầu
đều nhằm thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vốn thuộc trách nhiệm của Nhà
nước và Nhà nước tham gia vào các hợp đồng này với tư cách là một chủ thể
đặc biệt tham gia hợp đồng, vừa với tư cách là một chủ thế kinh tế, vừa với tư
cách là chủ thể công quyền.
- Thứ hai, chủ thể của hợp đồng BOT giống như các hợp đồng thương
mại khác, đó là các cá nhân, pháp nhân tham gia vào hợp đồng. Chủ thể của
hợp đồng có thể là các thương nhân, các doanh nghiệp, hoặc các công ty trong
nước, nước ngoài. Trong trường hợp chủ thể là các thương nhân, doanh
nghiệp, cá nhân nước ngoài thì hợp đồng thương mại sẽ coi là có yếu tố nước
13
ngoài. Đồng thời chủ thể của hợp đồng này có thể là Nhà nước, với vai trò là
chủ thể đặc biệt trong hợp đồng thương mại.
- Thứ ba, hợp đồng BOT còn có điểm giống với các hợp đồng thương
mại khác thể hiện ở mục đích của hợp đồng. Mục đích của hợp đồng BOT nói
riêng và hợp đồng thương mại nói chung là tìm kiếm lợi nhuận, và đạt được
các lợi ích kinh tế khác. Điều này phù hợp với quan điểm của Nhà nước trong
việc khuyến khích các tổ chức, các cá nhân làm giàu một cách hợp pháp và
cũng là động lực kích thích sự sáng tạo của các doanh nghiệp trong các hoạt
động thương mại. Tuy nhiên, mục đích thu lợi nhuận của hợp đồng BOT nói
riêng và hợp đồng thương mại nói chung không phải là mục đích duy nhất mà
các chủ thể của hợp đồng theo đuổi khi kí kết và thực hiện hợp đồng. Thực tế
có nhiều các doanh nghiệp, các công ty khi ký kết hợp đồng không chỉ chú ý
đến lợi nhuận mà còn phải song song tiến hành nhiều hoạt động ngoài hoạt
động sinh lời như các hoạt động mở rộng sản xuất, chuyển giao công nghệ…
- Thứ năm, nguyên tắc cơ bản thực hiện hợp đồng BOT cũng giống như
nguyên tắc thực hiện các hợp đồng thương mại khác. Cụ thể, các nguyên tắc
cơ bản đó là:
+) Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt
động thương mại.
cũng có sự tham gia của Nhà nước với vai trò chủ thể.
- Nét khác biệt thứ ba ở hợp đồng BOT so với các hợp đồng khác đó là
quy định về vốn tài trợ để thực hiện hợp đồng. Các hợp đồng vay tài sản khác
thường phải dựa vào cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh. Còn vấn đề vay để thực
hiện dự án trong hợp đồng BOT lại ngược lại. Cụ thể trong hợp đồng BOT,
bên cho vay không phải dựa vào tài sản hiện hữu hoặc hình thành trong tương
15
lai của doanh nghiệp mà bên cho vay thường xem xét tới nguồn thu của dự án
để hoàn trả lại vốn vay thay vì các nguồn bảo đảm truyền thống khác như cầm
cố, thế chấp, bảo lãnh tài sản của bản thân doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư.
- Nét khác biệt thứ tư ở việc thương lượng và ký kết hợp đồng BOT. So
với các hợp đồng khác thì việc ký kết hợp đồng BOT rất phức tạp và chặt chẽ.
Điều này thể hiện qua việc lựa chọn nhà thầu tham gia đàm phán ký kết hợp
đồng BOT. Quy trình chọn nhà thầu hết sức khắt khe cả về quy trình công
nghệ, lẫn yêu cầu về nguồn vốn tài chính của nhà tư để thực hiện dự án BOT.
Hơn thế nữa, việc thương lượng ký kết hợp đồng BOT luôn luôn gắn liền với
các hợp đồng phụ khác như hợp đồng mua bán vật tư để thực hiện dự án, hợp
đồng cung cấp điện cho dự án, hợp đồng thuê đất, hợp đồng bán các sản phẩm
của dự án BOT…Vì vậy, việc ký kết hợp đồng BOT cũng thường đi kèm với
việc thương lượng các điều khoản cơ bản của một số hợp đồng phụ phục vụ
trực tiếp cho việc thực hiện dự án.
- Nét khác biệt thứ năm thể hiện ở chỗ việc thực hiện hợp đồng BOT
luôn gắn với doanh nghiệp dự án hay còn gọi là doanh nghiệp BOT. Trong
quy định về hợp đồng BOT đã quy định rằng hợp đồng BOT phải có một chủ
thể kinh doanh nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh trên cơ sở các thỏa
thuận trong hợp đồng BOT. Với mục đích như vậy, nhà đầu tư có thể thành
lập một doanh nghiệp mới hoặc sử dụng doanh nghiệp đang tồn tại để thực
hiện dự án BOT. Doanh nghiệp BOT không tồn tại nếu không có hợp đồng dự
án. Đồng thời, hợp đồng BOT sẽ không thể thực hiện được hoặc không có ý
đầu tư khi ký kết hợp đồng BOT sẽ được hưởng chính sách ưu đãi về thuế, ưu
đãi về giá thuê đất… Bên cạnh đó, nhà đầu tư được Nhà nước đảm bảo đầu tư.
Theo đó, tài sản của nhà đầu tư sẽ không bị quốc hữu hóa trừ trường hợp khẩn
cấp, Nhà nước sẽ trưng dụng tài sản của nhà đầu tư nhưng Nhà nước vẫn bảo
17
đảm thanh toán hoặc bồi thường tài sản và vốn của nhà đầu tư theo quy định
của Luật Đầu tư 2005 hoặc theo các điều kiện khác thỏa thuận tại hợp đồng dự
án. Chính những ưu đãi này trở thành những nhân tố khích lệ, thúc đẩy nhà đầu
tư tham gia ký kết thực hiện hợp đồng BOT.
- Hợp đồng BOT thường là những hợp đồng xây dựng cầu cống, sân
bay, đường hầm, các công trình về điện Những công trình này cần số vốn
rất lớn. Chính vì vậy, rủi ro của những dự án này cũng rất lớn. Hình thức hợp
đồng BOT ra đời đã giúp Nhà nước không những giảm chi cho Ngân sách
Nhà nước mà còn giúp hai bên thực hiện hợp đồng là Nhà nước và nhà đầu tư,
giảm thiểu được rủi ro tài chính, tận dụng được nguồn tài chính từ khu vực tư
nhân cho việc thực hiện dự án.
- Ưu điểm nữa của hợp đồng BOT được thể hiện qua quá trình lựa chọn
nhà đầu tư rất khắt khe. Theo đó, cơ quan Nhà nước phải lập, thẩm định và
phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư, phát hành hồ sơ mời thầu, đánh giá
hồ sơ mời thầu, sau đó trình, thẩm định, phê duyệt và thông báo kết quả lựa
chọn nhà đầu tư. Thông qua hồ sơ tham gia dự thầu, nhà đầu tư phải nêu rõ
phương án kỹ thuật, phương án tài chính áp dụng, thực hiện dự án BOT. Quy
trình đàm phán ký kết hợp đồng BOT giữa Nhà nước và nhà đầu tư cũng trải
qua quy trình rất khắt khe, nhà đầu tư phải chứng minh khả năng tài chính của
mình để thực hiện dự án. Chính vì vậy, khả năng thành công của dự án BOT,
khả năng áp dụng vào thực tiễn luôn cao hơn so với các dự án thực hiện theo
các hình thức hợp đồng khác.
- Hợp đồng BOT ra đời còn có tác dụng giảm bớt vai trò độc quyền của
Nhà nước trong một số lĩnh vực không cần thiết giữ độc quyền, đồng thời huy
cho nhà đầu tư khi tham gia đàm phán ký kết hợp đồng.