đồ án xử lý nước thải sinh hoạt công nghệ SBR - Pdf 13

Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
MỞ ĐẦU
Hàng ngày có khoảng hàng triệu m
3
nước thải được đưa vào môi trường do hoạt
động sinh hoạt của con người, chưa kể đến các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp…
Cùng với lượng lớn nước thải đó là hàng trăm ngàn tấn các chất hữu cơ, dầu mỡ, các
chất dinh dưỡng (giàu N, P)…cũng được thải ra. Phần lớn lượng nước thải này không
được xử lí mà đổ trực tiếp ra môi trường nước hay đất. Điều này không chỉ gây nguy
hại cho môi trường xung quanh mà còn nguy hiểm hơn khi các chất ô nhiễm này ngấm
xuống lòng đất gây ô nhiễm nước ngầm, vốn là nguồn nước sinh hoạt của nhiều người
dân.
Nước ta đang trên đường hội nhập với thế giới nên việc quan tâm đến môi
trường là điều tất yếu.Vấn đề bảo vệ sức khỏe cho con người, bảo vệ môi trường sống
trong đó bảo vệ nguồn nước khỏi bị ô nhiễm đã và đang được Đảng, nhà nước cùng các
tổ chức, mọi người dân đều quan tâm. Đó không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân
mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.
Một trong các biện pháp tích cực để bảo vệ môi trường sống, bảo vệ nguồn nước
thiên nhiên tránh không bị ô nhiễm bởi các chất thải do hoạt động sống và làm việc của
con người gây ra là việc xử lý nước thải và chất thải rắn trước khi xả ra nguồn tiếp
nhận đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường hiện hành, đồng thời tái sử dụng và giảm
thiểu nồng độ chất bẩn trong các loại chất thải này.
Thành phố Tam Kỳ là một trong những khu vực trọng điểm của tỉnh Quảng
Nam, đang được đầu tư và phát triển, có nhiều tiềm năng về kinh tế xã hội. Sự phát
triển của khu vực này đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng đồng bộ và đáp ứng được các
yêu cầu trong việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống xử lý nước thải
sinh hoạt của thành phố vẫn chưa được xây dựng, nước thải hầu như được thải trực tiếp
ra sông Tam Kỳ gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của người dân xung

CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN CHUNG VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
I.1. Tổng quan chung về xử lý nước thải sinh hoạt ở Việt Nam:
I.1.1. Tổng quan quy mô đô thị Việt Nam:
Tính đến năm 2006, nước ta có 718 đô thị (96 thành phố, thị xã và 622 thị trấn),
trong đó có 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 17 đô thị có quy mô dân số từ
250.000 đến 3.000.000 người, 77 đô thị có quy mô dân số từ 50.000 đến 250.000
người và 622 đô thị có quy mô dân số nhỏ hơn 50.000 người. Trên địa bàn cả nước đã
và đang thành lập khoảng 150 khu công nghiệp tập trung, 10 đô thị mới, 25 khu kinh tế
mở, khu kinh tế cửa khẩu, góp phần mở rộng mạng lưới đô thị quốc gia tại các vùng
ven biển và biên giới. Trong khi đó, theo niên giám thống kê năm 2004, Việt Nam có
672 đô thị, bao gồm 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 84 thành phố, thị xã trực
thuộc tỉnh và 583 thị trấn, cho thấy tốc độ đô thị hóa tăng nhanh. [1]
Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 18% (1986) lên 27% (6/2006). Nhiều đô thị đã phát
triển và mở rộng vượt ra ngoài dự báo cả về tăng trưởng dân số, nhu cầu sử dụng đất và
cơ sở hạ tầng [1]
Dự báo năm 2010, dân số cả nước là 93 triệu người, dân số đô thị sẽ tăng
khoảng 1,14 triệu người/năm, tương ứng tỷ lệ tăng trưởng là 6% trung bình năm, đưa
tổng dân số đô thị cả nước lên 30,4 triệu người chiếm 33% số dân cả nước. Đến năm
2020, dân số cả nước sẽ là 103 triệu người, trong đó dân số đô thị là 46 triệu người,
chiếm tỷ lệ 45% số dân cả nước, bình quân tăng 1,56 triệu người/năm. [2]
Mật độ dân số cao, sản xuất và dịch vụ ở các đô thị phát triển đồng nghĩa với
nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, ngoài nước thải còn phát sinh một lượng lớn chất thải
rắn, khí thải gây ô nhiễm đến môi trường tiếp nhận.
I.1.2. Hiện trạng sử dụng nước ở Việt Nam:
Cùng với sự gia tăng dân số, đô thị hoá, phát triển kinh tế, nhu cầu nước dùng
cho ăn uống - sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ ngày
càng tăng. Lượng nước cần của năm 2000 là 79,61 tỷ m
3
/năm, trong số đó có 2,91 tỷ

Tiêu chuẩn thải nước của một số cơ sở dịch vụ và công trình công cộng được
nêu trong bảng I.1.
Bảng I.1. Tiêu chuẩn thải nước của một số cơ sở dịch vụ
và công trình công cộng.[4]
Nguồn nước thải Đơn vị tính Lưu lượng
(lít/đơn vị tính.ngày)
Nhà ga, sân bay Hành khách 7,5 – 15
Khách sạn Khách 152 – 212
Nhân viên phục vụ 30 – 45
Nhà ăn Người ăn 7,5 – 15
Siêu thị Người làm việc 26 - 50
Bệnh viện Giường bệnh 473 – 908
Nhân viên phục vụ 19 – 56
Trường Đại học Sinh viên 56 – 113
Bể bơi Người tắm 19 – 45
Khu triển lãm, giải trí Người tham quan 15 - 30
Đặc trưng của nước thải sinh hoạt là hàm lượng chất hữu cơ và hàm lượng chất
lơ lửng lớn (hàm lượng chất hữu cơ chiếm 55% – 65% tổng lượng chất ô nhiễm); giàu
Nitơ và Phôtpho; chứa nhiều vi sinh vật, trong đó có cả những vi sinh vật và kí sinh
trùng gây bệnh (tổng số Coliform từ 10
6
– 10
9
MPN/100ml, Fecal Coliform từ 10
4
– 10
7
MPN / 100ml). Mặt khác, trong nước thải còn có nhiều vi khuẩn phân hủy các chất hữu
cơ cần thiết cho các quá trình chuyển hóa chất bẩn trong nước. [4]
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551

Chỉ tiêu Trong khoảng Trung bình
Tổng chất rắn (TS), mg/l
- Chất rắn hòa tan (TDS), mg/l
- Chất rắn lơ lửng (SS), mg/l
350 – 1200
250 – 850
100 – 350
720
500
220
BOD
5
, mg/l 110 – 400 220
Tổng Nitơ, mg/l
- Nitơ hữu cơ, mg/l
- Nitơ Amoni, mg/l
- Nitơ Nitrit, mg/l
- Nitơ Nitrat, mg/l
20 – 85
8 – 35
12 – 50
0 – 0,1
0,1 – 0,4
40
15
25
0,05
0,2
Clorua, mg/l 30 – 100 50
Độ kiềm, mgCaCO

)
- Clorua (Cl
-
)
- Chất hoạt động bề mặt
60 - 65
65
30 - 35
8
3,3
10
2 - 2,5
 Một số ảnh hưởng chính do nước thải gây ra đối với nguồn nước tiếp nhận:
- BOD, COD: sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây
thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường nước.
Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá trình phân hủy
yếm khí sinh ra các sản phẩm như H
2
S, NH
3
, CH
4
,… làm cho nước có mùi hôi thối và
làm giảm pH của môi trường.
- SS: lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí.
- Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến đời sống
của thủy sinh vật nước.
- Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu chảy, ngộ
độc thức ăn, vàng da,…
- N, P: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng. Nếu nồng độ trong nước quá

phương và các công ty tư vấn, thì có trên 50% các tuyến cống đã bị hư hỏng nghiêm
trọng cần phải sửa chữa, 30% các tuyến cống đã xuống cấp, chỉ khoảng 20% vừa được
xây dựng là còn tốt.
Các kênh rạch thoát nước chủ yếu là sử dụng kênh rạch tự nhiên, nền và thành
bằng đất do vậy thường không ổn định. Các cống, ống thoát nước được xây dựng bằng
bê tông hoặc xây gạch, tiết diện cống thường có hình tròn, hình chữ nhật, có một số
tuyến cống hình trứng. Ngoài ra tại các đô thị tồn tại nhiều mương đậy nắp đan hoặc
mương hở, các mương này thường có kích thước nhỏ, có nhiệm vụ thu nước mưa và
nước bẩn ở các cụm dân cư. Các hố ga thu nước mưa và các giếng thăm trên mạng lưới
bị hư hỏng nhiều ít được quan tâm sửa chữa gây khó khăn cho công tác quản lý.
I.1.4. Vấn đề xử lý nước thải sinh hoạt ở Việt Nam:
Vấn đề hiện nay, để thực hiện được triệt để việc xử lý nước thải sinh hoạt thì
chúng ta phải làm ngay từ đầu nguồn. Tức là phải có hệ thống xử lý nước thải trong
mỗi hộ gia đình hoặc cụm dân cư trước khi thải ra ngoài.
Cả nước hiện có 12 thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hạ Long, Huế,
Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Thái Nguyên, Vũng Tàu, Cần Thơ, Bắc Ninh, Hải Dương và
Vinh có các dự án trạm xử lý nước thải đô thị công suất trên 5000m
3
/ngàyđêm đang
trong giai đoạn quy hoạch và xây dựng. Trong đó Buôn Mê Thuột là thành phố đã thực
hiện được việc gắn thoát nước với xử lý nước thải, Đà Lạt thực hiện được một nửa diện
tích thành phố. Tại các nơi này, các hộ gia đình không làm tự hoại mà đưa thẳng vào
một hồ chung để xử lý tổng thể trước khi thải ra ngoài sông, suối. Thành phố Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
7
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
cũng đang chuẩn bị xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại Yên Sở để xử lý toàn bộ

- Toàn bộ thành phố rộng 34.157 ha được chia làm 3 vùng địa hình là vùng bán
sơn địa, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển.
- Khu nội thành và 3 xã ngoại vi liền kề (Tam An, Tam Ngọc, Tam Thái) đều
nằm hoàn toàn trong vùng địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng, hướng dốc thoải
từ Tây Bắc về Đông Nam là nhỏ, cao độ địa hình trung bình ở mức thấp từ 2,5 – 3,0 m
nên một số nơi trũng ngay trong nội thị thường bị ngập úng và nhiều ô địa hình bị mặn
biển thâm nhập và người dân không thể sử dụng giếng nước khơi để phục vụ cho ăn
uống và sinh hoạt.
c) Điều kiện khí hậu:
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
8
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
Khu vực thành phố Tam Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nắng – khô –
nóng, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9 và mùa khô
từ tháng 10 đến tháng 12.
Nhiệt độ trung bình của năm là 26,4
o
C. Nhiệt độ cao nhất là 38,9
o
C và thấp nhất
là 15,5
o
C, độ ẩm thấp từ 82 - 85%.
Lượng mưa cao và tập trung trong ít tháng. Lượng mưa trung bình năm đạt 2419
mm và chủ yếu tập trung vào 3 tháng 7, 8 và 9. Lượng mưa trong năm cao nhất là
3307 mm, có nhiều năm lượng mưa rất thấp, chỉ đạt khoảng 1111 - 1300 mm.
Hai hướng gió chính của khu vực :

9
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
triển mạnh. Trong những năm gần đây, kinh tế thành phố có những bước phát triển
đáng kể nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào tình hình phát triển chung trong tỉnh. Cơ cấu
kinh tế hiện tại của thành phố tuy khác biệt so với các nơi khác trong tỉnh nhưng chưa
là khu kinh tế độc lập, có tiềm năng nên mọi hoạt động đầu tư quy mô lớn đều do trung
ương, tỉnh chi phối.
Một số nét về hiện trạng phát triển kinh tế như sau:
- Kinh tế toàn thành phố đang phát triển theo cơ cấu nông – công – lâm – ngư
nghiệp kết hợp thành một khối thống nhất. Đối với khu vực nội thành, phát triển kinh
tế tập trung vào các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
- Lực lượng lao động hiện có chiếm khoảng 39% dân số (khoảng 62.000 người).
Trong đó lao động trong ngành nông nghiệp là 33,5%, công nghiệp là 23,5%, lâm
nghiệp là 5% và các ngành ngư nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, du lịch khoảng 19,3%.
- Nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
4,0 – 4,5% (giai đoạn 1991 – 1995) và giá trị tổng sản lượng khoảng 16,2 tỷ đồng (năm
1995). Các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là không nhiều, chủ yếu là tập
trung trong nội thành và phần lớn thuộc các ngành gia công chế biến sản phẩm lâm –
ngư nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ trong địa bàn tỉnh, phần nhỏ gia công
ngành tiểu thủ công nghiệp để xuất khẩu.
I.2.2. Hiện trạng hệ thống cấp thoát nước thành phố Tam Kỳ:
I.2.2.1. Hiện trạng hệ thống cấp nước:
Cấp nước cho thành phố Tam Kỳ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu dân sinh khu
vực nội thành và một bộ phận nhỏ cấp hỗ trợ cho các xã lân cận là Tam An, Tam Ngọc,
Tam Thái và Tam Thăng.
Trên cơ sở tình hình phát triển dân số hiện trạng và dự báo phát triển dân số
thành phố đến năm 2020, quy hoạch cấp nước dự báo mức gia tăng dân số cho khu vực

2. Xã Tam Thăng
3. Xã Tam Thái
4. Xã Tam Ngọc
8.226
1.705
1.733
3.365
1.423
32.238
6.675
6.998
12.682
5.883
36.031
7.460
7.821
14.174
6.575
40.361
-
-
-
-
Các xã ven thành phố
(9 xã)
18.577 74.713 83.503 93.539
Tổng cộng 41.146 167.863 255.081 284.800
Kết quả tính toán cho thấy năm 2010, nhu cầu cấp nước trung bình của khu vực
sẽ vào khoảng 16.250 m
3

3
/ngày đêm 8.886 20.372
Ngoại
thành liền
kề
Dân cư ngoại thành
liền kề
Người 36.031 40.361
Tỷ lệ dân được cấp
nước
% 40 60
Số dân được cấp
nước
Người 14.412 24.217
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
11
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
Tiêu chuẩn cấp
nước
Lít/người/
Ngày đêm
120 150
Nhu cầu dùng nước m
3
/ngày đêm 1.729 3.633
Tổng nhu cầu nước sinh hoạt
của khu vực

12
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
CHO THÀNH PHỐ TAM KỲ
II.1. Xác định nồng độ chất bẩn trong nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
Bảng II.1. Ước tính lượng nước thải sinh hoạt trong năm 2010 – 2020.
Đơn vị Năm 2010 Năm
2020
Lượng nước cấp cho sinh hoạt m
3
/ngày.đêm 12738 28806
Lượng nước thải sinh hoạt (tính bằng
80% lượng nước được cấp) [12 - 31]
m
3
/ngày.đêm 10190 23045
 Lưu lượng tính toán của hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
Chọn lưu lượng tính toán cho trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung của thành
phố Tam Kỳ là: Q
TB
= 12.000 (m
3
/ngày.đêm)
Bảng II.2. Lưu lượng tính toán cho hệ thống xử lý.
Thông số Đơn vị Giá trị
ày

3
/h 300
min
s
Q
l/s 83
Với hệ số không điều hòa K được xác định theo [( bảng 3-1) – 13]:
K
0 max
= 1,58
K
0 min
= 0,6
 Xác định nồng độ chất bẩn trong nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
- Dân số tính toán cho thành phố Tam Kỳ:
0
1000Q
N
q
×
=
với: Q: lưu lượng nước thải, Q = 12000 m
3
/ng.đ
q
0
: tiêu chuẩn thải nước theo đầu người,
120 80
96
100

: tiêu chuẩn thải chất lơ lửng theo đầu người,
a
SS
= 60 g/người.ngày [13]
60
1000 625( / )
96
SS mg l→ = =
- Hàm lượng BOD
5
trong nước thải sinh hoạt:
5
1000, /
BOD
o
a
BOD mg l
q
=
với: a
BOD
: hàm lượng BOD
5
tiêu chuẩn tính theo đầu người,
a
BOD
= 30 g/người.ngày [13]
q
o
: tiêu chuẩn thải nước tính theo đầu người,

a
P mg l
q
=
với: hàm lượng Phốt phát

tiêu chuẩn tính theo đầu người,
a
P
= 3,3 g/ người.ngày [13]
3,3
1000 34( / )
96
P mg l→ = =
- Hàm lượng COD của nước thải sinh hoạt:
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
14
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
Theo [4] ta có tỷ lệ:
4
4
5
5
0,65
0,65 0,65 313
424( / )
0,48 0,48 0,48

– 10
9
MPN/100ml. [4 – 10]
Như vậy, ta có bảng thông số các thành phần chất bẩn trong nước thải sinh hoạt
thành phố Tam Kỳ như sau:
Bảng II.3. Bảng thông số các thành phần chất bẩn trong nước thải sinh hoạt.
Thông số Đơn vị Giá trị
SS mg/l 625
BOD
5
mg/l 313
COD mg/l 620
Nito amon mg/l 83
Phosphat mg/l 34
Tổng Coliform MPN/100ml 10
6
- 10
9
Q m
3
/ngày.đêm 12.000
II.2. Các công trình xử lý nước thải sinh hoạt được áp dụng trong thực tế:
Dây chuyền công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt phổ biến có thể chia làm 4
khối:
a) Khối xử lý cơ học (xử lý sơ cấp):
Nước thải tuần tự qua song chắn rác, bể lắng cát, bể điều hòa và bể lắng đợt I.
Chức năng của khối xử lý cơ học là tách rác và các hạt rắn có kích thước lớn khỏi dòng
nước thải đảm bảo chế độ làm việc ổn định cho các công trình ở phía sau.
b) Khối xử lý sinh học (xử lý thứ cấp):
Nước thải tuần tự qua các khối xử lý cơ học, công trình xử lý sinh hoc, bể lắng

Đường nước Đường cặn Đường phân chia khối
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
16
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
17
Nước thải vào
I
8
9
3
4
5
6
7
Nước thải ra
10
1
2
Clo
II
III
IV
Hình II.1. Sơ đồ nguyên tắc dây chuyền công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh
[14]
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3

Bón ruộng
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
Nước thải được chảy qua bể lắng đợt II, bùn được giữ lại và lắng xuống đáy,
phần nước trong được chảy qua máng trộn. Tại đây, hóa chất được trộn đều với nước
thải. Sau đó hỗn hợp này chuyển qua bể tiếp xúc để thực hiện các quá trình và phản
ứng diệt khuẩn.
Nước sau khử trùng được xả ra nguồn tiếp nhận.
Bùn từ các bể lắng được được bơm vào bể metan là nơi phân hủy các hợp chất
hữu cơ có trong bùn trong môi trường kỵ khí. Sau đó bùn được đem đi phơi tại sân
phơi bùn.
 Ưu, nhược điểm của công nghệ:
- Ưu điểm:
+ Hiệu quả xử lý cao (khử BOD của bể đạt từ 60 đến 85%); [4 – 187]
+ Sinh ít bùn;
+ Chiếm ít diện tích;
+ Xử lý được Nitơ, Photpho.
- Nhược điểm:
+ Chỉ hoạt động có hiệu quả khi BOD
5
của nước thải dưới 300 mg/l; [4 – 187]
+ Chi phí đầu tư cho đệm đắt;
+ Dễ bị tắc nghẽn trong các lỗ rỗng của lớp vật liệu lọc;
+ Phải thường xuyên rửa lớp vật liệu lọc;
+ Quản lý vận hành phức tạp;
+ Tốn năng lượng để thổi khí.
II.2.2. Công nghệ xử lý bằng hồ sinh học:
Bảng II.4. Tính chất nước thải đầu vào và đầu ra của hệ thống xử lý nước thải sinh

Nhà máy xử lý nước thải áp dụng công nghệ xử lý hồ ổn định. Hệ thống xử lý
sử dụng hồ ổn định bao gồm hai chuỗi hồ song song, mỗi chuỗi gồm năm hồ nối tiếp
nhau. Đầu tiên nước thải từ các hộ gia đình, cơ quan, công sở, nhà hàng, khách sạn
được đấu nối chảy vào hệ thống cống chung, chuyển tải về nhà máy bằng hệ thống
đường ống chôn ngầm dưới đất dẫn về nhà máy xử lý nước thải.
Nước thải từ các trạm bơm, từ các đường ống tự chảy đi vào nhà máy qua ống
dẫn nước thải về có đường kính 700 mm. Tại điểm đầu công trình thu, nước thải chảy
qua một hố chìm là nơi đá, cát, sỏi được tích đọng lại, lượng này được đinh kì xả ra hố
thu đá gần kề. Sau đó nước thải chảy vào hệ thống thu gom, qua hệ thống thu gom cặn,
váng, các chất rắn được giữ lại, đươc vớt ra theo chu kỳ. Tại đây các công nhân đo lưu
lượng nước hàng giờ.
Nước thải qua hệ thống thu gom vào hố phân chia lưu lượng, tại đây nước thải
được bổ sung thêm lượng bùn nước được lấy từ hầm tự hoại của các khu vực (thực ra
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
20
Hồ kỵ khí Thác tạo
khí
Hồ sinh
học
Nước thải
Công
trình thu
Thác tạo
khí
Hồ sinh
học
Hồ làm
thoáng
Trạm bơm
tái sử dụng

+ Tiết kiệm năng lượng;
+ Chỉ dùng một trạm bơm để đưa nước thải về, còn lại thì phần lớn dòng chảy tự
chảy về nhà máy;
+ Không sử dụng hóa chất (chỉ tốn một lượng nhỏ để khử mùi hôi), chỉ dùng
năng lượng mặt trời để khử trùng nước thải;
+ Có khả năng làm giảm các vi sinh vật gây bệnh nhiễm trong nước thải xuống
tới mức thấp nhất;
+ Cung cấp nước tưới tiêu cho người dân xung quanh; kết hợp chăn nuôi có giá
trị kinh tế cao;
+ Chi phí xây dựng, vận hành, bảo dưỡng thấp, đơn giản, tiết kiệm.
- Nhược điểm:
+ Thời gian lưu nước khá lâu nên thể tích hồ lớn, tốn diện tích đất.
+ Cần nhiều nhân lực để quản lý vận hành nhà máy;
+ Gây mùi hôi;
+ Công trình chỉ phù hợp với nơi có địa hình dốc.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
21
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
II.2.3. Công nghệ xử lý bằng bể SBR:
 Sơ đồ công nghệ:
Hìn
h II.4. Sơ đồ hoạt động của hệ thống aeroten hoạt động gián đoạn [4]
 Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
Đầu tiên nước thải chảy qua song chắn rác nhằm loại bỏ bớt các tạp chất thô
như: giẻ, giấy, bao bì,…Sau đó nước thải được chảy vào bể lắng cát nhằm loại bỏ cát
nhằm đảm bảo cho công trình xử lý phía sau hoạt động ổn định.
Từ bể lắng cát nước thải qua bể lắng đợt một nhằm tách cặn làm trong nước,

+ Cấu tạo đơn giản.
+ Bể làm việc không cần phải có bể lắng thứ cấp. Do vậy tiết kiệm được diện
tích xây dựng.
+ Sự dao động lưu lượng nước thải ít ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý.
+ Hiệu quả xử lý cao và có thể khử được Nitơ và Photpho sinh hoá do có thể
điều các quá trình hiếu khí, thiếu khí và kị khí trong bể bằng việc thay đổi chế độ cấp
khí vào bể.
+ Có thể dễ dàng điều chỉnh được quá trình xử lý.
- Nhược điểm:
+ Nhân lực vận hành bể đòi hỏi phải có trình độ, theo dõi thường xuyên các
bước xử lý nước thải.
+ Không tuần hoàn bùn, chỉ định kỳ xả lượng bùn ra ngoài.
II.3. Lựa chọn công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt cho thành phố Tam Kỳ:
Từ việc phân tích các sơ đồ công nghệ, việc lựa chọn công nghệ xử lý SBR có
nhiều ưu điểm như: khử được tốt Nito, Photpho; chịu được sự quá tải; có thể điều chỉnh
được thời gian lưu ở trong bể…
Công nghệ SBR được ứng dụng ngày càng nhiều trong các công trình xử lý
nước thải sinh hoạt.
 Sơ đồ công nghệ XLNT sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
M
1

2
3
4
5
6
6
6
7

lượng vô ích cho các thiết bị xử lý sinh học. Sau một thời gian, cát lắng ở bể lắng cát
được đưa ra sân phơi cát.
Sân phơi cát có nhiệm vụ làm giảm độ ẩm của cát, nước thu được dẫn về bể
trung gian.
Nước thải từ bể lắng cát chảy qua bể lắng đợt I. Bể lắng I có nhiệm vụ tách các
tạp chất lơ lửng còn lại trong nước thải sau khi đã qua các công trình xử lý trước. Bùn
từ đáy bể lắng được bơm về bể nén bùn.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
24
Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m
3
/ngày
Nguyễn Thị Thanh Hải – Lớp CNMT K50 QN
Sau đó nước được dẫn qua bể chứa trung gian. Từ đây nước thải được bơm lên
bể SBR. Tại đây, trong khi nạp nước vào bể, ta tiến hành cấp oxy bằng máy khuấy trộn
bề mặt để vi sinh vật có trong bể từ chu kỳ trước thực hiện quá trình oxy hóa các chất
bẩn hữu cơ. Sau khi hết thời gian cấp khí cần thiết, tiến hành để lắng tĩnh trong một
thời gian nhất định. Nước sau khi lắng được xả ra bằng thiết bị thu nước bề mặt
(decanter). Bùn dư được đưa ra bể nén bùn.
Nước sau khi xử lý sinh học cho chảy tới máng hòa trộn hóa chất khử trùng, sau
khi hòa trộn đều hóa chất, nước được dẫn sang bể tiếp xúc, quá trình khử khuẩn xảy ra
chủ yếu ở bể này. Bùn cặn từ đáy bể này được xả định kỳ về bể nén bùn.
Nước khử trùng xong đạt tiêu chuẩn loại A (QCVN 14 : 2008) được xả ra nguồn
tiếp nhận.
Bùn cặn từ bể lắng I, bể SBR, bể tiếp xúc được đưa vào bể nén bùn nhằm giảm
bớt độ ẩm và thể tích của bùn, làm giảm khối lượng vận chuyển. Sau đó, bùn được
bơm ra sân phơi bùn, nước tách ra được dẫn về bể chứa trung gian.
Sân phơi bùn có chức năng làm mất nước bùn cặn (giảm độ ẩm bùn cặn từ 97 –
98% xuống còn 80%) trong điều kiện tự nhiên. Sau đó, bùn được đem đi sử dụng cho
các mục đích khác, nước thu được dẫn về lại bể trung gian.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status