Bài toán phát triển ngành giao thông vận tải bền vững, thân thiện môi trường
Ngô Kim Định
Phó Vụ trưởng Vụ Môi trường
Bộ Giao thông Vận tải
Ô nhiễm môi trường do các hoạt động phát triển kinh tế - xãhội (KT-XH), hoạt động giao
thông vận tải (GTVT), công nghiệp và dân sinh đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến
chất lượng môi trường, làm suy giảm đa dạng sinh học và tác động xấu đến sức khỏe con người.
Theo báo cáo các vấn đề môi trường năm 2006 của Ngân hàng Thế giới, chi phí do tác động của ô
nhiễm không khí đến sức khỏe cộng đồng ở các thành phố lớn của Iran như Têhêran, Mashad và
Esiahan chiếm 1,5 % GDP đất nước.
Phát triển GTVT là động lực cho sự thịnh vượng của một quốc gia, là điều kiện cho sự hội
nhập và phát triển của đất nước. Tuy nhiên, ô nhiễm và suy thoái môi trường là hậu quả không
mong muốn khi các mục tiêu phát triển nhanh về KT -XH, không song hành với các mục tiêu phát
triển bền vững. Tốc độ phát triển nhanh về số lượng các loại phương tiện GTVT làm tăng các áp
lực đến môi trường. Trong đó, số lượng ôtô và xe máy tăng nhanh ở khu vực đô thị là nguồn lớn
gây ô nhiễm môi trường không khí. Sự gia tăng các loại tàu sông, tàu biển và hoạt động hàng hải
cũng làm chất lượng môi trường biển, sông hồ ngày càng suy giảm, hàm lượng các chất ô nhiễm
ngày càng gia tăng. Đặc biệt, sự cố môi trường do hoạt động vận tải như tràn dầu, tràn các chất
độc hại trong quá trình vận chuyển cũng đang là nguy cơ gây suy thoái môi trường. Việc nâng cấp,
cải tạo, mở rộng hệ thống hạ tầng giao thông làm cho tài nguyên đất, rừng dần thu hẹp, làm suy
giảm đa dạng sinh học. Ngoài ra, việc phát triển công nghiệp GTVT cũng tạo ra nhiều chất thải
độc hại, tổn hao nhiên liệu, hóa chất và thải ra những chất thải khó kiểm soát, gây suy thoái môi
trường. Việt Nam đã và đang phải đương đầu vói áp lục giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường
(BVMT), trong đó có môi trường không khí như một số nước châu Á đã gặp phải trước đây trong
quá trình tăng trưởng KT -XH và tiêu thụ năng lượng quá nhanh mà không quan tâm đến BVMT.
Thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về công tác BVMT,
Bộ GTVT đã trình Thủ tướng Chính phủ "Đề án giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động
GTVT". Ngày 6/6/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 855/QĐ-TTg phê duyệt Đề
án giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động GTVT và giao Bộ GTVT chủ trì tổ chức thực hiện
Quyết định này.
Đề án nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động GTVT hướng đến mục tiêu chung
của Thủ tướng Chính phủ; Hoàn thiện bản đồ tiếng ồn đối với tất cả các cảng hàng không, sân bay
và phương án giảm thiểu ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn do hoạt động vận tải hàng không; Nâng
cao hiệu quả hoạt động của các trang thiết bị thu gom, xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt trên các
tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa. Đến năm 2020, đạt 80% số toa xe khách đường
sắt đóng mới được trang bị công cụ, thiết bị thu gom, phân loại rác thải và xử lý nước thải sinh
hoạt; 70% cảng biển quốc tế; 50% cảng, bến thủy nội địa loại 1 có trang bị phương tiện, thiết bị
thu gom rác thải, dầu thải từ các tàu; 100% các bệnh viện, phòng khám ngành GTVT tổ chức phân
loại, thu gom tốt chất thải rắn y tế; 80% số bệnh viện, phòng khám, trung tâm phục hồi chức năng
có hệ thống thu gom, xử lý chất thải lỏng y tế; 80% số bệnh viện ngành có hệ thống xử lý chất thải
rắn y tế tiên tiến tại chỗ; Tiếp tục thông tin truyền thông về hệ thống GTVT thân thiện với môi
trường; tiếp tục việc tập huấn, đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về BVMT cho cán bộ chủ chốt
ngành GTVT.
Định hướng đến năm 2030: Phát triển hệ thống GTVT đất nước bền vững, thân thiện với
môi trường, cơ bản kiểm soát được các yếu tố gây ô nhiễm môi trường trên tất cả các lĩnh vực
đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không.
Mặc dù Thủ tướng Chính phủ phê duyệt giữa năm 2011, nhưng hầu hết các nội dung chủ yếu
của Đề án đã được ngành GTVT khỏi động thực hiện vói sự phối hợp với các Bộ/ngành liên quan,
đặc biệt là Bộ TN&MT. Một số nội dung BVMT ngành GTVT đã thực hiện như sau: Rà soát, xây
dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về BVMT trong hoạt động GTVT; Tổ
chức nhiều lớp đào tạo, tập huấn, tuyên truyền về pháp luật BVMT cho cán bộ các cấp của ngành;
Tuân thủ các hoạt động BVMT trong hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông ở tất
cả các cấp; Tổ chức ứng dụng các loại hình GTVT xanh, thân thiện môi trường như thí điểm xe
buýt chở khách công cộng chạy dầu, xăng bằng nhiên liệu thân thiện môi trường (CNG, LPG) tại
Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; Xe taxi điện chở khách công cộng tuyến ngắn (Hà Nội, TP.
Hồ Chí Minh...); Thí điểm xe buýt công cộng có chỗ cho người khuyết tật... Thực hiện các giải
pháp kiểm soát phát thải khí từ các phương tiện vận tải đường bộ, đặc biệt là đối với ô tô (công tác
đăng kiểm); Thực hiện xây dựng và thí điểm các mô hình kiểm soát, xử lý, giảm thiểu chất thải
trong hoạt động giao thông vận tải trên tất cả các lĩnh vục GTVT; Đánh giá, đề xuất, tham mưu
cho Chính phủ để tham gia các công ước quốc tế về BVMT trong GTVT biển và hàng không dân
dụng trong điều kiện nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.