MỤC LỤC
CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Vipco
b.Thực trạng hoạt động của công ty
* Khó khăn:
2.2.4 Tạo động lực cho người lao động
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
1
LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi đảng và nhà nước ta chủ trương chuyển từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường với
nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia sản xuất kinh doanh, đã có nhiều doanh
nghiệp bắt kịp với cơ chế mới làm ăn phát đạt và khẳng định được vị trí của
mình trên thương trường. Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp do không
thích ứng với cơ chế này dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh thua lỗ, gặp
nhiều khó khăn và dẫn đến đào thải.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và một trong những nguyên
nhân quan trọng nhất là họ không tìm được cho mình một con đường đi đúng đó
là họ chưa phân tích được hiệu quả kinh tế đã đạt được, để từ đó có sự đầu tư
quản lý đúng đắn để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai.
Hiệu quả kinh tế đạt được sau mỗi kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh là
thước đo phản ánh trình độ tổ chức, trình độ quản lý và sử dụng các nguồn lực
(lao động, vốn, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ ) của doanh nghiệp.
Điều này đã giải thích lý do một số doanh nghiệp mặc dù có đội ngũ lao động
lành nghề, máy móc thiết bị hiện đại, nguồn vốn lớn nhưng vẫn không sản xuất
kinh doanh có lãi. Do đó, việc sử dụng các nguồn lực phải được xem là công tác
quan trọng trong công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với
doanh nghiệp
1.1. Khái niệm
Các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Một số cách hiểu được diễn đạt như sau:
- Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh là một mức độ đạt được lợi ích từ sản
phẩm sản xuất ra tức là giá trị sử dụng cửa nó (Hoặc là doanh thu và nhất là lợi
nhuận thu được sau quá trình kinh doanh ). Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả
và mục tiêu kinh doanh.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện sự tăng trưởng kinh tế phản ánh qua
nhịp độ tăng của chỉ tiêu kinh tế,cách hiểu này còn phiến diện vì chỉ đứng trên
mức độ biến động của các chỉ tiêu này theo thời gian.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí so với mức tăng kết
quả. Đây là biểu hiện của các số đo chứ không phải là khái niệm về hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa
kết quả với chi phí. Định nghĩa như vậy là chỉ muốn nói về cách xác lập các chỉ
tiêu chứ không toát nên ý niệm của vấn đề.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên
mỗi lao đông hay mức danh lợi của vốn sản xuất kinh doanh.Quan điểm này
muốn quy hiệu quả về một số chỉ tiêu tổng hiệu quả sản xuất kinh doanh cụ thể
nào đó.
Bởi vậy cần có một số khái niệm cần bao quát hơn:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự
phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong
triển và mở rộng thị trường, qua đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường,
thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, giảm được các chi phí về nhân
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
5
lực và tài lực. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với phát triển
doanh nghiệp theo chiều sâu, nâng cao đời sống người lao động, góp phần vào
sự phát triển của xã hội và đất nước.
Tóm lại cơ chế thị trường và đặc trưng của nó đã khiến việc nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
nếu không doanh nghiệp sẽ bị đào thải. Do vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện kinh tế thị trường với cơ chế lấy thu bù chi, cạnh tranh
trong kinh doanh ngày càng tăng, các doanh nghiệp phải chịu sức ép từ nhiều
phía. Đặc biệt đối với doanh nghiệp của nước ta khi bước vào cơ chế thị
trường đã gặp không ít những khó khăn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, hoạt
động kém hiệu quả là do chịu tác động của nhiều nhân tố. Song nhìn một
cách tổng quát có 2 nhân tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp:
2.1. Nhóm nhân tố chủ quan
Mỗi biến động của một nhân tố thuộc về nội tai doanh nghiệp đều có thể
ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh, làm cho mức độ hiệu qủa của
quá trình sản xuất của doanh nghiệp thay đổi theo cùng xu hướng của nhân tố
đó.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp ta thấy nổi lên tám
nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, mức độ hoạt động
hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào sự tác động của tám nhân tố
này. Để thấy rõ được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan ta đi phân
tích chi tiết từng nhân tố.
thúc đẩy người lao động nỗ lực hơn trong phạm vi trách nhiệm của mình, tạo ra
được sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra từ
đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh.
2.1.2. Công tác tổ chức quản lý
Đây là nhân tố liên quan tới việc tổ chức, sắp xếp các bộ phận, đơn vị thành
viên trong Doanh nghiệp. Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
7
doanh thì nhất thiếu yêu cầu mỗi Doanh nghiệp phải có một cơ cấu tổ chức
quản lý phù hợp với chức năng cũng như quy mô của Doanh nghiệp trong
từng thời kỳ. Qua đó nhằm phát huy tính năng động tự chủ trong sản xuất
kinh doanh và nâng cao chế độ trách niệm đối với nhiệm vụ được giao của
từng bộ phận, từng đơn vị thành viên trong Doanh nghiệp.
Công tác quản lý phải đi sát thực tế sản xuất kinh doanh, nhằm tránh tình
trạng “khập khiễng”, không nhất quán giữa quản lý (kế hoạch) và thực hiện.
Hơn nữa, sự gọn nhẹ và tinh giảm của cơ cấu tổ chức quản lý có ảnh hưởng
quyết định đến hiệu quả của qúa trình sản xuất kinh doanh.
2.1.3. Quản lý và sử dụng nguyên liệu
Nếu dự trữ nguyên liệu, hàng hoá quá nhiều hay quá ít đều có ảnh hưởng
không tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Vấn đề đặt ra là phải dự trữ một
lượng nguyên liệu hợp lý sao cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián
đoạn. Bởi vì, khi thu mua hay dự trữ quá nhiều nguyên liệu, hàng hoá sẽ gây ứ
đọng vốn và thủ tiêu tính năng động của vốn lưu động trong kinh doanh. Còn dự
trữ quá ít thì không đảm bảo sự liên tục của qúa trình sản xuất và thích ứng với
nhu cầu của thị trường. Điều này dĩ nhiên ảnh hưởng không tốt đến qúa trình sản
xuất cũng như công tác tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp.
Hơn nữa, về bản chất thì nguyên liệu là một bộ phận của tài sản lưu động,
vậy nên tính năng động và tính linh hoạt trong sản xuất kinh doanh là rất cao.
Do vậy tính hợp lý khi sử dụng nguyên liệu ở đây được thể hiện qua: Khối
sở (thời điểm gốc) được chọn. Còn khi ta xét về mặt kinh tế, tức là bảo đảm khả
năng hoạt động của Doanh nghiệp so với thời điểm cơ sở, về khía cạnh pháp lý
thì là bảo đam tư cách kinh doanh của Doanh nghiệp.
Từ việc huy động sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn được thực hiện có
hiệu quả sẽ góp phần tăng khả năng và sức mạnh tài chính của Doanh nghiệp,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo hiệu quả kinh tế của Doanh
nghiệp.
2.1.5. Nhân tố cơ sở vật chất kỹ thuật
Thực tế cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện quy mô và là yếu tố cơ bản đảm
bảo cho sự hoạt động của Doanh nghiệp. Đó là toàn bộ nhà xưởng, kho tàng,
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
9
phương tiện vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị nhằm phục cụ cho qúa trình
sản xuất kinh doanh tại Doanh nghiệp. Nhân tố này cũng có ảnh hưởng đến hiệu
quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, vì nó là yếu tố vật chất ban đầu của qúa
trình sản xuất kinh doanh. Tại đây, yêu cầu đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để
cơ sở vật chất đã có, còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu bổ, sữa chữa
và tiến tới hiện đại hoá, đổi mới công nghệ của máy móc thiết bị. Từ đó nâng
cao sản lượng, năng suất lao động và đảm bảo hiệu quả kinh tế ngày càng được
nâng cao.
2.1.6. Hiểu biết về thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh hàng
hoá của mình thông qua thị trường. Thị trường thừa nhận hàng hoá đó chính là
người mua chấp nhận nó phù hợp với nhu cầu của xã hội. Còn nếu người mua
không chấp nhận tức là sản phẩm của Doanh nghiệp chưa đáp ứng đúng nhu cầu
của người mua về chất lượng, thị hiếu, giá cả và như vậy tất nhiên Doanh
nghiệp sẽ bị lỗ. Bởi vậy để hoạt động tốt hơn, tiêu thụ được nhiều hàng hoá,
tăng lợi nhuận thì các Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hoá bắt buộc
phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu khả năng cung của thị trường, cầu của
máy móc, thiết bị từ đó nâng cao sản lượng, năng suất lao động và đảm bảo
hiệu quả ngày càng cao.
2.2. Nhóm nhân tố khách quan
2.2.1. Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế, của ngành
Đây là một nhân tố có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh tế. Mỗi
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế. Do vậy doanh nghiệp muốn tồn
tại, phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao thì nhất thiết phải có một môi
trường kinh doanh lành mạnh.
Tuy nhiên, trong một nền sản xuất công nghiệp có trình độ phân công và
hiệp tác lao động cao thì mỗi ngành, mỗi Doanh nghiệp chỉ là một mắt xích
trong một hệ thống nhất. Nên khi chỉ có sự thay đổi về lượng và chất ở bất kỳ
mắt xích nào trong hệ thống cũng đòi hỏi và kéo theo sự thay đổi của các mắt
xích khác, đó là sự ảnh hưởng giữa các ngành, các Doanh nghiệp có liên quan
đến hiệu quả kinh tế chung. Thực chất một Doanh nghiệp, một ngành muốn phát
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
11
triển và đạt hiệu quả kinh tế đơn lẻ một mình là một điều không tưởng. Bởi vì,
quá trình sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư - sản xuất - tiêu thụ là liên tục và
có mối quan hệ tương ứng giữa các ngành cung cấp tư liệu lao động, đối tượng
lao động và các ngành tiêu thụ sản phẩm. Do vậy để đạt hiệu quả cao cần gắn
với sự phát triển của nền kinh tế, của các ngành và các ngành có liên quan.
2.2.2. Mức sống và thu nhập của dân cư, khách hàng
Thực chất, nhân tố này xét về một khía cạnh nào đó cũng thể hiện sự phát
triển và tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên do mức độ quan trọng và tính
đặc thù của nhân tố này nên ta có thể tách ra và xem xét kỹ hơn. Đó là, sản
phẩm hay dịch vụ tạo ra phải được tiêu thụ, từ đó Doanh nghiệp mới có thu nhập
và tịch luỹ. Nếu như thu nhập tình hình tài chính của khách hàng cao thì có thể
tốc độ tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện dịch vụ của Doanh nghiệp là cao và
ngược lại.
đó nguyên vật liệu trong SXKD thường chiếm tỉ trọng lớn, mà hầu hết nguyên
liệu chính đều có nguồn gốc do mua ngoài. Trong khi tính sẵn có của nguồn
cung ứng nguyên vật liệu thường ảnh hưởng phần nào lên kế hoạch và tiến độ
sản xuất của Doanh nghiệp, giá cả nguyên liệu chính có tác động rất lớn đến giá
thành sản phẩm. Vì vậy, sự quan tâm tới giá cả và nguồn cung ứng nguyên vật
liệu có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá và phân tích hậu quả
kinh tế. Đây là một nhân tố khách quan và nằm ngoài tầm kiểm soát của Doanh
nghiệp.
2.2.5. Môi trường cạnh tranh và quan hệ cung cầu
Ngày nay, trong cơ chế thị trường thì sự cạnh tranh là rất gay gắt và quyết
liệt. Nó mang tích chắt lọc và đào thải cao. Do vậy nó đòi hỏi mỗi Doanh nghiệp
phải không ngừng nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh,
qua đó nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp mình và đứng vững
trên thương trường. Điều này buộc các Doanh nghiệp phải tìm mọi phương án
nhằm giảm bớt chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm nếu không muốn đi
đến bờ vực của sự phá sản và giải thể. Dù muốn hay không, mỗi Doanh nghiệp
đều bị cuốn vào sự vận động của môi trường kinh doanh. Do vậy, để không bị
cuốn trôi thì nhất định các Doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh tế của sản
xuất kinh doanh.
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
13
Bên cạnh đó mối quan hệ cung cầu trên thị trường cũng có ảnh hưởng không
nhỏ đối với cả “đầu vào” và “đầu ra” của qúa trình sản xuất kinh doanh tại
Doanh nghiệp, mà cụ thể là giá cả trên thị trường. Nếu sự lên xuống của giá cả
nguyên liệu đầu vào không đồng nhất với sản phẩm bán ra sẽ gây lên nhiều bất
lợi cho Doanh nghiệp. Khi đó thu nhập của Doanh nghiệp không được đảm bảo,
tương ứng sẽ làm giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh. Dù đây là những nhân
tố khách quan nhưng Doanh nghiệp cũng cần phải theo dõi và nghiên cứu kỹ
lưỡng để có những sách lược phù hợp.
C
K
(1) Trong đó:
H: Là hiệu quả kinh tế.
K: Là kết quả sản xuất đạt được.
C: Là chi phí sản xuất bỏ ra.
Về kết quả sản xuất đạt được hiện nay người ta thường dùng chỉ tiêu về
doanh thu hoặc lợi nhuận.
Về chi phí sản xuất có thể sử dụng toàn bộ chi phí lao động sống và lao
động vật hoá hoặc lao động sống ( thường tính theo số lượng lao động bình quân
năm) hoặc vốn sản xuất bình quân năm.
Từ công thức (1) ta có thể vận dụng và tính toán hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp theo chỉ tiêu sau:
Doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận
Vốn sản xuất bình quân năm
Trong đó: Vốn sản xuất bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Đây là chỉ
tiêu phán ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất. Thông qua các chỉ tiêu này thấy
được một đồng vốn bỏ vào sản xuất tạo ra được bao nhiêu đồng tổng thu nhập,
thu nhập thuần tuỳ. Nó cho ta thấy được hiệu quả kinh tế không chỉ đối với lao
động vật hoá mà còn cả lao động sống. Nó còn phản ánh trình độ tổ chức sản
xuất và quản lý của ngành cũng như của các doanh nghiệp. Mục tiêu sản xuất
của ngành cũng như của doanh nghiệp và toàn xã hội không phải chỉ quan tâm
tạo ra nhiều sản phẩm bằng mọi chi phí mà điều quan trọng hơn là sản phẩm
được tạo ra trên mỗi đồng vốn bỏ ra nhiều hay ít.
Chỉ tiêu doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận, tiền vốn là các chỉ tiêu
phản ánh trình độ phát triển sản xuất, trình độ sử dụng nguồn vốn vật tư, lao
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
15
H =
DN
ròng: Lợi nhuận dau thuế
Ý nghĩa chỉ tiêu: 1 đồng vốn kinh doanh trong kỳ thì làm ra bao nhiều đồng lợi
nhuận.
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
16
DL
TV
=
(2)
Một cơ số vốn cho 1 năm có thể tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh
doanh, nghĩa là 1 cơ số vốn trong năm có thể chịu hiện nhiều vòng quay gọi là
tốc đi chu chuyển vốn. Tốc độ chu chuyển vốn (SV) là số vòng tính bình quân
cho cả kỳ kinh doanh của tổng vốn. Công thức tính của nó như sau:
Doanh thu
Tổng vốn kinh doanh
Trong đó:
SV - Tốc độ chịu chuyển vốn.
Ý nghĩa chỉ tiêu: Bình quân trong kỳ vốn kinh doanh quay được mấy vòng.
b. Mức doanh lợi chi phí
Mức doanh lợi chi phí phản ánh các hoạt động kinh doanh trên 2 phạm vi
toàn doanh nghiệp và cho 1 chủng loại sản phẩm.
Mức doanh lợi tính cho tổng chi phí của doanh nghiệp được xác định theo công
thức sau:
%100x
Z
TT
DL
rong
Kết quả
Trong đó: Kết quả được xác định theo chỉ tiêu tổng doanh thu hoặc lợi nhuận.
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ biểu hiện 1 đồng TSCĐ trong kỳ sản xuất ra
bình quân bao nhiêu đồng của chỉ tiêu kết quả kinh doanh tương ứng.
Hiệu quả sử dụng TSCĐ có thể biểu hiện theo cách ngược lại, tức là là nghịch
đảo của công thức ( 6 ), gọi là suất TSCĐ (S
TSCĐ
).
S
TSCĐ
= (7)
Nó cho biết 1 đồng kết quả kinh doanh cần phải có bao nhiêu đồng TSCĐ.
b. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Vốn lưu động là vốn đầu tư vào TSLĐ của doanh nghiệp. Nó là số tiền
ứng trước về TSLĐ nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục.
Đặc điểm của loại vốn này là luân chuyển không ngừng, luôn luôn thay đổi hình
thái biểu hiện giá trị toàn bộ ngay 1 lần và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn trong 1
chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động thường bao gồm vốn dự trữ sản xuất
(nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ
tùng thay thế, công cụ lao động thuộc TCLĐ), vốn trong quá trình trực tiếp sản
xuất (sản phẩm đang chế tạo, phí tổn đợi phân bổ và vốn trong quá trình thông
tin), vốn thành phầm, vốn thanh toán. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (ký hiệu
là H
VLĐ
)
cũng được xác định bằng cách lấy kết quả kinh doanh (KQ) chia cho
vốn lưu động bình quân trong năm (ký hiệu là VLĐ).
H
VLĐ
ngày rồi chia cho 366). Để đơn phân, trong thực tế thường tính như sau:
2
c. Hiệu quả sử dụng lao động
Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất, góp phần
quan trọng trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng lao
động được biểu hiện ở năng suất lao động hoặc hiệu suất tiền lương.
Năng suất lao động được xác định bằng cách chia kết quả kinh doanh trong kỳ
cho số lựơng lao động bình quân trong kỳ.
Do kết quả kinh doanh được phản ánh bằng 3 chỉ tiêu: Tổng giá trị kinh
doanh, giá trị gia tăng và lợi nhuận nên có 3 cách biểu hiệu của NSLĐ tính bình
quân cho 1 người (lao động). Trong kỳ (thường tính theo năm). Gọi số lượng
lao động bình quân trong năm là lao động và năng suất lao động bình quân năm
là NSLĐ, ta có:
NSLĐ =
Năng suất lao động tính theo năm chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sử
dụng thời gian cụ thể là nó phụ thuộc vào số ngày bình quân làm việc trong
năm, số giờ bình quân làm việc mỗi ngày của 1 lao động trong doanh nghiệp và
NSLĐ bình quân mỗi giờ điều đó được thể trong công thức sau:
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
19
SV
LC
=
(10)
SN
LC
=
(11)
VLĐ =
+ Hệ số thanh toán ngắn hạn (K).
Hệ số thanh toán ngắn hạn thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản lưu
động với nợ ngắn hạn. Công thức tính hệ số thanh toán ngắn hạn:
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn có giá trị càng cao chứng tỏ khả năng thanh
toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên nếu giá trị của hệ số
thanh toán ngắn hạn quá cao thì điều này lại không tốt vì nó phản ánh sự việc
doanh nghiệp đã đầu tư quá mức vào tài sản lưu động so với nhu cầu doanh
nghiệp và tài sản lưu động dư thừa thường không tạo thêm doanh thu. Do vậy,
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
20
Hệ số thanh
toán ngắn hạn
(lần)
=
KQ
n x g x LĐ
nếu doanh nghiệp đầu tư quá đáng vốn của mình vào tài sản lưu động, số vốn đó
sẽ không được sử dụng có hiệu quả.
Hệ số thanh toán ngăn hạn được các chủ nợ chấp nhận là K ≥2. Nhưng để
đánh gí hệ số thanh toán ngắn hạn của một doanh nghiệp tốt hay xấu thì ngoài
việc dựa vào hệ số k còn phải xem xét ba yếu tố sau:
- Bản chất ngành kinh doanh.
- Cơ cấu tài sản lưu động.
- Hệ số quay vòng của một số loại tài sản lưu động như hệ số quay vòng
các khoản phải thu của khác hàng, hệ số quay vòng hàng tồn kho, hệ số quay
vòng vốn lưu động.
+ Hệ số thanh toán nhanh (tức thời) (Kn).
doanh nghiệp thất bại.
Công thức tính các chỉ số kết cấu của nguồn vốn:
*Tỷ số vốn vay/nguồn vốn =
*Tỷ số vốn sở hữu/nguồn vốn =
Nếu doanh nghiệp đầu tư vào TSCĐ là chủ yếu thì doanh nghiệp phải biết
cách lợi dụng tác động của đòn cân nợ và phần lớn nguồn vốn vay phải là vay
dài hạn. Vay dài hạn 1 năm là giảm nhu cầu vốn thường xuyên của doanh
nghiệp, mặt khác tiền lãi phải trả được thừa nhận như một khoản chi phí cần
thiết có doanh thu.
Ngoài các chỉ tiêu phản ánh về hiệu quả sản xuất kinh doanh và các chỉ
tiêu tài chính quan trọng đã nêu ở trên còn nhiều chỉ tiêu đanh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh khác. Nhưng do gới hạn của bài luận văn này nên chúng tôi
không sử dụng để phân tích như các chỉ tiêu về tài chính là: Tỷ lệ lãi gộp, tỷ lệ
lãi thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh…
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH MTV VIPCO
HẢI PHÒNG
1.Vài nét sơ lược về công ty
1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển
Trong nền kinh tế hội nhập Việt Nam đã gia nhập WTO tổ chức thương
mại hàng đầu trên thế giới. Với những tiền đề và thách thức mới đó Việt Nam có
rất nhiều cơ hội trong việc tham gia vào thị trường sôi động và đầy tiềm năng
đó. Trong đó thị trường xăng dầu là thị trường đầy triển vọng và hứa hẹn.
Trong thời kỳ mới đứng trước hội nhập và thách thức mới khi Việt Nam gia
nhập WTO thì đây là cơ hội rất lớn cho chúng ta triển khai những dự định và kế
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
22
Nợ phải trải
Tổng nguồn vốn
x 100%
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
23
Tên Tiếng Việt : CÔNG TY TNHH MTV VIPCO HẢI
PHÒNG
Tên Tiếng Anh : VIPCO HAI PHONG Co,. Ltđ
Tên viết tắt : VIPCO HP
Người đại diện hợp pháp Ông: Lê Thanh Hải - Giám đốc công ty.
Địa chỉ: 37 Phan Bội Châu, Phường Quang Trung, Hồng Bàng, Hải
Phòng.
Điện thoại : 0313.838.306.
Fax : 0313.530.977
Email: [email protected]
Vốn điều lệ: 20.000.000.000 (đồng).
1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Công ty TNHH một thành viên VIPCO là một công ty kinh doanh thương
mại, thực hiện chức năng nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng. Đối tượng kinh
doanh của công ty là hàng hoá, đó là những sản phẩm của công ty mua về để bán
ra nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng của thị trường.
- Mặt hàng kinh doanh chủ yếu của công ty gồm:
+ Kinh doanh xăng dầu và sản phẩm hoá dầu, gas và các thiết bị sử dụng
gas.
+ Dich vụ xuất nhập khẩu hàng hoá, vật tư thiết bị phụ tùng.
+ Vận tải thuỷ, Đại lý tàu biển, Đại lý vận tải, Môi giới tàu biển
+ Vệ sinh tàu biển, Cung ứng tàu biển, Khai thuế hải quan.
- Danh mục các đối tác trao đổi hàng hoá:
+ Công ty Vinaship.
+ Công ty Falcon
Sinh viªn: TrÇn Quang Huy
Líp: KTVT K8
Líp: KTVT K8
25