TÀI LIỆU THỰC TẬP KỸ THUẬT THIẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC - Pdf 13



Sơ đồ quy trình xử lý nước rỉ rác
Không khí
Song chắn
Bể thu gom
Bể Arotank
Bể UASB
Bể lắng 1
Bể trộn
Bể hóa lý
Hồ hiếu khí
Hồ tùy nghi
Hệ thống lọc RO
Na
2
CO
3
PAC
Tái sử dụng
Bùn sinh học
Bùn hóa lý
Hố chôn lấp rác
công nghiệp
Nước rỉ rác

Sơ đồ quy trình vận hành bãi chôn lấp
Năm 1999: bắt đầu quy hoạch , đánh giá ĐTM
2003: tiến hành tiếp nhận và chôn lấp rác
Dự kiến đến cuối năm 2013 sẽ đóng cửa bãi chôn lấp
Bùn thải từ quá trình xử lý hóa lý: chôn lấp

Hệ thống tiếp nhận và chôn lấp rác Hệ thống xử lý nước rỉ rác
Phòng điều hành
Phòng họp
Phòng bảo vệ
Phòng điều hành cân

Xử lý nước rỉ rác:
Phòng vận hành
Nhà thiết bị
Nhà xe
Phòng thí nghiệm
Nhà kho
Tổng diện tích bãi chôn lấp: 15 ha
Bao gồm:14 hố chôn lấp rác hợp vệ sinh
9 hố chôn rác sinh hoạt:
SH1: (đóng bãi)diện tích 10.800 m
2
SH2: (đóng bãi)diện tích 8.775 m
2
SH3: (đóng bãi)diện tích 8.151,5 m
2
SH4: (đóng bãi)diện tích 9.520 m
2
SH5: (đóng bãi)diện tích 9.520 m
2
SH6: (đóng bãi)diện tích 9.520 m
2
SH7: (đóng bãi)diện tích 8.800 m
2
SH8,9: (đang chôn lấp) diện tích 20.354 m

đào các hố chôn lấp thì lượng rác tồn nhiều năm trước mới được xử lý. Chính vì phải bới,
móc để san bằng những "núi" rác nên đa xảy ra tình trạng ô nhiễm từ không khí tại các khu
vực dân cư diễn ra trong nhiều năm qua. Thực tế, để giảm mùi và ruồi, nhân viên xử lý rác
thường xuyên phun chế phẩm sinh học hoặc rắc vôi, nhưng do mùi quá nặng, đồng thời diện
tích của các "núi" rác quá lớn nên không thể khống chế hoàn toàn được tình trạng ô nhiễm.
Hiện nay lượng rác tồn đã được xử lý gần hết nên không còn các núi rác như trước. Đến nay,
một vài hố rác đầy đa được lấp đất và trồng cây, cỏ. Ngoài ra, để góp phần hạn chế mùi hôi
thối phân tán ra khu dân cư, Công ty Dịch vụ-Môi trường Biên Hòa còn trồng hàng cây xanh
chung quanh khu vực bãi rác Trảng Dài
Với mức độ rác như hiện nay, chỉ đến năm 2010 thì bản thân nó cũng sẽ bị lắp đầy. Thời gian
gần đây, Công ty dịch vụ môi trường đô thị Biên Hòa có khắc phục dần mức độ ô nhiễm từ
bãi rác Trãng Dài nên mùi hôi thối được giảm bớt. Mot số hộ dân ở khu phố 3, phường Trảng
Dài, thành phố Biên Hòa cũng nhận định, hiện nay mùi hôi từ bãi rác đã giảm nhiều so với
trước. Tuy nhiên, nhiều thời điểm trong ngày, mùi khó chịu từ bãi rác vẫn còn phảng phất
theo hướng gió. Tại kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh, Ông Lê Viết Hưng- GĐ Sở TN-MT đã đề nghị
các giải pháp nhằm làm giảm ô nhiễm từ các nguồn thải trên. Đầu năm 2007, bãi rác Trãng
Dài sẽ tiếp tục triển khai xây dựng thêm cac công trình thuộc giai đoạn 2. Trong đó sẽ xây
dựng 6 hố chôn lấp rác sinh hoạt và 2 hố chôn rác công nghiệp. Từ kết quả phân tích môi
trường do Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật (Phân viện tại TP. Hồ Chí Minh) và Trung tâm
kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 thực hiện cuối tháng 11-2006 thì mẫu nước thải
sau xử lý, mẫu nước mặt suối (nơi nước thải đổ ra), mẫu nước ngầm tại bãi rác và khu vực
dân cư cùng các mẫu không khí tại BRTD và những điểm dân cư đều đạt tiêu chuẩn cho
phép. "Đến nay, các giải pháp xử lý ô nhiễm ở BRTD đã thực hiện, đảm bảo: khống chế giảm
thiểu ô nhiễm bụi, tiếng ồn, khí thải, mùi hôi, nhiệt độ; khống chế ô nhiễm đối với nước thải từ
rác hoặc nước mưa chảy tràn
Hệ thống xử lý nước thải rỉ rác
in Xử lý nước thải / no comments
1. Tổng quan :
Nước rò rỉ từ bãi chôn lấp (còn gọi là nước rác) đang là vấn đề nhức nhối trong
xã hội về mặt môi trường và mỹ quan. Nước rò rỉ có nồng độ chất ô nhiễm cao, có

C
Sự phân hủy chất thải rắn trong bãi chôn lấp bao gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn I – giai đoạn thích nghi ban đầu
Giai đoạn II – giai đoạn chuyển tiếp
Giai đoạn III – giai đoạn lên men axit
Giai đoạn IV – giai đoạn lên men metan
Giai đoạn V- giai đoạn ổn định
Việc tổng hợp và đặc trưng thành phần nước rác là rất khó vì có nhiều yếu tố khác
nhau tác động lên sự hình thành nước rò rỉ. Nên tính chất của nó chỉ có thể xác định
trong một khoảng giá trị nhất định và được cho trong bảng 1
Bảng 1 : Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác của các bãi
chôn lấp mới và lâu năm.Thành phần
Giá trị, mg/l
a
Bãi mới (dưới 2 năm) Bãi lâu năm
( Trên 10 năm)
Khoảng Trung bình
BOD
5
2.000-55.000 10.000 100-200
TOC 1.500-20.000 6.000 80-160
COD 3.000-90.000 18.000 100-500
Chất rắn hòa tan 10.000-55.000 10.000 1.200
Tổng chất rắn lơ lửng 200-2.000 500 100-400
Nitơ hữu cơ 10-800 200 80-120
Amoniac 10-800 200 20-40
Nitrat 5-40 25 5-10

chôn lấp đã chuyển sang giai đoạn metan hóa thì pH sẽ cao hơn (6,8 – 8,0), đồng thời
BOD
5
, COD, TDS và nồng độ các chất dinh dưỡng (nitơ, photpho) thấp đi. Hàm
lượng kim loại nặng giảm xuống bởi vì khi pH tăng thì hầu hết các kim loại ở trạng
thái kém hòa tan.
Khả năng phân hủy của nước rác thay đổi theo thời gian. Khả năng phân hủy
sinh học có thể xét thông qua tỷ lệ BOD
5
/COD. Khi mới chôn lấp tỷ lệ này thường
khoảng 0,5 hoặc lớn hơn. Khi tỷ lệ BOD
5
/COD trong khoảng 0,4-0,6 hoặc lớn hơn thì
chất hữu cơ trong nước rò rỉ dễ phân hủy sinh học. Trong các bãi rác lâu năm, tỷ lệ
BOD
5
/COD rất thấp, khoảng 0,005 – 0,2. Khi đó nước rò rỉ chứa nhiều axit humic và
fulvic có khả năng phân hủy sinh học thấp
Khi thành phần và tính chất nước rò rỉ thay đổi theo thời gian thì việc thiết kế hệ
thống xử lý cũng rất phức tạp. Chẳng hạn như, hệ thống xử lý nước rác cho bãi chôn
lấp mới sẽ khác so với hệ thống xử lý các bãi rác lâu năm. Đồng thời, việc phân tích
tính chất nước rò rỉ cũng rất phức tạp bởi nước rò rỉ có thể là hỗn hợp của nước ở các
thời điểm khác nhau. Từ đó, việc tìm ra công nghệ xử lý thích hợp cũng gặp nhiều
khó khăn, đòi hỏi phải nghiên cứu thực tế mới có thể tìm ra công nghệ xử lý hiệu quả.
3. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải rỉ rác:
Nước rò rỉ bãi rác lúc ban đầu có nồng độ đậm đặc, pH thấp, nhu cầu oxy sinh hóa
BOD và nhu cầu oxy hóa hóa học COD cao, đồng thời có mặt của các chất độc hại.
Hơn nữa, chất lượng nước rò rỉ biến động rất khác nhau tùy thuộc từng bãi chôn lấp
và thời gian chôn lấp. Do vậy, cả quá trình xử lý sinh học và hóa học đều chưa có thể
ứng dụng riêng lẽ để xử lý nước rò rỉ trong suốt quá trình tồn tại của bãi chôn lấp. Vì

nhờ vào hệ thống cấp khí từ các máy thổi khí. Từ bể Aerotank, nước thải được dẫn
sang bể lắng II, tại đây diễn ra quá trình phân tách giữa nước thải và bùn hoạt tính.
Nước thải sau bể lắng II tuy đã được xử lý phần lớn lượng chất hữu cơ, canxi và
cặn lơ lững, tuy nhiên hàm lượng chất ô nhiễm hữu cơ vẫn còn cao, chưa đạt tiêu
chuẩn thải ra nguồn tiếp nhận. Bên cạnh đó, các chất hữu cơ tồn tại trong nước thải
sau bể lắng II chủ yếu là các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học, tỉ lệ BOD/COD của
nước rất thấp. Do đó không thể tiếp tục áp dụng các phương pháp xử lý sinh học.
Nước sau bể lắng II sẽ được tiếp tục xử lý bậc cao bằng phương pháp oxy hóa bằng
H
2
O
2
tại bể phản ứng oxy hóa.
Tại bể phản ứng oxy hóa, H
2
SO
4
được cho vào nhằm tạo môi trường phản ứng
pH = 2-4, H
2
O
2
cùng với FeSO
4
cũng được cho vào đồng thời để phản ứng diễn ra.
Thời gian lưu tại bể phản ứng là 2h để phản ứng xảy ra hoàn toàn. Sau quá trình oxy
hóa, nước thải chảy sang bể trung hòa, tại đây NaOH được đưa vào nhằm đưa giá trị
pH về khoảng trung tính. Ngoài ra, polymer cũng được thêm vào để tăng kích thước
bông cặn của quá trình oxy hóa trước khi vào bể lắng.
Nước thải tiếp tục chảy sang bể lắng, tại đây bông cặn của quá trình oxy hóa

phía sau.
b. Bể phản ứng
Nước thải từ bể điều hòa 1 và 2 được bơm lên bể phản ứng. Hóa chất keo tụ và hóa
chất hiệu chỉnh môi trường được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm
soát chặt chẽ bằng máy pH. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn
được lắp đặt trong bể, hóa chất keo tụ và hóa chất hiệu chỉnh môi trường được hòa
trộn nhanh và đều vào trong nước thải. Trong điều kiện môi trường thuận lợi cho quá
trình keo tụ, hóa chất keo tụ và các chất ô nhiễm trong nước thải tiếp xúc, tương tác
với nhau, hình thành các bông cặn nhỏ li ti trên khắp diện tích và thể tích bể. Hỗn hợp
nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông.
c. Bể keo tự tạo bông
Tại bể keo tụ tạo bông, hóa chất trợ keo tụ được châm vào bể với liều lượng nhất
định. Dưới tác dụng của hóa chất này và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm,
các bông cặn li ti từ bể phản ứng sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên
những bông cặn tại bể keo tụ tạo bông có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần
các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng lamella.
Hỗn hợp nước và bông cặn hữu dụng tự chảy sang bể lắng lamenla.
d. Bể lắng lamella - Xử lý nước thải rỉ rác
Nước thải từ bể keo tụ tạo bông được phân phối vào vùng phân phối nước của bể lắng
lamella. Hiệu suất bể lắng được tăng cường đáng kể do sử dụng hệ thống tấm lắng
lamella. Bể lắng lamella được chia làm ba vùng căn bản:
· Vùng phân phối nước;
· Vùng lắng ;
· Vùng tập trung và chứa cặn.
Nước và bông cặn chuyển động qua vùng phân phối nước đi vào vùng lắng của bể là
hệ thống tấm lắng lamella, với nhiều lớp mỏng được sắp xếp theo một trình tự và
khoảng cách nhất đinh. Khi hỗn hợp nước và bông cặn đi qua hệ thống này, các bông
bùn va chạm với nhau, tạo thành những bông bùn có kích thước và khối lượng lớn
gấp nhiều lần các bông bùn ban đầu. Các bông bùn này trượt theo các tấm lamella và
được tập hợp tại vùng chứa cặn của bể lắng. Nước sạch được thu ở phía trên bể lắng

cơ, chuyển hóa chúng thành CO2, H2O, các sản phẩm vô cơ khác và các tế bào sinh
vật mới.
Trong giai đoạn này cần tiến hành thí nghiệm để kiểm soát các thông số đầu vào như:
DO, BOD5, COD, N, P, cường độ sục khí, nhiệt độ, pH… để có thể tạo bông bùn hoạt
tính hiệu quả cho quá trình lắng.
Ø Giai đoạn 3: Giai đoạn lắng – Pha 3: Lắng
Sau quá trình làm thoáng, nước thải trong các bể sinh học được để yên và quá trình
lắng tĩnh bắt đầu diễn ra. Sau thời gian lắng nhất định, ta có thể nhận thấy sự phân
tách lớp bùn và nước trong bể.
Ø Giai đoạn 4: Giai đoạn chắt nước – Pha 4: Xả nước và bơm xả lượng bùn dư
Trong giai đoạn này, phần nước trong phía trên trong bể sinh học được đưa sang bể
khử trùng. Một phần lượng bùn hoạt tính lắng dưới đáy bể được đưa sang sân phơi
bùn.
Khi giai đoạn xả nước, xả bùn (nếu có) hoàn tất, nước thải tiếp tục được nạp vào bể
sinh học để tiếp tục chu kỳ mới. Bể sinh học có chế độ vận hành linh hoạt tùy thuộc
vào lưu lượng và tính chất nước thải đầu vào.
Nước sau thời gian xử lý tại bể sinh học cải tiến được bơm qua bể lọc áp lực
f. Bể lọc áp lực
Nước thải sau khi qua bể sinh học được bơm lên bể lọc áp lực để loại bỏ triệt để các
bông cặn còn xót lại ở trong nước. Các hạt cặn này được giữ lại trên bề mặt vật liệu
lọc, phần nước trong được dẫn qua bể lọc nano dạng khô. Bể lọc áp lực là loại bể lọc
nhanh kín, thường được chế tạo bằng thép có dạng hình trụ đứng và hình trụ ngang.
Ưu điểm của việc sử dụng bể lọc áp lực so với các bể lọc chậm, bể lọc nhanh phổ
thông, bể lọc hai chiều, bể lọc hạt lớn, …. là:
Phù hợp với công suất trạm.
Tiết kiệm diện tích sử dụng.
Thiết bị cơ động, dễ dàng vận chuyển và thay đổi vị trí.
Lưu lượng nước xử lý ổn định.
Thời gian rửa lọc nhanh.
Hiệu suất xử lý cao.

2. xử lý Nito và khử Canxi: loại bỏ ( N-NH3) bằng hệ
thống Stripping và khử Canxi + tiền xử lý hóa lý
- nước thải sau khi lắng vôi được dẫn vào hố bơm (A-
05).Nước thải được tiếp tục bơm lên tháp Stripping (A-06)
để loại bỏ N-NH3 từ >1000 mg/l xuống 10 mg/l.Tại đây
nước thải được bổ sung thê hóa chất là dung dịch NaOH
để duy trì giá trị pH =10-11 cho quá trình xử lý tại tháp
Stripping bằng bơm định lượng hóa chất.Quá trình châm
NaOH trên đường ống bơm lên tháp Stripping được điều
khiển tự động qua thiết bị đo pH được lắp trên đường ống
- nước thải trong bể sẽ được bơm tự động lên tháp
Stripping theo mực nước đo được trong bể.các thiết bị
tháp Stripping được hoạt động hoặc dừng tự động theo sự
hoạt động của bơm cấp nước từ bể thu nước
- khí được cấp cho 2 tháp Stripping hoạt động theo
nguyên tắc nối tiếp:Nước thải sau tháp Stripping 1 sẽ
được thu vào hố bơm rồi được bơm tiếp lên tháp stripping
2 quá trình hoạt động như tháp Stripping 1
- sau khi qua tháp Stripping 2 nướ thải sẽ được đưa qua
bể xử lý Canxi (B-01) nhằm loại bỏ ion Ca2+ trước khí đi
vào giải đoạn xử lý sinh học.tại đây nước thải được trộn
với hoa1 chất trên đường ống phần Ca2+ kết tủa sẽ lắng
tại ngăn lắng,nước sẽ tràn theo máng thu sang bể xử lý
sinh học
- trên đường ống dẫn nước thải từ bể Stripping 2 sang bể
B-01 có bố trị thêm hệ thống châm hóa chất
(FeCl3,H2SO4,polymer). Lúc này bể B-01 đóng vai tròn là
bể tiền xử lý hóa lý( keo tụ – tạo bông- lắng) nhằm tăng
điều kiện ổn định và tăng hiệu suất xử lý cho hệ thống xử
lý sinh học C-tech.

lương và điều khiễn sẽ giúp người vận hành nắm bắt được
nhu cầu sử dụng oxy của hệ thống từ đó quyết định mức
độ hoạt động của máy thổi khí sao cho vẫn đạt hiệu quả
xử lý đồng thời tiết kiệm chi phí điện năng cho quá trình
xử lý.sau thời gian sục khí vừa đủ,ngưng cung cấp không
khí vào bể C-tech và bể lắng,thời gian này sẽ diễn ra
mãnh liệt quá trình khử Nito.Cuối chu kỳ xử lý nước được
đưa sang bể trung gian bằng thiết bị dacentor
4. xử lý hóa lý
- nước thải sau khi xử lý sinh học sẽ được bơm sang bể xử
lý hóa lý B-05 để loại bỏ các căn lơ lửng trong nước rỉ rác
và 1 phần tử màu.Lưu lượng nước thải bơm lên bể xử lý
hóa lý được điều khiển tự động nhờ thiết bị đo lưu lượng
lắp trên đường ống.bể xử lý hóa lý gồm 3 ngăn đóng vai
trò là cụm thiết bị keo tụ + tao bong + lắng.Tại ngăn đầu
của bể xử lý hóa lý đóng vai trò là bể tạo bong, dung dịch
phèn FeCl3 và H2SO4 được châm vào ngăn này.Ngăn tạo
bông được bổ sung polymer nhằm lien kết các bông cặn
lại với nhau tạo thành bông cặn có kích thước to hơn và
dễ lắn hơn trước khi chảy sang ngăn thứ 3 là ngăn
lắng.Quá trình keo tụ,tạo bông với phèn Fe2+ diễn ra ơ
pH=3-3,5
5. oxy hóa fenton 2 bậc
- sau quá trình xử lý hóa lý nước thải sẽ được dẫn sang
cụm xử lý fenton 2 bậc (C-01–> C-02–>C-04–>C-05–>C-
03) để tiếp tục xử lý màu và các chất không có khả ngăn
phân hủy sin học trong nước rỉ rác.tại cụm oxy hóa fenton
2 bậc hóa chất Fe2+,H2O2 và H2SO4 được châm vào các
ngăn C-01(fenton bậc 1) và C-04 (fenton bậc 2)
- hệ tác nhân fenton là 1 hỗn hợp gồm cac1 ion Fe2+ và

đạt hệ thống phân phối khí đễ cấp khí trong quá trình
phân hủy bùn(bùn sinh học).Trong bể phân hủy bùn duy
trình bùn ơ trạng thái thiếu khí để làm tăng quá trình
phân hủy VSV và tránh các mùi hôi thối sinh ra nếu để
bùn ở trạng thái yếm khí
- bùn từ quá trình xử lý hóa lý,bùn sinh học được tự động
thu gom về bể chứa bùn.Bùn từ bể chứa sẽ được xe bồn
hút thu gom và vận chuyễn vào các ô chôn rác của bãi rác
- nước sau khi xử lý đảm bảo luôn đạt chuẫn loại A TCVN
trước khi thải bỏ ra nguồn tiếp nhận
Công nghệ UASB

a. Nguyên tắc hoạt động
• UASB là viết tắc của cụm từ Upflow anearobic sludge blanket, tạm dịch là bể xử lý
sinh học dòng chảy ngược qua tầng bùn kỵ khí. UASB được thiết kế cho nước thải có
nồng độ ô nhiễm chất hữu cơ cao và thành phần chất rắn thấp. Nồng độ COD đầu vào
được giới hạn ở mức min là 100mg/l, nếu SS>3000mg/l không thích hợp để xử lý bằng
UASB.
• UASB là quá trình xử lý sinh học kỵ khí, trong đó nước thải sẽ được phân phối
từ dưới lên và được khống chế vận tốc phù hợp (v<1m/h). Cấu tạo của bể UASB thông
thường bao gồm: hệ thống phân phối nước đáy bể, tầng xử lý và hệ thống tách pha.
• Nước thải được phân phối từ dưới lên, qua lớp bùn kỵ khí , tại đây sẽ diễn ra
quá trình phân hủy chất hữu cơ bởi các vi sinh vật, hiệu quả xử lý của bể được quyết
định bởi tầng vi sinh này. Hệ thống tách pha phía trên bê làm nhiệm vụ tách các pha rắn
– lỏng và khí, qua đó thì các chất khí sẽ bay lên và được thu hồi, bùn sẽ rơi xuống đáy
bể và nước sau xử lý sẽ theo máng lắng chảy qua công trình xử lý tiếp theo.
• Hiệu suất của bể UASB bị phụ thuộc vào các yếu tố như: nhiệt độ, pH, các chất
độc hại trong nước thải…,
b. Ưu điểm nổi bật
• Xử lý các loại nước thải có nồng độ ô nhiễm hữu cơ rất cao, COD= 15000mg/l.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status