Một số ý kiến về kinh phí sự nghiệp môi trường trong bảo vệ môi trường ở nước ta
PGS.TS Nguyễn Danh Sơn
Chuyên gia tư vấn Dự án VPEG
Kinh phí sự nghiệp môi trường (KPSNMT) là một nguồn lực tài chính quan trọng cho
BVMT ở nước ta. Cùng với các nguồn lực khác, nguồn lực tài chính này đóng góp tích cực, mang
lại những thành quả, kết quả không chỉ trong công tác quản lý, BVMT mà còn giúp cho các hoạt
động phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của phát triển bền vững.
Bài viết này đề cập tới một số vấn đề về KPSNMT như là một nguồn lực tài chính cho
BVMT, được rút ra từ nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án "Quản lý nhà nước về môi trường cấp
tỉnh ở Việt Nam" (gọi tắt theo tiếng Anh là VPEG) và trình bày theo 2 phần: Phân 1 khái quát bức
tranh về quản lý KPSNMT và những vần đề đặt ra; Phần 2 nêu một số giải pháp chính như là kiển
nghị đối với quản lý nguồn tài chính này trong thời gian tới.
1. Thực trạng quản lý KPSNMT thời gian qua và những vấn đề đặt ra
Khái niệm KPSNMT không phải là thông dụng trong lĩnh vực quản lý tài chính công trên thế
giới (và do vậy không có thuật ngữ tiếng Anh chính thức trong các tài liệu liên quan). Ở nước ta,
KPSNMT được thống nhất quy định là kinh phí cho "thực hiện các nhiệm vụ BVMT do ngân sách
nhà nước (NSNN) bảo đảm" (theo Thông tư liên tịch Bộ Tài chính - Bộ TN&MT số
45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 hướng dẫn thực hiện việc quản lý KPSNMT). Như
vậy, KPSNMT là một nguồn lực tài chính cho BVMT (Sơ đồ 1) và theo Luật Ngân sách nhà nước
(2002), KPSNMT thuộc mục nhiệm vụ chi thường xuyên.
- KPSNMT: Trưóc năm 2006, chi NSNN cho hoạt động BVMT ở nước ta không có khoản
mục riêng, mà được lấy từ khoản mục Chi sự nghiệp kinh tế (theo Điều 21 và 24, Nghị định của
Chính phủ số 60/2003/NĐ-CP) và được thực hiện theo các quy định tại Thông tư Liên tịch số
15/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 22/2/2005 của Liên Bộ Tài chính - TN&MT hướng dẫn quản lý
và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế thực hiện nhiệm vụ BVMT.
Cuối năm 2004, Nghị quyết Số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị yêu cầu "NSNN cần có mục chi
riêng cho hoạt động sự nghiệp môi trường và tăng chi để bảo đảm đến năm 2006 đạt mức chi
không dưới 1% tổng chi NSNN và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế".
Thực hiện yêu cầu này, bắt đầu từ năm 2006, NSNN đã dành 1% tổng chi ngân sách hàng năm cho
khoản mục chi sự nghiệp môi trường. Việc quản lý KPSNMT được thực hiện theo các quy định tại
Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT- BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 hướng dẫn thực hiện việc
Đóng góp của dân cư chủ yếu thông qua phí thu gom chất thải với mức phí thấp (mới đủ cho
thu gom, vận chuyển) và tỷ lệ thu được cũng chỉ khoảng 70 - 80%. Đầu tư của các tổ chức
NGO/iNGO chủ yếu là bằng các dự án nhỏ, mang tính hỗ trợ, xây dựng mô hình, phong trào... Có
thể nói, nguồn lực tài chính đầu tư cho môi trường ở Việt Nam chủ yếu là từ NSNN (gồm cả
nguồn ODA) và trong tầm nhìn trước mắt (5 năm), tuy chi tài chính từ nguồn ngoài ngân sách cho
BVMT, với xu hướng ngày càng tăng nhưng chưa làm đảo ngược bức tranh cơ cấu nguồn chi hiện
nay cho BVMT.
Bức tranh đầu tư nêu trên có phần khác so với các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, Nhà nước
còn phải gánh vác trách nhiệm đầu tư tài chính nhiều hơn và bao quát cả những khoản chi lẽ ra
phải là của doanh nghiệp, dân cư (như hỗ trợ thu gom, vận chuyển, xử lý, chôn lấp chất thải, vận
hành hoạt động các bãi chôn lấp chất thải, hỗ trợ xử lý, khắc phục ô nhiễm, đảm bảo hoạt động
của hệ thống quan trắc và phân tích môi trường...)
Có thể đánh giá chung và cũng là những vấn đề đặt ra đối với chi sự nghiệp môi trường cần
được chú ý trong thời gian tới là:
a. Nguồn chi hạn chế và phân bổ dàn trải
- Mức chi NSNN hàng năm cho sự nghiệp môi trường là ít cả so với nhu cầu thực tế và cả so
sánh với quốc tế.
Quy định mức chi không dưới 1% tổng chi NSNN cho hoạt động Sự nghiệp môi trường tuy
đã được thực hiện và tăng dần hàng năm nhưng mức tăng này chưa tương xứng với mức tăng
trưởng của nền kinh tế và với mức tăng huy động vào NSNN. Trong giai đoạn 2006 -2010, "tỷ lệ
huy động vào NSNN so với GDP bình quân 5 năm là 28,2%, vượt khá xa kế hoạch đề ra là 21 -
22% GDP". Bảng 2 khái quát bức tranh toàn cảnh về mối tương quan giữa tăng chi sự nghiệp môi
trường, tăng trưởng GDP, huy động và mức tăng huy động vào NSNN so với GDP ở Việt Nam
trong thời gian 2007 - 2010 cho thấy, mức tăng chi sự nghiệp môi trường tuy có tăng cùng với mức
tăng trưởng GDP, nhưng nếu tính đến (trừ đi) mức tăng giá cả (chỉ số giá tiêu dùng - CPI, theo
Bảng 2 trung bình cộng là 11,5%/năm) thì rõ ràng là không tương xứng không chỉ với tầm quan
trọng của trụ cột môi trường trong phát triển bền vững của đất nước mà còn cả với thực tế cải
thiện kết quả tài chính của đất nước.
Trong khi đó, ở Trung Quốc và các nước ASEAN đầu tư cho môi trường trung bình hàng
năm chiếm khoảng 1% GDP và ở các nước phát triển thường chiếm từ 3- 4% GDP.
2. Một số giải pháp quản lý KPSNMT trong thời gian tới
Những điều trình bày ở trên cho thấy, KPSNMT hiện nay ở trong tình trạng vừa thiếu/ít về
lượng, vừa kém hiệu quả trong sử dụng. Hai nhược điểm này là nhân quả của nhau. Do vậy, nhìn
từ giác độ tài chính cho BVMT cần tăng nguồn kinh phí và gắn liền với sử dụng hợp lý, hiệu quả.
Về cơ bản và lâu dài, nguồn lực tài chính cho BVMT phải dựa vào đầu tư, đóng góp của
những người khai thác, sử dụng môi trường (doanh nghiệp, dân cư) nhưng trong bối cảnh cụ thể
của đất nước và trong tầm nhìn trung và dài hạn (tới năm 2020), như đã trình bày, NSNN sẽ vẫn
còn tiếp tục là nguồn tài chính chủ yếu cho BVMT.
- Tăng gấp đôi tỷ lệ chi sự nghiệp môi trường so với mức hiện, với lý do như sau:
+ Về tất yếu, con số 2% tổng chi NSNN (ở Việt Nam tương đương với khoảng 1% GDP)
cho sự nghiệp môi trường là tất yếu trong bối cảnh cụ thể của đất nước cả trong tầm nhìn ngắn hạn
và cả dài hạn; và cũng tương hợp với mức chi bình quân của nhiều nước trên thế giới (khoảng 1%
đến 3% GDP) trong phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa.
+ Con số 2% là tỷ lệ được các cơ quan hữu quan đang cân nhắc đề nghị, cụ thể là của Chính
phủ, Bộ TN&MT, ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
+ Về triển khai thực hiện, trong tầm nhìn trung hạn và dài hạn cần có mục tiêu tăng tỷ lệ huy
động vào NSNN, dự kiến bình quân 5 năm tới (2011 - 2015) khoảng 25 - 27 % GDP và tăng chi
ngân sách tăng bình quân khoảng 15 - 16%/năm. Các mức tăng này là cơ sở để tăng mức chi sự
nghiệp môi trường.
Việc tăng tỷ lệ chi sự nghiệp môi trường có thể theo một lộ trình sau:
Đến năm 2016 (thời kỳ ổn định ngân sách mới): đạt mức 1,5%; .
Đến năm 2021 (thời kỳ ổn định ngân sách mới tiếp theo): đạt mức 2% và sẽ duy trì mức này
cho thời kỳ ổn định ngân sách mới tiếp theo nữa.
- Rà soát và trên cơ sở đó có những điều chỉnh cần thiết các quy định hiện nay về sử dụng
KPSNMT theo một số hướng như sau:
Cùng với việc khắc phục tình trạng hiện nay là sử dụng KPSNMT còn phân tán, dàn trải
cũng như còn quá tập trung vào quản lý chất thải (như đã nói ở trên), cần rà soát và trên cơ sở đó
có những điều chỉnh cần thiết các quy định hiện nay về sử dụng kinh phí này, có thể theo một số
hướng chính sau:
+ Phần kinh phí được tăng lên cần được tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, các điểm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu Hội nghị Môi trưởng toàn quốc lần thứ VI năm 2010, Bộ TN&MT tổ chức tại Hà
Nội, ngày 17/11/2010.
2. Các báo cáo, tham luận tại Hội thảo "Quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường" do Dự án
VPEG tổ chức tại Hà Nội, ngày 23/5/2012.
TCMT 06/2012