Đề tài nghiên cứu vấn đề vụ kiện phá giá hàng việt nam tại mỹ - Pdf 13

Lời cam đoan
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hớng dẫn nhiệt tình của thạc sĩ
Mai Thế Cờng để tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản đề án này.
Với lòng biết ơn của mình tôi xi gửi tới các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi
trong những năm học vừa qua.
Bản đề án của tôi hoàn thành dựa trên sự nỗ lực của bản thân và sự giúp
đỡ của giáo viên hớng dẫn. Trong quá trình thực hiện không có bất kỳ sự sao
chép hay đánh cắp bản thảo nào. Những lời trên đây đều là sự thật, nếu có bất
kỳ hành vi gian lận không trung thực nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sinh viên
Hoàng Minh Toán
Lời mở đầu
Thơng mại quốc tế ngày càng phát triển đặc biệt là trong thập kỷ vừa
qua, nó đóng vai trò lớn đối với các nền kinh tế trên thế giới, mở ra nhiều cơ
hội cho tất cả các doanh nghiệp và ngời tiêu dùng toàn cầu. Tuy nhiên bên
cạnh những thuận lợi, thơng mại quốc tế cũng đem lại không ít khó khăn,
thách thức đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập thị trờng quốc tế, mà các
doanh nghiệp Việt Nam không là ngoại lệ.
Thông qua vụ kiện bán phá giá tôm của các doanh nghiệp Việt Nam trên
đất Mỹ giúp chúng ta có cách nhìn nhận xác thực hơn về tình hình thơng mại
quốc tế hiện nay. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đồng thời nhìn nhận
nghiêm túc về chính sách thơng mại của Việt Nam trong tiến trình hội nhập
quốc tế. Vì lý do đó mà tôi chọn đề tài: "Vụ kiện phá giá Việt Nam tại Mỹ"
phần I
Khái quát về xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Mỹ
I. Tình hình sản xuất kinh doanh thủy sản tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nớc nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ 2 trên thế giới sau Nhật Bản
với trị giá nhập khẩu trên 8 tỉ USD/năm. Năm 2000 Hoa Kỳ nhập khẩu thuỷ
sản từ 130 quốc gia trên thế giới với khối lợng 1,6 triệu tấn, giá trị đạt khoảng
10 tỉ USD. Ngời tiêu dùng Hoa Kỳ sử dụng xấp xỉ 8% tổng sản lợng thuỷ sản
của thế giới trong đó hơn một nửa là nhập khẩu. Hoa Kỳ có khoảng 1300 nhà

năm 1996 Hoa Kỳ phải nhập khẩu 110.000 tấn cá ngừ đóng hộp trị giá hơn
230 triệu USD.
6. Cá hồi nguyên con tơi và ớp lạnh
Hoa Kỳ đứng thứ 2 thế giới về khai thác cá hồi với sản lợng 550 tấn
năm 1995, nhng ngời tiêu dùng trong nớc rất a chuộng cá hồi Đại Tây Dơng
nuôi nhân tạo ở Nauy, Canada và Chi Lê nên mỗi năm họ phải nhập khẩu
60.000 tấn cá hồi trị giá 280 triệu USD.
7. Điệp tơi và ớp lạnh
Hoa Kỳ là nớc tiêu thụ điệp tơi lớn thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và
Nhật Bản. năm 1995 sản lợng nhập khẩu 26.000 tấn trị giá 216 triệu USD.
Nhìn chung, do thói quen nên cơ cấu mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu vào
Hoa Kỳ rất đa dạng, phong phú bao gồm nhiều loại thuỷ sản nớc mặn, nớc
ngọt, nguyên liệu hoặc đã qua chế biến. Do sức mua lớn nên khối lợng nhập
khẩu thuỷ sản vào thị trờng này rất lớn và mức tăng trởng vẫn duy trì ở mức
cao. Các doanh nghiệp đánh bắt sản xuất thuỷ sản Việt Nam có thể tăng cờng
đầu t để nâng cao sản lợng phục vụ cho xuất khẩu.
III. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trờng Hoa Kỳ
Năm 1994, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ mới đạt 5,8
triệu USD. Sau 5 năm 1999 con số này đã tăng gần 20 lần với doanh số 108
triệu USD chiếm 1,3% thị phần nhập khẩu thuỷ sản của Hoa Kỳ và chiếm
10% trị giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Năm 2000 có 120 doanh nghiệp
có hàng thuỷ sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ với doanh số 300 triệu USD. Hoa Kỳ
trở thành thị trờng tiêu thụ thuỷ sản lớn thứ 2 của Việt Nam sau Nhật Bản.
Mức tăng trởng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ rất cao vào
năm 2000, tăng 2,3 lần so với 1999. Năm 2001 mặc dầu nền kinh tế Hoa Kỳ
rất khó khăn, đặc biệt sau sự kiện 11/9, song xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
sang Hoa Kỳ vẫn có sự tăng trởng lớn với khối lợng 71 nghìn tấn sản phẩm,
đạt doanh số 489 triệu USD, tăng so với năm 2000 tơng ứng là 86,6% và
62,4% chiếm 27,52% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản và trở thành thị trờng
xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất của Việt Nam trong năm này.

vn đã chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc ký kết các hoạt
động song phơng, đa phơng về tham gia vào các tổ chức quốc tế nhằm tranh
thủ những lợi ích mà toàn cầu hoá mang lại. Đây là một trong những nguyên
nhân quan trọng giúp cho vn đạt đợc nhiều thành tựu trong hoạt động xuất
khẩu hàng hoá, dịch vụ nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình tự do hoá thơng
mại, việc hàng rào thuế quan ngày càng cắt giảm thì các biện pháp phi thuế
quan ngày càng tăng điển hình là thuế chống bán phá giá. Vì vậy, tình trạng
hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam bị các nớc nhập khẩu vận dụng thuế chống
bán phá giá chủ yếu là: mì chính, tỏi, giầy dép, tôm cá. Tính đến năm 2001
Việt Nam đã gặp phải các vụ kiện chống bán phá giá nh sau:
Năm Đối tác thơng mại Mặt hàng Phán quyết cuối cùng
1994 Columbia Gạo Không đánh thuế mặc dù bán phá giá
mức 9,07% vì không gây tổn hại cho n-
ớc này
1998 Liên minh châu Âu Mì chính Đánh thuế chống bán phá giá mức
16,8%
Giầy dép Không đánh thuế vì thị phần nhỏ hơn
so với Trung Quốc, Inđônêxia và Thái
Lan
200 Ba Lan Bật lửa Đánh thuế chống phá giá mức 0,09%
EURO/chiếc
2001 Canada Tỏi Đánh thuế chống phá giá 1,48 CAD/kg
(Nguồn: Bộ Thơng mại)
Tuy nhiên do các mặt hàng trên có kim ngạch xuất khẩu không cao nên
không ảnh hởng lớn đến đời sống lao động và sản xuất trong nớc nên cha gây
đợc sự chú ý của d luận. Mãi đến 2002 khi Hiệp hội nuôi cá da trơn của Mỹ
chính thức kiện chống bán phá giá cá tra và cá ba sa và ngày 31/10/2003 liên
minh tôm miền nam nớc Mỹ (SSA) đệ đơn kiện chống bán phá giá tôm lên uỷ
ban thơng mại quốc tế Mỹ (ITC) và Bộ Thơng mại Mỹ (DOC) tình hình đã trở
nên nghiêm trọng.

Mỹ cha chính thức khởi kiện, song quá trình chuẩn bị, họ đã sử dụng các biện
pháp sau:
- Trong nớc, họ phát động chiến dịch tuyên truyền "ngời Mỹ ăn tôm
Mỹ" kêu gọi dân chúng mua hàng nội.
- Vận động các nhà lập pháp Mỹ vào cuộc nhất là những ngời đại diện
cho các tiểu bang có nghề nuôi tôm. Gây áp lực đối với chính quyền hành
pháp để thông qua văn kiện có tính pháp lý chống lại việc nhập khẩu tôm.
Hiệp hội đánh bắt tôm của Mỹ tìm cách vận động hạ nghị sĩ và thợng
nghị sĩ đại diện cho 8 tiểu bang ven biển vùng Đông Nam Hoa Kỳ tìm cách áp
đặt các biện pháp để hạn chế tôm nhập khẩu của một số nớc vào thị trờng Mỹ.
Ngày 9/10/2002 một số hạ nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hoà đại diện cho
ng dân 8 tiểu bang vùng bờ biển Đông Nam nớc Mỹ đã trình trớc Hạ viện Hoa
Kỳ mọt dự thảo luật yêu cầu Mỹ đình chỉ mọi khoản tài trợ của chính phủ cho
7 quốc gia bị họ vu cáo đã bán phá giá. Tuy nhiên dự luật này không đợc
thông qua trong lần đệ đơn đầu tiên. Ngày 7/1/2003 dự luật này lại đợc các
nghị sĩ đảng cộng hoà là Ron Paul, Jack Kingston và một số hạ nghị sĩ khác
trình ra hạ nghị viện Hoa Kỳ, yêu cầu Mỹ đình chỉ hoàn toàn mọi khoản tài
trợ của chính phủ Hoa Kỳ thông qua ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ, tập
đoàn đầu t t nhân hải ngoại và quỹ tiền tệ quốc tế đối với một số nớc gồm:
Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Braxin, Ecuador và
Mêxicoo cho đến lúc các nớc này bắt buộc phải giảm lợng tôm xuất khẩu vào
Mỹ với mức 3 triệu found mỗi thùng trong vòng 3 tháng.
Tháng 10/2002, hiệp hội đánh bắt tôm ở 8 bang miền Đông Nam Hoa
Kỳ đã nhóm họp và lập ra một tổ chức "Liên minh tôm miền nam Hoa Kỳ"
(SSA). Mục đích của nó là quyên góp tiền bạc, phối hợp các hoạt động chung
giữa các bang nhằm đối phó với sản lợng gia tăng tôm nhập khẩu. Giữa tháng
12/2002 SSA đã thuê công ty luật lớn và có uy tín là Dewey Ballantine tiến
hành phân tích và đánh giá tình hình nhập khẩu tôm vào Hoa Kỳ. Đồng thời
SSA cũng thuê 2 hãng vận động hành lang để tranh thủ ảnh hởng của các giới
chức chính trị ở cấp liên bang và bang. Tháng 2/2003 hãng luật Bewey

sau thời điểm nộp đơn kiện.
Tháng 12/2002 ASDA đợc thành lập nhằm đối phó với SSA và bảo vệ
quyền lợi ngời tiêu dùng, mục tiêu giữ giá tôm ở mức ngời tiêu dùng Hoa Kỳ
có thể mua đợc, và tìm cách tránh sự can thiệp của luật pháp ảnh hởng đến
tôm xuất khẩu.
II. Hậu quả
Vụ kiện cá tra và cá ba sa Việt Nam đã bị xử ép thua. Trong vụ kiện tôm
này chúng ta cũng gặp rất nhiều khó khăn bởi vì Mỹ là nớc có tiềm lực kinh
tế, có kinh nghiệm trong thơng mại quốc tế. Không chỉ các nhà sản xuất và
xuất khẩu Việt Nam gặp khó khăn mà các nhà chế biến và ngời tiêu dùng Mỹ
cũng bị thiệt hại trong vụ kiện này.
1. Phía Mỹ
Theo nghiên cứu về phía công ty Trade Partnership có trụ sở tại
Oasinhtơn tiến hành giá tôm Mỹ có thể tăng 44% nếu tôm nhập khẩu từ 6 nớc
nói trên bị áp thuế chống bán phá giá, dẫn đến lợng tiêu thụ tại Mỹ sẽ giảm
30% so với hiện nay. Nghiên cứu này dự báo giá tôm do ng dân Mỹ đánh bắt
sẽ tăng khoảng 28%, giá tôm nhập khẩu từ các nớc bị đơn trong vụ kiện tăng
khoảng 84% và giá tôm nhập khẩu từ các nớc khác tăng khoảng 19%.
Hai nghiên cứu khác nhấn mạnh đến lợi ích mà tôm nhập khẩu mang lại
cho ngời tiêu dùng Mỹ. Công ty Food Beat INC có trụ sở tại bang Minois tiến
hành một cuocọ nghiên cứu tại hơn 200 dây chuyền nhà hàng lớn nhất của Mỹ
cho thấy thực đơn các món chế biến từ tôm tăng gần 50% trong vòng 5 năm
trở lại đây và ngời tiêu dùng ở các mức thu nhập đều tăng lợng tiêu thụ tôm.
Chủ tịch "nhóm đặc cách tôm" của CI TAC/ASDA, đồng thời là chủ tịch
ASDA, ông Wally Stevens nói rằng ba nghiên cứu trên cho thấy vụ kiện chống
bán phá giá mà SSA khởi xớng đã gây tổn hại to lớn cho ngành công nghiệp
chế biến và tiêu dùng Mỹ. Nhờ tôm nhập khẩu dồi dào với giá cả hợp lý, các
ngành công nghiệp chế biến, bán buôn, bán lẻ tại Mỹ tạo đợc 150.000 việc
làm so với 13.000 việc trong ngành đánh bắt nội địa.
Nghiên cứu của công ty Food Beat INC còn cho thấy biến động về giá

40.000đ/kg, nếu nuôi theo mô hình công nghiệp mất khoảng 45.000đ -
50.000đ/kg, tính ra ngời nông dân chẳng lãi bao nhiêu. Tôm Việt Nam ngày
càng phát triển và thị trờng Mỹ là một thị trờng rộng lớn. Tuy nhiên khi diễn
ra vụ kiện này các địa phơng sẽ có kế hoạch tăng sản lợng nuôi tôm điều này
làm cho khó khăn càng trở nên khó khăn thêm.
Phần III
Một số gợi ý đối với Việt Nam
Năm 2002 cá tra và cá basa của Việt Nam bị kiện bán phá giá. Trong vụ
kiện đó các doanh nghiệp Việt Nam bị xử ép thua. Năm 2003 đến lợt tôm Việt
Nam cũng bị kiện bán phá giá. Từ đó cho thấy thực trạng xác thực về thơng
mại quốc tế hiện nay. Đây có thể đợc coi là biện pháp bảo hộ mới của Mỹ.
Đến nay Hoa Kỳ đã áp đặt luật chống bán phágiá với trên 60 nớc xấp xỉ 600
vụ kiện. Dựa vào tiềm lực kinh tế của mình chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của
Mỹ đã phát triển đến một mức tinh vi, đôi khi lại trắng trợn theo đuổi đơn ph-
ơng áp đặt. Vì vậy đối sách của chúng ta là: tốt nhất không để xảy ra kiện cáo
bán phá giá bằng cách tìm hiểu xem đối tác của ta ở nớc sở tại chi phí sản xuất
thế nào? giá bán bao nhiêu? Nếu ta nghiên cứu kỹ sẽ đa ra đợc một mức giá
phù hợp, không gây mâu thuẫn lợi ích với doanh nghiệp Hoa Kỳ chắc chắn sẽ
không gây ra vụ kiện.
Nếu xảy ra kiện cáo cần phải đối mặt, cần đấu tranh mạnh mẽ trên
chính trờng để bảo vệ lẽ phải. Đồng thời phải sử dụng các biện pháp mềm dẻo
hơn nh vận động hành lang (Lopby). ở Mỹ Lopby đợc coi là hoạt động hợp
pháp. Chúng ta có thể vận động các cá nhân, tổ chức có chung quyền lợi góp
tiền để thuê các tổ chức Lopby chuyên nghiệp, hoạt động hợp pháp tại Hoa
Kỳ. Trong vụ kiện tôm này không chỉ có Việt Nam mà còn có 5 nớc liên quan
khác do đó chúng ta không đơn độc, chúng ta phải nghĩ ngay đến việc liên
minh với các nớc này để bảo vệ quyền lợi của chúng ta. Các doanh nghiệp nên
có văn phòng đại diện tại nớc Mỹ để tìm hiểu thị trờng cũng nh luật pháp Mỹ,
có cơ hội giao thơng với các nhà phân phối Mỹ nhiều hơn. Về lâu dài, các
doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn trong

- Số 1/2004 viện nghiên cứu của Châu Mỹ tổng hợp.
- Số 2/2004 nguồn HTT: //www- hoover. Stanfosrd.edu/.
2. Những vấn đề kinh tế thế giới:
- Số 8/2004 tác giả Ngô Văn Giang.
- Số 3/2004 tác giả Ths Mai Thế Cờng.
- Số 2/2004 tác giả TS Hoàng Thị Bích Loan.
3. Tạp chí thuỷ sản:
- Số 5/2001 tác giả Lâm Minh Châu.
- Số 5/2002
4. Báo cáo phát triển kinh tế thuỷ sản và các giải pháp thực hiện thời kỳ
1998 - 2010.
5. Tìm hiểu Hoa Kỳ cho mục đích kinh doanh (sách tham khảo) Nhà
xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội năm 2002.
Môc lôc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status