LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu vật chất và tinh thần của con người ngày
càng cao, vì thế bài toán về cung – cầu đang được các nhà sản xuất tìm cách giải
quyết. Tự động hóa trong dây chuyền sản xuất là một phương án tối ưu, nó đòi hỏi
sự nhanh chóng, chính xác và giảm thiểu được nhân công lao động. Quá trình sản
xuất càng được tự động hóa cao càng nâng cao năng suất sản xuất giảm chi phí tăng
tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Các hệ thống điều khiển, giám sát và thu thập
dữ liệu (SCADA: “Supervisory Control And Data Acquisition ) là giải pháp hiện
đại, giúp việc sản xuất hay kiểm tra sản phẩm, thu thập, quản lý dữ liệu dễ dàng,
nhanh chóng và ít sai sót. Người ta hoàn toàn có thể theo dõi và vận hành một nhà
máy từ phòng Điều Khiển Trung Tâm mà không cần xuống tận các phân xưởng,
đặc biệt là trong các nhà máy có môi trường sản xuất độc hại đối với sức khỏe
người như nhà máy hóa chất, nhà máy xử lí chất thải…
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, em đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình của Thầy Nguyễn Đức Toàn. Em xin chân thành cảm ơn Thầy cùng toàn
thể Thầy Cô trong khoa Điện đã tạo điều kiện để em nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và người thân đã chăm
sóc động viên em hoàn thành luận văn này.
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TP. Hồ Chí Minh, ngày … tháng 07 năm 2012
GIÁO VIÊN NHẬN XÉT
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 7
1.1.Đặt vấn đề 7
1.5. Giới hạn luận văn 9
2.1. Nguồn gốc và đặc tính của nước thải sinh hoạt 10
2.2. Thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt 10
2.3. Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải 11
CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY SUNYAD – VIỆT NAM 23
3.1. Giới thiệu chung về công ty 23
KẾT LUẬN & HƯỚNG PHÁT TRIỂN 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Đặt vấn đề.
Hệ thống xử lý nước thải ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội, nó góp
phần cải thiện môi trường đang ô nhiễm hiện nay, cụ thể ở đây là môi trường nước.
Vì vậy, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề toàn cầu, là quốc sách của hầu hết các
nước trên thế giới.
Trong những năm gần đây, cùng với xu thề hội nhập và phát triển kinh tế trong
khu vực và trên thế giới, tốc độ công nghiệp hóa của Việt Nam ngày càng phát
triển, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất ra đời, nhiều ngành công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh. Vì thế, hằng ngày khối lượng
nước thải không nhỏ được thải ra nguồn tiếp nhận mà chưa qua hệ thống xử lý.
Điều này làm môi trường ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng.
Để tiếp tục phát triển kinh tế – xã hội – môi trường một cách bền vững thì các
biện pháp bảo vệ môi trường phải được quan tâm và thực hiện đúng mức. Việc đặt
ra tiêu chuẩn môi trường và thực hiện luật môi trường là một điều hết sức cần thiết
đối với môi trường sống và sức khỏe cộng đồng. Chính vì vậy mà việc lựa chọn
thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho các công ty xí nghiệp là một trong những vấn
đề cấp bách đối với chính sách bảo vệ môi trường của nước ta. Và để có thể thiết kế
và vận hành tốt hệ thống xử lý nước thải thì yêu cầu phải có kiến thức về hóa sinh,
các quá trình xử lý, kiến thức chuyên ngành, sử dụng được các phần mềm thiết kế
điều khiển, giao diện giám sát. Để nâng cao khả năng quản lý, giảm chi phí nhân
công, chi phí vận hành thì giải pháp hiện nay là ứng dụng tự động hóa vào nhà máy,
thường sử dụng PLC kết hợp phần mềm winCC để mà điều khiển.WinCC
(Windows Control Center) là phần mềm tích hợp giao diện người máy HMI
(Intergrate Human Machine Interface) đầu tiên cho phép kết hợp phần mềm điều
- Tìm hiểu công cụ lập trình qua các kiến thức đã học ở trường, qua hướng dẫn
của Thầy Cô, hỗ trợ từ bạn bè, tìm hiểu từ sách vở tài liệu liên quan.
1.4. Cách thức tiến hành
- Nghiên cứu các quá trình xử lý nước thải, mô hình xử lý nước thải.
- Liệt kê các danh mục thiết bị trong mô hình.
- Xác định cơ cấu vận hành và giám sát phù hợp với mô hình, đưa ra lưu đồ giải
thuật điều khiển.
- Lập trình PLC S7-200
- Xây dựng giao diện winCC giám sát và vận hành hệ thống.
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
- Kết nối giao diện và chương trình PLC.
1.5. Giới hạn luận văn
- Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 23/4/2012 đến ngày 10/7/2012.
- Thiếu thiết kế chuyên dụng như các loại bơm, cảm biến… do vậy đề tài chưa có
thể ứng dụng các giải thuật điều khiển, chưa thể hiện việc giám sát chính xác
các thông số.
- Tính năng của phần mềm wincc chưa thể hiện được hết, cụ thể các chức năng
như quản lý dữ liệu SQL,…
- Việc ứng dụng công nghệ xử lý chung cho một ngành công nghiệp là rất khó
khăn , do mỗi nhà máy có đặc trưng riêng về công nghệ, nguyên liệu, nhiên
liệu… nên thành phần và tính chất nước thải khác nhau. Phạm vi ứng dụng của
đề tài là xử lý nước thải của Công Ty Sunyad và một số công ty khác nếu có
cùng đặc tính chất thải đặc trưng.
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC XỬ LÝ NƯỚC THẢI
2.1. Nguồn gốc và đặc tính của nước thải sinh hoạt
÷ 10
-4
mm)
- Nhóm 2: gồm các chất bẩn dạng keo (δ = 10
-4
÷ 10
-6
mm)
- Nhóm 3: gồm các chất bẩn ở dạng hòa tan (có δ < 10
-6
mm), chúng có thể ở dạng
ion hay phân tử: hệ 1 pha, dung dịch thật.
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
Thành phần hóa học: biểu thị các dạng chất bẩn trong nước thải có tính chất
hóa học khác nhau, được chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: thành phần vô cơ: cát, sét, xỉ, oxit vô cơ, các ion của muối phân ly…
(khoảng 42% đối với nước thải sinh hoạt)
- Nhóm 2: thành phần hữu cơ: các chất có nguồn gốc từ động thực vật, cặn bã bài
tiết… (khoảng 58%)
Các chất chứa Nitơ: urê, protein, amin, axit amin
Các hợp chất nhón Hidrocacbon: mỡ, xà phòng, celllulose…
Các hợp chất có chứa Phospho, lưu huỳnh
- Nhóm 3: thành phần sinh học: nấm men, nấm mốc, tảo, vi khuẩn…
2.3. Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải
Các loại nước thải đều chứa tạp chất gây ô nhiễm rất khác nhau, từ các loại chất
rắn không tan đến những loại chất khó tan hoặc tan được trong nước, xứ lý nước
thải là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch lại nước và tái sử dụng hoặc thải vào nguồn.
Để đạt được những mục đích đó, chúng ta thường dựa vào đặc điểm của từng loại
lượng riệng của nước, cặn hình thành trong quá trình keo tụ tạo thành bông (bể lắng
đợt 1) hoặc cặn sinh ra trong quá trình xử lý sinh học (bể lắng đợt 2). Theo chiều
dòng chảy, bể lắng được phân thành: bể lắng ngang, bể lắng đứng, bể lắng radian.
Bể điều hòa
Bể điều hòa có nhiệm vụ duy trì dòng thải và nồng độ vào các công trình xử lý,
khắc phục những sự cố vận hành do sự dao động về nồng độ và lưu lượng của nước
thải gây ra, đồng thời nâng cao hiệu suất của quá trình xử lý sinh học.
Bể lọc
Bể lọc được xây dựng để tách các tạp chất có kích thước nhỏ khi không thể loại
được bằng phương pháp lắng. Quá trình lọc trước khi sử dụng trong xử lý nước thải
thường chỉ sử dụng trong trường hợp nước sau khi xử lý đòi hỏi có chất lượng cao.
Để tăng hiệu suất công tác của công trình xử lý cơ học có thể dùng biện pháp
thoáng gió sơ bộ, thoáng gió đông tụ sinh học, hiệu quả xử lý đạt tới 75% theo hàm
lượng chất lơ lửng và 40 ÷ 45% theo BOD.
Trong số các công trình xử lý cơ học phải kể đến bể tự hoại, bể lắng 2 vỏ, bể
lắng trong đó có ngăn phân hủy là những công trình vừa để lắng, vừa để phân hủy
cặn lắng.
Đôi khi người ta còn tách các hạt lơ lửng bằng cách tiến hành lắng chúng dưới
tác dụng của lực ly tâm trong các xyclon thủy lực hay máy ly tâm.
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
2.3.2. Phương pháp hóa lý
Keo tụ
Các hạt cặn có kích thước nhỏ hơn 10
-4
mm thường không thể tự lắng được mà
luôn tồn tại ở trạng thái lơ lửng. Muốn loại bỏ các hạt cặn lơ lửng phải dùng đến
biện pháp xử lý cơ học kết hợp với biện pháp hóa học tức là cho vào nước cần xử lý
các chất phản ứng để tạo ra các hạt keo có khả năng kết dính lại với nhau và liên kết
- Tuyến nổi chân không (Vacuum Flotation)
- Tuyến nổi bằng khí hòa tan (Dissolved air Flotation)
Hấp phụ
Phương pháp hấp phụ được ứng dụng rộng rãi để làm sạch nước thải triệt để
khỏi các chất hữu cơ hòa tan sau khi xử lý bằng phương pháp sinh học, cũng như
khi nồng độ của chúng không cao và không bị phân hủy bởi vi sinh vật hay chúng
rất độc. Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả cao 80 ÷ 95% có khả năng xử lý
nhiều chất trong nước thải đồng thời có khả năng thu hồi các chất này.
Quá trình hấp phụ được thực hiện bằng cách cho tiếp xúc 2 pha không hòa tan là
pha rắn (chất hấp phụ) với pha khí hoặc pha lỏng. Dung chất (chất bị hấp thụ) sẽ đi
qua từ pha lỏng (pha khí) đến pha rắn cho đến khi nồng độ dung chất trong dung
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
dịch được cân bằng. Các chất hấp phụ thường được sử dụng: than hoạt tính, tro, xỉ,
mạt cưa, silicegen, keo nhôm.
Trao đổi ion
Phương pháp này có thể khử tương đối triệt để các tạp chất ở trạng thái ion trong
nước như: Zn, Cu, Cr, Ni, Hg, Mn,… cũng như các hợp chất của Asen, Phospho,
Cyanua, chất phóng xạ. Phương pháp này cho phép thu hồi các chất có giá trị và đạt
được mức độ làm sạch cho nên được dùng nhiều trong việc tách muối trong xử lý
nước thải.
Đializ – Màng bán thấm
Phương pháp này có thể tách các chất tan khỏi các hạt keo bằng cách dùng các
màng bán thấm. Đó là các màng xốp đặc biệt không cho các hạt keo đi qua.
Trích ly
Phương pháp này có thể tách các chất bẩn hòa tan ra khỏi nước thải bằng dung
môi nào đó nhưng với điều kiện dung môi đó không tan trong nước và độ hòa tan
chất bẩn trong dung môi cao hơn trong nước.
Chưng bay hơi
Các chất oxy hóa thông dụng: Ozon (O
3
), Chlorine (Cl
2
), Kali permanganate
(KMnO
4
), Hydroperoxide (H
2
O
2
).
Quá trình này thường phụ thuộc rõ rệt vào pH và sự hiện diện của chất xúc tác.
Kết tủa hóa học
Kết tủa hóa học thường dùng để loại trừ các kim loại nặng trong nước. Phương
pháp kết tủa hóa học thường được sử dụng nhất là phương pháp tạo các kết tủa với
soda cũng có thể được sử dụng để kết tủa các kim loại dưới dạng Hydroxide
(Fe(OH)
3
), Carbonate (CdCO
3
)
2.3.4. Phương pháp sinh học
Phương pháp sinh học thường được sử dung để xử lý các chất hữu cơ hòa tan có
trong nước thải cũng như một số chất vô cơ: H
2
S, sulfide, amonia,… dựa trên cơ sở
hoạt động của vi sinh vật. Vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số khoáng chất
làm thức ăn để sinh trưởng và phát triển.
Các quá trình xử lý sinh học bằng phương pháp kỵ khí và hiếu khí có thể xảy ra
vật được giữ trên bề mặt vật tiếp xúc mà không bị rữa trôi theo nước sau xử lý nên
thời gian lưu tế bào sinh vật rất cao (khoảng 100 ngày).
Bể phản ứng có dòng nước đi qua lớp cặn lơ lửng và lọc tiếp qua lớp vật liệu
lọc cố định
Là dạng kết hợp giữa quá trình xử lý kỵ khí lơ lửng và dính bám.
Quá trình hiếu khí
Quá trình xử lý hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng
Trong quá trình bùn hoạt tính, các chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan chuyển
hóa thành bông bùn sinh học (quần thể vi sinh vật hiếu khí) có khả năng lắng dưới
tác dụng của trọng lực. Nước chảy liên tục vào bể Aerotank, trong đó khí được đưa
vào và xáo trộn cùng với bùn hoạt tính nhằm cung cấp oxy cho vi sinh vật phân hủy
chất hữu cơ. Dưới điều kiện như thế, vi sinh vật sinh trưởng, tăng sinh khối và kết
thành bông bùn. Hỗn hợp bùn và nước thải chảy đến bể lắng đợt 2 và tại đây bùn
hoạt tính lắng xuống đáy. Lượng lớn bùn hoạt tính (25 ÷ 75% lưu lượng) tuần hoàn
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
về bể Aerotank để giữ ổn định mật độ vi khuẩn, tạo điều kiện phân hủy nhanh chất
hữu cơ. Lượng sinh khối dư mỗi ngày cùng với lượng bùn tươi từ bể lắng đợt 1
được tiếp tục để xử lý bùn.
Để thiết kế và vận hành hệ thống bùn hoạt tính hiếu khí một cách hiệu quả cần
phải hiểu rõ vai trò quan trọng của quần thể vi sinh vật. Các vi sinh vật này sẽ phân
hủy các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hóa thành tế
bào mới, chỉ một phần chất hữu cơ bị oxy hóa hoàn toàn thành CO
2
, H
2
O, NO
3
-
RBC bao gồm các đĩa tròn polystyren hoặc polyvinyl chloride đặt gần sát nhau.
Đĩa được nhúng chìm một phần trong nước thải và quay với tốc độ chậm. Tương tự
như bể lọc sinh học, màng vi sinh hình thành và bám dính trên bề mặt đĩa. Khi đĩa
quay mang sinh khối trên đĩa tiếp xúc với chất hữu cơ trong nước thải và sau đó tiếp
xúc với oxy. Đĩa quay tạo điều kiện chuyển hóa oxy và luôn giữ sinh khối trong
điều kiện hiếu khí. Đồng thời, khi đĩa quay tạo nên lực cắt loại bỏ các màng vi sinh
không còn khả năng bám dính và giữ chúng ở dạng lơ lửng để đưa sang bể lắng đợt
2. Trục RBC phải tính toán đủ đĩa vật liệu nhựa và lực quay.
Phương pháp sinh học tự nhiên
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào khả năng tự làm sạch của nguồn nước.
Cánh đồng tưới
Dẫn nước thải theo hệ thống mương đất trên cánh đồng tưới, dùng bơm và ống
phân phối phun nước thải lên mặt đất. Một phần nước bốc hơi, phần còn lại thấm
vào đất để tạo độ ẩm và cung cấp một phần chất dinh dưỡng cho cây cỏ sinh trưởng.
Phương pháp này chỉ được dùng hạn chế ở những nơi có lượng nước thải nhỏ, vùng
đất khô cằn, xa khu dân cư, độ bốc hơi cao và đất luôn thiếu độ ẩm.
Ở cánh đồng tưới không được trồng rau xanh và cây thực phẩm vì vi khuẩn,
virus gây bệnh và kim loại nặng có trong nước thải chưa được loại bỏ sẽ gây tác hại
đến sức khỏe của người sử dụng các loại rau và cây thực phẩm này.
Xả nước thải vào ao, hồ, sông, suối
Nước thải được xả vào những nơi vận chuyển và chứa nước có sẵn trong tự
nhiên để pha loãng chúng và tận dụng khả năng tự làm sạch của các nguồn nước tự
nhiên.
Khi xả nước thải vào nguồn tiếp nhận nước của nguồn tiếp nhận sẽ bị nhiễm
bẩn. Mức độ nhiễm bẩn phụ thuộc vào: lưu lượng và chất lượng nước thải, khối
lượng và chất lượng nước có sẵn trong nguồn, mức độ khuấy trộng để pha loãng.
Khi lưu lượng và tổng hàm lượng chất bẩn trong nước thải nhỏ hơn so với nguồn
nước của nguồn tiếp nhận, oxy hòa tan có trong nước đủ để cấp cho quá trình làm
sạch hiếu khí các chất hữu cơ. Tuy nhiên, các chất lơ lửng, vi trùng gây bệnh và
kim loại nặng nếu không loại bỏ trước vẫn đe dọa đến sức khỏe và sinh hoạt cộng
2
3-
2
Hình 2.1 Mối quan hệ cộng sinh giữa tảo và vi sinh vật hiếu khí
Hồ tùy tiện
Trong hồ tùy tiện tồn tại 3 khu vực: (1) khu vực bề mặt, nơi đó chủ yếu là vi
khuẩn và tảo sinh sống cộng sinh; (2) khu vực đáy, tích lũy cặn lắng và cặn này bị
phân hủy nhờ vi khuẩn kỵ khí; (3) khu vực trung gian, chất hữu cơ trong nước thải
chịu sự phân hủy của vi khuẩn tùy nghi. Có thể sử dụng máy khuấy để tạo điều kiện
hiếu khí trên bề mặt khi tải trọng cao. Tải trọng thích hợp dao động trong khoảng 70
÷ 140 kgBOD
5
/ha.ngày.
Hồ kỵ khí
Thường được áp dụng cho xử lý nước thải có nồng độ chất hữu cơ cao và cặn lơ
lửng lớn, đồng thời có thể kết hợp phân hủy bùn lắng. Hồ này có chiều sâu lớn, có
thề sâu đến 9m. Tải trong thiết kế khoảng 220 ÷ 560 kgBOD
5
/ha.ngày.
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TỒN
Hồ xử lý bổ sung
Có thể áp dụng sau q trình xử lý sinh học (Aerotank, bể lọc sinh học, sau hồ
hiếu khí, hồ tùy nghi,…) để đạt chất lượng nước ra cao hơn, đồng thời thực hiện
q trình nitrate hóa. Do thiếu chất dinh dưỡng, vi sinh còn lại trong hồ này sống ở
giai đoạn hơ hấp nội bào và amonia chuyển hóa sinh học thành nitrate. Thời gian
lưu nước trong hồ này khỏng 18 ÷ 20 ngày. Tải trọng thích hợp: 60 ÷ 200
kgBOD
5
H S + 2O H SO
Vùng
kỵ
khí
2
3
2 4
CO + NH + H S + CH
2
O
Tế bào chết
Vi khuẩn
Tế bào chết
3-
4
3
Tế bào mới
NH
PO ,
Axit hữu cơ,
rượu
Tảo
2
O
Làm thoáng
Nước thải
Bùn đáy
Gió (gió thúc đẩy quá trình
hòa trộn và làm thoáng)
Chất thải hữu cơ
vì:
- Lượng Clo dư 0.5mg/l trong nước thải để đảm bảo sự an toàn và ổn định cho
quá trình khử trùng sẽ gây hại đến cá và các vi sinh vật nước có ích khác.
- Clo kết hợp với Hydrocarbon tạo thành hợp chất có hại cho môi trường sống.
Kết luận
Tất cả các phương pháp xử lý nước thải đã được trình bày ở trên có thể phân ra
thành 2 nhóm: nhóm các phương pháp phục hồi và nhóm các phương pháp phân
hủy. Đa số các phương pháp hóa lý được dùng để thu hồi các chất quý trong nước
thải và thuộc nhóm phục hồi. Còn các phương pháp hỗn hợp và sinh học thuộc
nhóm các phương pháp phân hủy. Gọi là phân hủy vì: các chất bẩn trong nước thải
sẽ bị phân hủy chủ yếu theo các phản ứng oxy hóa và một ít theo phản ứng khử.
Các sản phẩm tạo thành sau khi phân hủy sẽ được loại bỏ khỏi nước thải ở dạng khí,
cặn lắng hoặc còn lại trong nước nhưng không độc.
Những phương pháp phục hồi và phương pháp hỗn hợp thường chỉ dùng để xử
lý các loại nước thải đậm đặc riêng biệt còn đối với các loại nước loãng với khối
lượng nhiều thì dùng những phương pháp đó không hợp lý.
Xử lý nước thải ở mức độ cao được ứng dụng trong các trường hợp yêu cầu giảm
bớt nồng độ bẩn (theo chất lơ lửng, BOD
5
, COD, Nitơ, Phospho, và các chất
khác…) sau khi đã xử lý sinh học, trước khi xả vào nguồn nước cần lưu ý rằng:
nước thải sau khi xử lý ở mức độ cao có thể ứng dụng lại trong các quy trình công
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
nghệ của nhà máy và do đó giảm được lượng nước thải xả vào nguồn, giảm được
nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất.
Nhìn chung khi chọn các phương pháp xử lý nước thải phải căn cứ vào các đặc
điểm về khối lượng, chất lượng của các chất ô nhiễm và các điều kiện địa phương
khác.
6
Chất dẻo tổng hợp (PU)
Dung môi hữu cơ
Nguyên liệu màu
Vải công nghiệp (vải lót)
Giấy than
Dầu nhiên liệu
Kg
Kg
Kg
Yard
Yard
Lít
502.010
345.110
40.320
378.950
190.517
168.000
Nhập khẩu
Nhập khẩu
Nhập khẩu
Nhập khẩu
Nhập khẩu
Trong nước
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYỄN ĐỨC TOÀN
3.3. Qui trình sản xuất của công ty.
Hình 3.1. Quy trình công nghệ sản xuất
COD : 10 – 20 mg/l
Tổng chất rắn lơ lửng: 10 – 20 mg/l
Đối với lượng nước mưa chảy tràn, công ty có hệ thống cống thu gom và
cho chảy vào hệ thống cống chung của khu công nghiêp.
Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt.
Nước thải sinh hoạt phát sinh từ nhu cầu sinh hoạt của công nhân trong nhà
máy, ước tính khoảng 8.5 m
3
/ngày (với định mức tính toán 100 lít/người/ngày).
Hiện lượng nước này được thải ra ngoài theo hệ thống chung của khu công
nghiệp.
Ô nhiễm do nước thải sản xuất.
Nước thải sản xuất của nhà máy phát sinh từ những cặn sơn PU và cặn dầu
nhớt với số lượng rất ít, được gom lại sau mỗi lần thay và chứa vào các thùng
phi 200 lít. Lượng cặn này sẽ được Công ty ký hợp đồng với công ty có chức
năng thu gom đem đi xử ký tại những nơi quy định.
3.4.2. Ô nhiễm không khí.
Ô nhiễm do khí thải.
Nguồn phát sinh khí thải chủ yếu là từ: lò hơi, xe tải ra vào nhà máy, máy
phát điện.
SVTH : NGUYỄN ĐÌNH BẢO
25