Vai trò của quản lí nhà nước trong giáo dục đại học- góc nhìn từ lý thuyết kinh tế học hiện đại - Pdf 13

VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC – GÓC NHÌN TỪ LÝ
THUYẾT KINH TẾ HỌC HIỆN ĐẠI
TSKH. Phạm Đức Chính
Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Điện thoại liên hệ: 0903 881 033
E-mail: [email protected]
Tóm tắt :
Mặc dù trong nền kinh tế thị trường sản phẩm của giáo dục cũng được coi là một loại hàng hóa,
nhưng tính chất đặc biệt của nó đã làm cho vấn đề cung cấp và sử dụng hiệu quả đã trở nên phức tạp
hơn nhiều so với các loại hàng hóa thông thường. Điểm khác biệt của giáo dục ở chỗ, nó là một loại
hàng hóa công, mọi người đều có thể dùng chung một chương trình giáo dục, - nhưng tri thức chung của
nhân loại, và do vậy nhu cầu được hưởng thụ ngày càng tăng. Giáo dục cũng có tính chất của phương
tiện sản xuất, có nhiều bất đối xứng thông tin, ngoại tác tích cực và còn có thuộc tính xã hội, nhưng lại
không bị tác động bởi năng suất lao động. Quan trọng hơn, giáo dục là công cụ hữu ích để thực hiện
phân phối lại thu nhập, và đây là chức năng bao trùm, đảm bảo sự tồn tại và phát triển, hiện thực hóa
quyền bình đẳng về cơ hội vào đời và tạo dựng cuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước là người tham gia lớn nhất và đóng vai trò quan trọng
nhất, vừa là nhà quản lý toàn bộ nền kinh tế và vừa làm nhiệm vụ trực tiếp cung cấp hàng hóa cho xã
hội. Trong vai trò sản xuất, Nhà nước luôn chịu trách nhiệm thực hiện những dự án lớn, trong những
lĩnh vực đầu tư mạo hiểm và khả năng đầu tư vốn ban đầu lớn nhưng thu hồi chậm, ví dụ như: những
đại học qui mô lớn, đại học tinh hoa, nghiên cứu, trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, và cả trường học
ở vùng sâu, vùng xa mà tư nhân không muốn mở vì tính rủi ro cao. Sụp đổ của thị trường trong lĩnh vực
giáo dục, có thể dẫn đến phá sản cả một hệ thống kinh tế xã hội, vì vậy rất cần một hệ thống đại học
công lập mạnh tồn tại song song cùng với các trường tư thục.
Trong vai trò quản lý, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước là tạo ra những cơ sở
pháp lý cho các hoạt động giáo dục, đào tạo được xã hội hóa. Hoạt động “phi lợi nhuận” đóng một vai
trò rất tích cực trong giáo dục đại học của các nước tiên tiến, nhưng hầu như còn xa lạ trong các chủ
trương nghiên cứu về giáo dục ở Việt Nam. Chính sách tạo thêm các nguồn cung ứng dịch vụ giáo dục
không dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước là chính sách về hoạt động phi lợi nhuận. Đây là một điểm
khác biệt cơ bản, trường học là nơi cung cấp hàng hóa giáo dục cho xã hội nhưng lại không hoạt động
theo Luật doanh nghiệp. Kinh nghiệm của thế giới chỉ ra rằng, số lượng vượt trội các trường đại học

equity. It also has to create education to nurture “Vietnamese Unique” and policies for applying
market laws in developing an education system that adapts well to the market mechanisms.
Nội dung:
Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm của giáo dục cũng được coi là một loại hàng hóa. Nhưng,
liệu sản phẩm của giáo dục có giống như bất cứ một hàng hóa nào đó, và việc cung cấp nó có thể hoàn
toàn dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường? Những quan điểm trái chiều trên công luận ở Việt Nam
hiện nay thể hiện sự quan tâm rất lớn của người dân đến sự nghiệp giáo dục của đất nước. Mặc dù, được
cho là một loại hàng hóa, nhưng tính chất đặc biệt của các sản phẩm giáo dục đã làm cho vấn đề cung
cấp và sử dụng hiệu quả đã trở nên phức tạp hơn nhiều so với các loại hàng hóa thông thường. Bởi vậy,
những chính sách đối với giáo dục ở các quốc gia trên thế giới được nghiên cứu rất thấu đáo, cẩn trọng
và mang tính khoa học toàn diện. Một chính sách đúng đắn dành cho giáo dục thì lợi ích nhận được của
cả xã hội sẽ tăng lên trong tương lai, ngược lại, bất kỳ sự sai lầm nào trong giáo dục thì kết quả không
chỉ đem đến những hậu họa vô cùng nguy hại cho hệ thống giáo dục quốc dân, mà còn ảnh hưởng đến sự
phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa, cũng như tinh thần độc lập tự chủ của cả một dân tộc. Hiểm
nguy ấy không nhìn thấy được trước mắt, mà cái giá của nó, có thể nhiều thế hệ mai sau mới trả được.
Tham gia vào diễn đàn, chúng tôi mong muốn được cung cấp những thông tin tương đối khái quát và
khách quan nhất về vấn đề này, được nhìn từ góc độ cơ sở khoa học của lý thuyết kinh tế học hiện đại.
1.Khái quát về giáo dục và hàng hóa giáo dục trong nền kinh tế
Trong xã hội, sản xuất thường được hiểu chỉ là quá trình hoạt động tạo ra của cải vật chất cho con
người. Đương nhiên, việc sản xuất ra của cải vật chất là vô cùng quan trọng, bởi vì nó là cơ sở của sự tồn
tại và phát triển của xã hội loài người. Nhưng lý giải như vậy chỉ thể hiện được quan điểm sản xuất xã
2
hội hết sức hạn hẹp, chứ chưa thể hiện được một cách toàn diện. Nghiên cứu về vấn đề này K.Marx cho
rằng, sản xuất xã hội là hoạt động và cũng là quá trình sáng tạo ra của cải xã hội của loài người, bao gồm
việc tạo ra của cải vật chất, của cải tinh thần và sự sinh sản, giáo dục của chính con người. Tạo ra của cải
vật chất là sản xuất vật chất, tạo ra của cải tinh thần là sản xuất tinh thần, sự sinh sản và giáo dục của con
người là sản xuất ra chính con người.
1

Quá trình sản xuất xã hội được phân chia thành ba tiền đề cơ bản. Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn

nghĩa, ông mới chỉ ra một cách rõ ràng vấn đề quan hệ giữa giáo dục và sản xuất xã hội, và chỉ rõ quan
điểm quan trọng là “giáo dục sẽ sản sinh ra sức lao động”, và cuối cùng hình thành nên một luận điểm
nổi tiếng: “kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục không phải chỉ là một phương pháp để làm
tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển
toàn diện”. Luận điểm và quan điểm quan trọng này đã định hướng và vạch ra cho chúng ta con đường
suy nghĩ nhận thức và vạch rõ bản chất của giáo dục và sản phẩm của giáo dục.
3

Trên quan điểm triết học, chúng ta thấy rằng, sản xuất và tái sản xuất chính bản thân con người
phải bao gồm hai phương diện: một mặt là sinh sản, - “sự truyền nòi giống”, đây là vấn đề nối dõi tông
đường của giống người, cũng tức là duy trì hàng đời hàng hóa sức lao động; mặt khác là giáo dục, đây là
vấn đề bồi dưỡng và nâng cao chất người, tức là vấn đề bồi dưỡng tố chất của sức lao động.
1
Xem: K.Marx, F.Angel: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, trang 39-41.
2
Xem: Sđd.
3
Xem: Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa. Triết học giáo dục hiện đại. Bản dịch. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, trang 11-12.
3
Sức lao động được hiểu như là một tập hợp những khả năng lao động bằng thể lực và trí lực của
con người, được sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần. Đại diện cho sức lao động là con
người. Sức lao động chỉ tồn tại thực sự trong cá nhân người lao động, mà là lực lượng lao động chủ yếu
của xã hội. Yếu tố thể lực và trí lực ở đây được thể hiện, một mặt cố nhiên là sự tồn tại thể xác hiện tại
và do đời trước của con người quyết định; mặt khác, một sinh mệnh phát triển trở thành sức lao động phù
hợp với nhu cầu của đời sống xã hội nhất định, ngoài việc phải cung cấp cho nó tư liệu sản xuất cần thiết
để đảm bảo cho cơ thể phát triển bình thường ra, còn phải tiến hành những công việc giáo dục và đào tạo
nhất định, khiến cho chúng đạt được sự phát triển cả về thể lực và trí lực. Sức lao động luôn có sẵn trong
bất kỳ xã hội nào mà không phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, cũng như hình thái xã hội của xã hội đó.
Tuy nhiên chỉ trong một trình độ phát triển lịch sử xã hội nhất định thì khái niệm này mới đạt được ý
nghĩa kinh tế cụ thể. Khả năng lao động,- sức lao động, - trở thành hàng hoá. Việc tái sản xuất sức lao

chuyên môn cao như: thiết kế, kỹ thuật công trình, quản lý, nghiên cứu và v.v.. Tri thức chuyên môn của
những người lao động trí tuệ này lại càng đòi hỏi việc đào tạo và huấn luyện mang tính giáo dục toàn
diện.
Việc sản xuất ra chính bản thân loài người là chỉ sự hình thành và phát triển của con người cá thể
cho đến khi bước vào xã hội. Tái sản xuất chính loài người là chỉ sự hoàn thiện và phát triển không
ngừng của cá thể và loài người. Việc sản xuất chính bản thân con người bao gồm cả sự sinh sôi về giống
nòi và việc giáo dục khiến cho trẻ sơ sinh được xã hội hóa. Sự duy trì nòi giống sẽ di truyền cho thế hệ
sau cơ cấu sinh lý và bản năng thiên tạo, từ đó khiến cho loài người liên tục tồn tại từ đời này sang đời
khác. Nhưng trẻ sơ sinh chưa được xã hội hóa thì vẫn chưa được cho là con người với đúng nghĩa của nó.
4
Xem: Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa. Triết học giáo dục hiện đại. Bản dịch. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, trang 13-14.
4
Chỉ sau khi được giáo dục nhất định, khiến cho trẻ sơ sinh có được các tố chất, năng lực tồn tại và phát
triển độc lập trong xã hội loài người, khi đó trẻ em mới được coi là đã bước vào xã hội và thực hiện việc
xã hội hóa cá thể, mới trở thành con người xã hội với ý nghĩa đích thực của nó. Tái sản xuất chính bản
thân con người bao gồm việc không ngừng bổ sung vật chất và năng lượng tiêu hao trong quá trình lao
động của con người và việc hoàn thiện, đổi mới, phát triển các tri thức, năng lực. Nói một cách cụ thể, tái
sản xuất bản thân con người bao gồm ba phương diện, một là, khôi phục và gìn giữ giá trị sức lao động
sẵn có trong con người; hai là, bổ sung và tăng thêm giá trị sức lao động; ba là, bồi dưỡng và nâng cao
giá trị hàng hóa sức lao động.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, mặt thứ ba đã trở thành khâu quan trọng nhất. Để
thích ứng với sự phát triển khoa học kỹ thuật trong nền sản xuất hiện đại, người lao động cần phải không
ngừng cập nhật tri thức, nâng cao kỹ năng, hoàn thiện và phát triển tố chất, năng lực mọi mặt của mình.
K.Marx luôn đặt vấn đề này vào vị trí hàng đầu của phát triển sức sản xuất xã hội. Tách rời điều này, cá
nhân sẽ không thể phát triển được và xã hội loài người sẽ không thể tiến lên, mà sự đổi mới và cập nhật
tri thức, kỹ năng của từng người lao động, cùng với việc hoàn thiện và phát triển tố chất, năng lực của họ
lại đều có nguồn gốc từ giáo dục. Bởi vậy, nên nói là, từ tố chất và năng lực của các mặt đạo đức, trí lực,
thể lực của con người mà thực hiện việc sản xuất và tái sản xuất chính bản thân loài người. Đó là vấn đề
quan trọng hàng đầu của việc nhận thức và nắm vững tính chất hàng hóa của giáo dục, đồng thời cả
những khác biệt của nó trong nền kinh tế thị trường.

5
chương trình giáo dục, đó là tri thức của nhân loại và cùng nhau khám phá ra những tri thức mới. Điểm
khác biệt độc đáo này được các nhà kinh tế học cho rằng, giáo dục là một loại hàng hóa công.
Thứ hai, nhu cầu hưởng thụ giáo dục ngày càng tăng. Một vấn đề quan trọng của giáo dục đại học
hiện nay là xu hướng của số đông thanh niên học sinh muốn vào đại học, bởi vì, thứ nhất là ở thời đại
toàn cầu hóa ngày nay, thị trường luôn luôn biến đổi, kỹ thuật luôn luôn thay đổi, các đòi hỏi về sản xuất
hàng hóa ngày càng cao hơn buộc người lao động, càng ở cấp bậc cao, càng phải biết cập nhật, mà sự cập
nhật này đòi hỏi một kiến thức cơ bản vững chắc. Thứ hai là, thị trường việc làm trong thế giới ngày nay
có đặc điểm là biến đổi liên tục, một con người trong suốt đời mình thường thay đổi việc làm nhiều lần.
Vì vậy, người lao động muốn thích ứng với nền kinh tế tri thức, xã hội muốn đi tắt đón đầu thì thông qua
giáo dục đại học là con đường ngắn nhất, cho nên hầu hết các cá nhân đều mong muốn được tiếp cận
giáo dục đại học, còn Chính phủ thì không thể không quan tâm đến vấn đề này.
Thứ ba, giáo dục đại học có tính chất của phương tiện sản xuất. Một trong những chức năng quan
trọng của giáo dục đại học là xác định năng lực của các cá nhân khác nhau. Khác với hàng hóa cá nhân,
giáo dục là dịch vụ tác động thẳng từ nhà cung cấp (người dạy) đến người tiêu dùng (người học), và
người học có thể lưu giữ kiến thức, coi đó là hình thức tích lũy, là phương tiện có khả năng tạo ra sức lao
động có tri thức và hiệu quả cao hơn so với trường hợp không có nó. Khả năng cao hơn này thể hiện qua
thu nhập cao hơn. Như vậy giáo dục đại học là phương tiện nâng cao năng suất của người lao động trong
tương lai. Tri thức được bồi đắp trong nhiều năm tháng, tức là thông qua quá trình tích lũy, cho phép con
người phát triển thêm khả năng cá nhân cho đến ngày có thể sử dụng. Điểm giống với các loại hàng hóa
khác là, trong sản xuất có sự tiêu hao về tài sản vật chất, thiết bị của nhà trường thì, điều quan trọng hơn
giáo dục còn là sự tiêu hao phần lớn về tâm huyết và tinh lực của những người được giáo dục. Đây chính
là sự khác biệt đáng kể mà không thể coi nhẹ về khả năng tích lũy trong giáo dục đại học. Tuy nhiên, quá
trình tích lũy này là lâu dài, không thể có tiền mà mua ngay được, và không phải ai cũng mua được, bởi
vậy, nên các nhà kinh tế còn cho giáo dục đại học là phương tiện để sàng lọc.
Điều đó có nghĩa là, sản phẩm của giáo dục mang tính chuyên ngành, người được giáo dục có
quyền sở hữu về tri thức tích lũy của mình. Nền tảng ngành nghề trong giáo dục không chỉ ở trường sở
và thiết bị, mà quan trọng hơn là ở tư tưởng, tri thức, kỹ năng giáo dục và các tri thức, kỹ năng văn hóa
khoa học của người làm công tác giáo dục. Khác biệt về khả năng tích lũy tri thức của chính bản thân
người học đã tạo nên giá trị riêng của giáo dục. Hay nói một cách đầy đủ, đầu tư cho giáo dục là đầu tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status