Tiểu luận
Tái cấu trúc thị trường Chứng
khoán Việt
Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi thành lập, t hị trường chứng khoán đã
trở
thành một trong những kênh huy
động vốn quan trọng và hiệu quả cho các doanh
nghiệp
thông qua các công cụ tài chính
như: các loại trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty
và
các công cụ chứng khoán phái
sinh khác… Thông qua thị trường chứng khoán
các
doanh nghiệp đã huy động được các
tái cấu trúc thị trường chứng khoán
.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng và những giải pháp trong quá trình tái cấu trúc thị trường
chứng khoán Việt Nam hiện nay, chúng tôi xin trình bày tiểu luận nghiên cứu
về
“Tái cấu
trúc thị trường Chứng khoán Việt
N am ”.
i
MỤC LỤC
CHƯƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN 1
1.1. Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán: 1
1.2. C ơ cấu thị trường chứng
khoán:
1
1.2.1. Phân loại theo sự luân chuyển các nguồn vốn: 1
2.3.2. Quy mô thị trường OTC 14
2.3.3. Phương cách giao dịch thị trường OT C Việt Nam 14
2.3.4. Các phương thức giao dịch 17
2.3.5. Cột mốc thị trường OTC 19
2.3.6. Tình hình biến động thị trường OTC những năm gần đây: 20
2.4. Những mặt hạn chế trong hoạt động của SGDC K và thị trường O TC 24
2.4.1. Những mặt hạn chế trong hoạt động của SGDCK 24
2.4.2. Những mặt hạn chế trong hoạt động của thị trường OTC 25
2.4.3. Nguyên nhân tồn tại những mặt hạn chế trên 26
ii
2.4.4. Sự cần thiết của tái cấu trúc 27
CHƯƠNG III.
NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG TÁI C ẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN 28
3.1. Giải pháp tổ chức lại SGD 28
3.1.1. Những giải pháp cần làm ngay 29
3.1.2. Những giải pháp quan trọng man g tính trung hạn 30
3.2. Giải pháp tổ chức lại thị trường O TC 34
3.2.1. Mô hình tổ chức 34
3.2.2. Hoàn thiện khung pháp lý cho sự ra đời của thị trường OTC 34
3.2.3. Tăng cường số lượng và chất lượng hàng hoá cho thị trường 35
3.2.4. Tăng cường giám sát của cơ quan quản lý nhà nước 35
3.2.5. Tăng cường công khai minh bạch hoạt động của các côn g ty 35
3.2.6. Cải tiến và nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin 36
KẾT LUẬN
Thị trường chứng khoán: là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi
các
loại
CK. Hàng hóa của TTCK là một loại hàng hóa đặc biệt, là quyền sở hữu về tư
bản.
Loại
hàng hóa này cũng có giá trị và giá sử
dụng.
Có thể nói, bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung
và
cầu
của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của CK chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay
giá
cả của
vốn đầu
tư.
1.2. Cơ cấu thị trường chứng
kh oán:
1.2.1. Phân loại theo sự luân chuyển các nguồn vốn:
Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các CK mới phát hành. Trên
thị
trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc
nhà
đầu
tư mua các CK mới phát
hành.
-
Không có đ
ị
a đi
ể
m giao d
ị
ch
- Giao dịch bằn g cơ chế thương lượng và
thoả thuận giá là chủ yếu
-
Có đ
ị
a đi
ể
m giao d
ị
ch c
ụ
th
ể- Giao dịch thông qua đấu giá tập trung
- Chỉ có 1 mức giá đối với 1 loại chứng
ờ
i đi
ể
m
- Giao dịch các loại chứng khoán có độ
rủi ro thấp hơn
-
Cơ chế thanh toán bù trừ đa phương
thống nhất
1.2.3. Phân loại theo hàng hóa trên thị
trường:
Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch, mua bán các loại cổ phiếu
bao
gồm cổ phiếu thường và cổ p hiếu ưu
đãi.
Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch, mua bán các loại trái phiếu
đã
được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô t hị
và
trái
phiếu chính
phủ.
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành
và
mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng
quyền,
- Là bước đệm cho các DN có ý định chuyển lên niêm yết trên sàn niêm yết
- Tăng t ính minh bạch cho DN, quảng bá thương hiệu
- Thủ tục đăng kí nhanh chóng hơn sàn niêm yết
- Tạo điều kiện cho các công ty CK phát triển: trong Upcom các công ty
chứng khoán với vai trò là nhà tạo lập thị trường, đồng thời cũng là nhà
đầu tư, nhà môi giới.
Nhược điểm của Sàn UpCOM
- Hàng hóa đơn điệu, thanh khoản kém
- Chưa đươc sự quan tâm nhiều của doanh nghiệp, Nhà đầu tư.
- Thị trường thiếu sự tham gia của các ‘cổ phiếu vua’
- Phương thức giao dịch không linh hoạt
- Chưa thấy vai trò của nhà t ạo lập TT
- Biên độ bị quản lý là 10%, trong khi ở sàn HXN là 7%, HOSE là 5%, thị
trường tự do không giới hạn về biên độ, giảm tính hấp dẫn của thị trường Upcom
- Hạn chế về thời gian thanh toán, sàn tự do, thời gian thanh toán T+0
1.4. Vai trò của sở giao dịch trong thị trường chứng khoán:
1.4.1. Huy động vốn cho các dự án công của Chính phủ:
Chính phủ hay thậm chí cả các chính quyền địa phương như các chính quyền thành phố
có thể quyết định vay tiền để hỗ trợ tài chính cho những dự án hạ tầng to lớn như thoát nước
và xử lý nước thải hay cung cấp nhà ở bằng cách bán một kiểu chứng khoán khác được gọi
là khế ước nợ. Những khế ước nợ đó có thể tăng giá thông qua Sở giao d ịch chứng khoán khi
các thành viên công chúng mua nó, nhờ vậy không cần phải đánh thuế quá cao đối với người
dân để có tiền đầu tư phát triển.
Bên cạnh đó thông qua Sở giao dịch chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái
phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài
ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm
định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
1.4.2. Huy động vốn cho doanh nghiệp:
khoán niêm
yết
một cách
dễ
dàng và nhanh chóng.
1.4.5. Tạo một cơ chế xác định giá minh bạch, công bằng tiến đến tăng cường tính minh
bạch cho nền kinh tế:
Sở giao dịch chứ ng khoán mang đến cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh
với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính
chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với
khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
1.4.6. Hỗ trợ quản lý công ty ngày càng hiệu quả:
Bằng cách có được nhiều người sở hữu ở nhiều tầng lớp khác nhau, các công ty nói chung
có khuynh hướng cải thiện các tiêu chuẩn quản lý và hiệu năng của mình nhằm thoả mãn các
yêu cầu của những người nắm giữ cổ phần đó và việc hợp tác quản lý của mọi người trên thị
trường chứng khoán cũng như của chính phủ càng chặt chẽ hơn. Nhờ vậy, mọi người cho
rằng các công ty công chúng (các công ty được sở hữu bởi các nhà đầu tư nắm giữ cổ phần và
là thành viên tham gia vào các sàn giao dịch chứng khoán công cộng) thường được quản lý tốt
hơn so với các công ty tư nhân (các công ty này không có cổ phần được giao dịch trên các sàn
công cộng, thông thường thuộc sở hữu của người sáng lập và/hay gia đình hay người thừa kế
của họ, hay là bởi một nhóm các nhà đầu tư nhỏ). GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-5-
1.4.7. Tạo kênh đầu tư hiệu quả cho công chúng:
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ
được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
các CTCK - trụ cột chính của TTCK - sẽ không thể trụ vững và thực hiện được vai trò, vị trí GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-6-
và nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc các CTCK phải được thực hiện theo
lộ trình, có bước đi thận trọng, chắc chắn nhằm không làm xáo trộn hoạt động của TTCK
cũng như các hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước, bảo đảm lợi ích hợp pháp của khách
hàng; có sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.
Tái cấu trúc TTCK là nhằm thực hiện chủ trương chung của Đ ảng và Nhà nước về tái cấu
trúc nền kinh tế. Đây cũng là nhiệm vụ hết sức cấp bách để đáp ứng yêu cầu về vốn dài hạn
cho nền kinh tế, củng cố hệ thống thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm quản trị rủi
ro, an toàn hệ thống tài chính
1.5.2. Những cải cách về thể chế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường
Cụ thể, thể chế đối với hoạt động TTCK, thị trường bảo hiểm đã có sự hoàn thiện một
bước, đặc biệt là bổ sung sửa đổi chứng khoán, luật kinh doanh bảo hiểm trong năm 2010.
Tuy nhiên, những cải cách về thể chế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị
trường, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế có nhiều biến động như trong
giai đoạn vừa qua. Môi trường kinh tế vĩ mô chưa thực sự thuận lợi, lạm phát và lãi suất ngân
hàng cao đã ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản chung của nền kinh tế cũng như thị trường
tài chính trong đó có TTCK. Hoạt động của các công ty chứng khoán, công ty niêm yết không
ổn định (lúc lãi, lúc lỗ tuỳ theo tình hình thị trường); mặt khác do công tác quản trị công ty,
công khai minh bạch của các công ty chứng khoán, công ty niêm yết chưa cao đã ảnh hưởng
đến niềm tin của thị trường cũng như công chúng đầu tư.
Đặc biệt, sự liên thông giữa các khối thị trường ở trong nước như: tín dụng ngân hàng,
chứng khoán, bất động sản, cũng như sự liên thông giữa thị trường trong nước, nước ngoài
làm cho thị trường chứng khoán có sự ảnh hưởng, điều này có thể gây rủi ro tiềm ẩn trong an
toàn hệ thống tài chính.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN SỞ GIAO DỊCH VÀ
THỊ TRƯỜNG OTC
2.1. Quá trình hình thành và phát triển Sở Giao dịch chứng khoán tại Việt Nam.
Hiện nay ở Việt Nam có 2 Sở Giao dịch chứng khoán thực hiện việc mua bán chứng
khoán đó là Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (viết tắt là HOSE) và Sở Giao dịch chứng
khóan Hà Nội (HNX). Tiền thân của 2 Sở Giao dịch chứng khoán trên là Trung tâm giao dịch
chứng khoán TP.HCM và Trung tâm giao dịch chứng khóan thành phố Hà Nội được thành lập
theo quyết định số: 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ.
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM đi vào họat động sớm hơn. Vào ngày
20/7/2000, Trung tâm giao dịch chứng khóan TP.HCM chứng thức khai trương và đi vào họat
động. Đến ngày 28/7/2000, phiên giao dịch đầu tiên của thị trường chứng khoán Việt Nam đã
chính thức được tổ chức tại Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM với 2 loại cổ phiếu
được niêm yết đó là REE và SAM. Và đến ngày 8/8/2007 Trung tâm giao dịch chứng khoán
TP.HCM chính thức trở thành Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM gọi tắt là HOSE. Sở giao
dịch chứng khoán TP.HCM là pháp nhân thuộc sở hữu nhà nước, được tổ chức theo mô hình
công ty TNHH một thành viên, hoạt động theo Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp, Điều lệ
của Sở giao dịch chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan, vốn điều lệ
của Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM là 1000 tỷ đồng.
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 01/2009/QĐ-TTg
ngày 2/1/2009 của Thủ tướng chính phủ trên cơ sở chuyển đổi, tổ chức lại Trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội. Trung tâm giao dịch chứng khoán. TTGDCK Hà Nội được thành
lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998, chính thức đi vào hoạt động từ
năm 2005với các hoạt động chính là tổ chức thị trường giao dịch CKNY, đấu giá cổ phần và
đấu thầu trái phiếu. GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-8-
HOSE
HNX
V
ố
n đi
ệ
u l
ệ
80 t
ỷ
đ
ồ
ng tr
ở
lên
10 t
ỷ
đ
ồ
ng tr
ở
quá h
ạ
n chưa đư
ợ
c
trích lập dự phòng
không có các kho
ả
n n
ợ
ph
ả
i tr
ả
quá hạn trên một năm và hoàn
thành các nghĩa vụ tài chính với
Nhà nước
C
ổ
đông công
chúng
T
ố
i thi
ể
đông n
ắ
m gi
ữ
đông n
ắ
m gi
ữ
C
ổ
đông
đ
ặ
c bi
ệ
t
HĐQT, NKS, BG, KTT cam k
ế
t
nắm giữ 100% cổ phiếu trong 6
tháng đầu và 50% trong 6 tháng
tiếp theo sau niêm yết, không
tính cổ phần NN giao cho cá
nhân nắm giữ
ố
lư
ợ
ng
CP được
bán ra
G iá trị bán được
(vnđ)
Công ty Xu
ấ
t Nh
ậ
p Kh
ẩ
u
Nông Sản Thực Phẩm An
Giang 05/01/2011 4.292.800
10.000 10.000 10.000 2.142.400
21.424.100.000
Công ty c
ổ
ph
ầ
n L
ọ
c Hóa
Mi 15/06/2011 105.653.700
10.000 10.200 10.200 75.500 770.100.000
Công ty TNHH MTV C
ấ
p
thoát nước – Công trình
đô thị Hậu G iang 16/06/2011 2.572.100
10.000 10.000 10.000 113.300 1.133.000.000
Ngân hàng TMCP Phát
triển Nhà TP.Hồ Chí
Minh 17/06/2011 3.679.870
10.000 10.100 10.200 200 2.040.000
T
ổ
ng Công ty Mi
ề
n Trung
– TNHH Một thành viên
(COSEVCO) 27/06/2011 23.978.076
10.000 10.300 10.601 23.978.076 254.184.255.600
Công ty C
ông trình G iao
thông 60 15/09/2011 2.381.700
10.000 10.000 10.000 405.000 4.050.000.000
Công ty s
ả
n xu
ấ
t s
ả
n
phẩm mạ công nghiệp
Vingal 16/01/2012 3.636.810
10.000 10.050 10.050 3.636.810 36.551.152.500
CÔNG TY TNHH MTV
PHÁT TRIỂN CÔNG
NG HIỆP TÂN THUẬN 28/02/2012 175.000
100.000 240.000 270.000 175.000 47.250.000.000
Vungtau Shipping and
Service Company 12/03/2012 6.288.300
10.000 10.000 10.000 3.138.000 31.380.000.000
quân
Số lượng
CP được
bán ra
Giá trị bán được
(vnđ)
Công ty Công trình giao
thông 503 16/03/2011 1.030.000 10.000
10.000
10.029 1.030.000 10.330.000.000
Công ty Xây d
ự
ng và
XNK Giao thông 502 30/03/2011
1.275.000 10.000
10.000
10.024 1.275.000 12.780.000.000
CTCP Đ
ầ
u tư
–
Xây
dựng Công trình đô thị
Đà Nẵng 23/05/2011
1.127.000 10.000
ổ
ng Công ty Xăng d
ầ
u
Việt Nam 28/07/2011
27.425.933 10.000
15.000
15.032 27.425.933 412.270.065.000
Công ty Tư v
ấ
n Xây
dựng Công trình thủy 1 13/09/2011
2.340.600 10.000
10.000
10.100 2.340.600 23.640.060.000
T
ổ
ng Công ty Xăng d
ầ
u
Việt Nam 19/09/2011
82.251 10.000
15.032
15.050 82.251 1.237.877.550
18.500
18.583 84.754.146 1.575.020.921.000
Ngân hàng Đ
ầ
u tư và
Phát triển Việt Nam
16/01/2012 238.220 10.000
18.500
18.500 238.220 4.407.070.000
Công ty TNHH MTV
Chế tạo thiết bị và
Đóng tàu Hải Phòng 17/01/2012
8.699.868 10.000
10.800
10.800 389.200 4.203.360.000
CTCP Th
ủ
y s
ả
n và
Thương mại Thuận
Phước 22/02/2012
692.720 10.000
15.000
trường chứng khoán cũng được kết quả như kỳ vọng. Chẳng hạn Công ty TNHH MTV Chế
tạo thiết bị và Đóng tàu Hải Phòng là ví dụ, tháng 1/2012 công ty phát hành cổ phiếu với số
lượng 8.699.868 cổ phiếu nhưng chỉ có 389.200 cổ phiếu được giao dịch.
Đặc biệt hiên nay, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội còn có vai trò là cơ quan duy nhất
vận hành thị trường thứ cấp TPCP, đầu mối ủy quy ền bởi chính phủ phát hành TPCP theo
hình thức đấu thầu. Là đầu mối phát hành các chứng khoán do các cơ quan nhà nước phát
hành được chính phủ bảo lãnh như chứng khoán do Ngân hàng Phát triển Việt N am phát hành
được Chính phủ bảo lãnh.
Cùng với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán vào năm 2007, việc huy động vốn thông
qua thị trường vào t hời điểm đó cũng thuận lợi hơn. Hiện nay, cùng với sự đi xuống của
chứng khoán thì việc phát hành chứng khoán để huy động vốn cũng rất khó khăn. Chỉ những
công ty lớn, hoạt động có lợi nhuận, có thương hiệu trên thị trường thì mới nghĩ tới việc phát
hành chứng khoán tại thời điểm hiện nay.
- Đối với hoạt động giao dịch: Sở giao dịch chứng khoán đã nâng cấp hệ thống giao dịch
và thông tin để đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển của thị trường chứng khoán, nâng cao
tính minh bạch và hiệu quả hoạt động giao dịch trên thị trường. Sở Giao dịch chứng khoán
luôn đề cao chất lượng cung cấp dịch vụ cho thị trường. Phương châm này thể hiện qua việc
nâng cao chất lượng cung cấp thông tin thị trường qua bản tin, trang thông tin điện tử , thu
ngắn thời gian thẩm định niêm yết và xem xét tư cách thành viên , tự động hoá việc nộp báo
cáo tài chính của công ty niêm yết, đơn giản hoá thủ tục đấu giá…Bên cạnh đó, với số lượng
thành viên công ty chứng khoán đông đảo (105) giúp Sở giao dịch chứng khoán thực hiện tốt
chức năng tư vấn, môi giới chứng khoán của mình. GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-12-
Với việc giao dịch được mở rộng đã tạo tính thanh khoản tốt cho các nhà đầu tư. Nếu như
ở thời điểm điểm mới thành lập và đi vào họat động, t ại Trung tâm giao dịch chứng khoản
Giá trị (tỷ đồng)
5/2012 872.252.880 13.533,91
49.622.981
1.347,67
4/2012 1.552.816.170 22.432,28
210.960.046
5.162,69
3/2012 1.747.390.040 24.520,23
186.780.855
4.899,37
2/2012 944.612.500 12.945,67
228.090.369
4.804,59
1/2012 313.346.690 4.137,77
245.218.549
4.636,16
12/2011
564.180.490 7.717,11
140.264.181
2.880,59
6/2011 637.480.540 10.761,91
129.216.736
3.313,17
Tuy nhiên, với việc với một thị trường nhỏ, số lượng công ty chứng khoán nhiều nhưng
quy mô và năng lực tài chính thấp, năng lực quản trị và khả năng nhận diện, xử lý rủi ro chưa
cao, không đảm bảo hiệu quả hoạt động, tiềm ẩn rủi ro hệ thống. GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-13-
- Tăng cường sự minh bạch cho nền kinh tế: thông qua việc quản lý các công ty chứng
khoán thành viên và các công ty niêm yết, Sở giao dịch chứng khoán tạo ra sự minh bạch về
thông tin của các doanh nghiệp cũng như các công ty chứng khoán, từ đó tạo kênh đầu tư hiệu
quả cho công chúng.
Tuy nhiên, không phải công ty nào tham gia thị trường chứng khoán cũng có công bố
thông tin một cách minh bạch được. Sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, kịp thời việc công bố
thông tin, giao dịch nhằm hạn chế những rủi ro đạo đức từ các thành phần tham gia thị trường
gây ra. Vụ việc gần đây nhất gây xôn xao dư luận là việc Đại học Tân Tạo bán cổ phiếu ITA
nhiều lần làm thay đổi tỷ lệ sở hữu vượt quá 1% mà không công bố thông tin là một ví dụ.
Việc công bố thông tin sai lệch trên thị trường chứng khoán, hay “làm” báo cáo tài chính đẹp
để hưởng lợi là chuyện không phải là hãn hữu trên thị trường chứng khoán. Theo số liệu trên
Sở Giao dịch chứng khóan TP.HCM thì năm 2011 có 25 Công ty vi phạm công bố thông tin,
cộng
%
giao
dịch
toàn thị
trường
Kh
ố
i l ư
ợ
ng giao d
ị
ch
Mua 693.130.590 7% 11.881.290 8% 0 - 705.011.880 7%
Bán
463.032.170
4%3.759.660
3%
0
-
8%
Bán 16.203.009
5% 37.116
2% 0 0 16.240.125 5%
Chênh
lệch
11.273.208
94.530
11.367.739 GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-14-
2.3. Thực trạng hoạt động của thị trường OTC
2.3.1. Đặc đi ểm thị trường OTC
- Không có địa điểm giao dịch
- Giao dịch bằng cơ chế thương lượng và thoả thuận giá là chủ yếu
- Trên thị trường có thể có nhiều mức giá đối với một loại chứng khoán trong cùng một
thời điểm.
- Giao dịch các loại chứng khoán có độ rủi ro cao
Hình thức này khá phổ biến hiện nay và đặc biệt được ưa chuộng bởi những nhà đầu tư
trẻ, công chức nhà nước, nhân viên của các công ty. Rất nhiều trang web chuyên về chứng
khoán và một số tờ báo điện tử đều đăng tin rao vặt, mua bán chứng khoán OTC như các
trang của chính các công ty chứng khoán, như: ANS, ABCS, BVSC, hoặc các trang chuy ên
về giao dịch OTC; như: SanOTC.com, OTC24h… Website cho phép người đăng nhập đưa ra
các lệnh mua và bán, sau đó thống kê để đưa ra những lệnh phù hợp để khách hàng lựa chọn.
Trên các website có đưa ra bảng mã OTC của các công ty và mệnh giá cổ phiếu, trái phiếu
của công ty đó và có những thống kê về mức giá của những cổ phiếu đó để khách hàng có
thêm các thông tin trước khi đưa ra quyết định đầu tư và hỗ trợ khách hàng tìm hiểu về thị
trường chứng khoán thông qua các phân tích thị trường OTC. Và quan trọng hơn cả là danh
sách các cổ phiếu OTC được chào mua, chào bán tại hầu hết các “sàn” mạng đều dài gấp vài
lần danh mục gần 200 doanh nghiệp niêm yết trên sàn. Giá trên các trang web này chỉ là giá
mang tính chất tham khảo thông qua giá trần, giá sàn và giá trung bình, không phải là giá trị
thực của chứng khoán được rao bán hoặc mua trên thị trường OTC. Thực tế do việc tham gia
vào những trang web này tương đối dễ dàng, và độ xác thực của tin rao không được kiểm tra,
không nơi nào chịu trách nhiệm về những thông báo đó nên rất nhiều người đăng những tin
rao không đúng sự thật, gây ra sức ép giả tạo về cung hoặc cầu để làm giá theo hướng có lợi
cho mình.
Hình thức giao dịch ở đây chủ yếu là trao tay. Sau khi đã khớp lệnh đồng ý mua bán trên
mạng, thì quá trình sau đó diễn ra rất đơn giản và dễ dàng. Nếu là chứng khoán đã được lưu
ký thì người mua hay người bán thường sẽ đến trụ sở chính của công ty để đăng kí chuy ển đổi
sở hữu. Thoả thuận xong người mua và người bán đến một chi nhánh của công ty phát hành
chứng khoán và điền vào mẫu phiếu (form) chuyển nhượng, sau đó nộp phí chuyển nhượng
(khoảng 0.03%) là 2 tuần sau người mua có thể có giấy chứng nhận sở hữu cổ phần. Rất nhiều
trường hợp nếu chứng khoán không được lưu ký, người bán chỉ việc trao cho người mua một
giấy chứng nhận sở hữu. Sau vài cú điện thoại là bên mua cầm tiền đến gặp người bán (tại
nhà, quán cà phê, cơ quan ), kiểm tra sơ sơ chứng khoán, viết cho nhau tờ cam kết chuyển
nhượng quyền cho người mua. Phần lớn các giao dịch chỉ diễn ra trong vòng 30 phút, nếu
quen nhau chỉ 10 phút.
Hoạt động của họ thúc đẩy thị trường OTC phát triển, các giao dịch sôi động hơn. Nếu không
có họ, nhu cầu mua/bán chứng khoán không dễ dàng gặp nhau và do đó tính thanh khoản của
các chứng khoán cũng bị hạn chế nhất định. Thực tế thời gian qua ít khi kẻ mua, người bán
giao dịch được với nhau qua thông tin trên mạng. Các cuộc giao dịch thành công phần lớn là
nhờ broker do các broker nắm bắt được nhiều thông tin, biết nhiều khách hàng cũng như có
nhiều mối quan hệ nên đã giúp quá trình thực hiện làm các thủ tục thanh toán, chuyển nhượng GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-17-
chứng khoán khá dễ dàng. So với hình thức tự tìm đến nhau qua mạng thì nhà đầu tư phải mất
thêm phí cho broker và phí này cũng khá cao.
2.3.3.4. Giao dịch thông qua chính công ty phát hành chứng khoán các bên đang mua/bán
Trong số những nhà môi giới trên thị trường OTC cũng dễ dàng bắt gặp chính các cán bộ
Văn phòng Hội đồng quản trị của một số Ngân hàng thương mại cổ phần, Công ty cổ phần
nơi làm thủ tục chuyển nhượng cổ phiếu của doanh nghiệp đó do đang hình thành xu hướng là
mua chứng khoán của tổ chức nào thì nhờ chính những người ở tổ chức đó môi giới. Họ có
nhiều mối hàng, phát giá khá hợp lý và có trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo tính hợp pháp,
hợp lệ chứng khoán. Vì vậy, đôi khi có những loại chứng khoán đang rất "nóng" trên thị
trường mà lại không thấy giao dịch trên chợ mạng như cổ phiếu của VPBank, Habubank
trong thời gian qua. Thậm chí có những công ty phát hành muốn bảo vệ quyền lợi của nhà đầu
tư đã đứng ra làm trung gian mua bán và thực hiện chuyển nhượng quy ền sở hữu cho khách
hàng, ví dụ như công ty chứng khoán Bảo Việt.
Thực ra đây là m ột hình thức biến thể của hình thức giao dịch thông qua các m ôi giới
nhưng cái khác nhau là ở chỗ, theo quy định của UBCK thì hoạt động này của các công ty
phát hành chứng khoán không được thu phí dịch vụ từ các nhà đầu tư, chính vì vậy, hình thức
này sẽ không tốn nhiều chi phí như giao dịch thông qua các môi giới tự do. Thủ t ục chuyển
nhượng cũng hết sức chặt chẽ với việc xuất trình sổ hộ khẩu, chứng minh thư, chữ ký gốc
2.3.5. Cột mốc thị trường OTC
2.3.5.1. Trước khi UPCOM ra đời
Trước năm 2009, thực trạng thị trường OTC tại Việt Nam hoạt động rất phức tạp và không
có tổ chức:
Không có thông tin rõ ràng về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu.
Các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu vô tội vạ ra công chúng, Phát hành cổ phiếu giả,
Không có biên độ giá, thổi phồng lớn hơn giá trị thực của cổ phiếu nhiều lần.
Không có các cơ quan chức năng theo dõi, kiểm tra, chế tài
2.3.5.2. Sau khi UPCOM ra đời
Ngày 24/6/2009, khai trương sàn UPCOM . Sự ra đời của UPCOM sẽ hạn chế, thu hẹp
thị trường tự do, góp phần đảm bảo cho sự ổn định lành mạnh của thị trường chứng khoán.
UPCOM ra đời tạo cho các nhà đầu tư (NĐT) một môi trường giao dịch linh hoạt, an toàn và
các CTĐC chưa niêm yết có một thị trường giao dịch ổn định
Chứng khoán được giao dịch trên thị trường UPCOM gồm cổ phiếu của Công ty đại chúng
chưa niêm yết hoặc đã bị hủy niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HXN) hay Sở
Giao dịch chứng khoán TP. HCM (HoSE); trái phiếu chuyển đổi của
Công ty đại chúng chưa niêm yết hoặc hủy niêm y ết.
Trước đó có 10 công ty tài chính và chứng khoán với vốn điều lệ từ 16,29 tỷ đồng đến
350 tỷ đồng đã hoàn tất thủ tục, sẵn sàng nhập cuộc thị trường giao dịch chứng khoán công ty
đại chúng chưa niêm yết này. GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-20-
2.3.6. Tình hình biến động thị trường OTC những năm gần đây:
2.3.6.1. Giai đoạn 2001-2003
Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê về thực trạng doanh nghiệp năm 2001-
2003, tính đến cuối năm 2002, cả nước có 2.829 công ty cổ phần. Trong đó 557 công ty nhà
GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến
NH01-TTTC-NHÓM 4
-21-
Eximbank và Techcombank xác lập mức giá mới khoảng gấp 2.5 lần mệnh giá , đặc biệt, cổ
phiếu Sacombank được giao dịch với khối lượng lớn, gấp 3 lần mệnh giá, một trong những cổ
phiếu có tính thanh khoản cao nhất vào hồi cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 2006.
Thị trường bắt đầu sôi động với sự góp mặt của cổ phiếu các nghành công nghiệp khác
như IPO nhựa Tiền phong, cơn sốt mua trái phiếu Vietcombank với giá 1.3, cổ phiếu PVD
góp mặt sau đó ít lâu chủ yếu dưới dạng hợp đồng uỷ thác của PVFC, nhà đầu tư được vay tới
70% với giá ưu đãi chỉ 12.000 đồng -13.000 đồng /cp
Cổ phiếu công ty chứng khoán duy nhất có được sự quan tâm của giới đầu tư mang cái tên
quen thuộc - SSI. Khi đó, vốn điều lệ của SSI mới chỉ có hơn 60 tỷ đồng, với giá giao dịch
bình quân khoảng 23.000 - 25.000 đồng.
Giữa tháng 3, đầu tháng 4, thị trường bắt đầu đón nhận cổ phiếu PPC (14.000 đồng),
VIPCO, VITACO, và đặc biệt là cổ phiếu SJS với mức giá 35.000 đồng/cp, FPT với giá chưa
chia tách tương đương 45.000 đồng/cp.
Bước sang tháng 5, một loạt cổ phiếu OTC bước vào giai đoạn suy thoái sau hơn 3 tháng liên
tục tăng nóng. Giai đoạn này kéo dài tới t ận tháng 7, đầu tháng 8 mới có dấu hiệu phục hồi trở
lại.
Cuối năm 2006, thị trường OTC thực sự bùng nổ trở lại, với sự tham gia của hàng chục
công ty lên sàn niêm yết, kế hoạch tăng vốn của các ngân hàng và công ty chứng khoán,có khi
chỉ trong 1 tuần lễ, nhà đầu tư thu về khoản lợi nhuận gấp 2-4 lần số vốn bỏ ra
2.3.6.3. Năm 2007 : giai đoạn u ám
Con số hơn 800 DN có CP giao dịch trên thị trường OTC đã đủ nói lên quy mô của thị
trường này. Tuy nhiên, chỉ ít CP mang lại lợi nhuận cho NĐT, đa số còn lại là thất bát trước
cơn lốc rớt giá năm 2007.
Những tên tuổi ngân hàng như như Eximbank, Đông Á, An Bình, Phương Đông, Quân
Đội… đều đã giảm thị giá đi phân nửa so với đầu năm 2007. Eximbank giảm từ 16,5 triệu
đ/CP xuống còn 6,5 triệu đ/CP, Phương Đông giảm từ 120.000 đ/CP xuống còn 40.000 đ/CP,