Đề tài : Khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy - Pdf 13


Bộ công thơng
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp bộ

khai thác và phát triển nguồn gen
cây nguyên liệu giấy chủ nhiệm đề tài: nguyễn đức thế


1.4.2. Đối tƣợng khai thác và phát triển 5
1.4.3. Nội dung nhiệm vụ 6
1.5. Tổng quan nhiệm vụ 7
1.5.1. Trên thế giới 7
1.5.2. Ở Việt Nam 17
PHẦN 2. THỰC NGHIỆM 23
2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
2.1.1. Phƣơng pháp khai thác nguồn gen 23
2.1.1.1. Khai thác hom giống Bạch đàn và Keo tai tƣợng 23
2.1.1.2. Khai thác hạt giống Keo tai tƣợng 24
2.1.2. Phƣơ 24
2.1.2.1. Phát triển cây giống Keo tai tƣợng 24
2.1.2.2. Phát triển cây giống Bạch đàn 27
2.1.3. Phƣơng pháp đánh giá hiệu quả rừng trồng giống mới 28
ii

2.1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu ảnh hƣởng của chiều cao tạo tán 30
2.1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu ảnh hƣởng của tỷ lệ phối trộn đất mùn 30
2.1.6. Phƣơng pháp nghiên cứu đa dạng hình thái lá Bạch đàn 32
2.2. Kết quả và thảo luận 33
2.2.1. Chọn lọc nguồn gen 33
2.2.2. Khai thác nguồn gen 35
2.2.3. Phát triển nguồn gen 37
2.2.4. Khảo nghiệm đánh giá rừng trồng giống mới 40
2.2.4.1. Địa điểm và quy mô khảo nghiệm 40
2.2.4.2. Đánh giá giống năm thứ nhất 41
2.2.5. Nghiên cứu hỗ trợ kỹ thuật khai thác phát triển nguồn gen 45
2.2.5.1. Nghiên cứu ảnh hƣởng của chiều cao tạo tán đến sản lƣợng hom
Keo tai tƣợng 45
2.2.5.2. Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số nhân tố môi trƣờng đến sinh

tƣợng 18 tháng tuổi ở các cỡ chiều cao tạo tán 20cm, 25cm và 30cm 48
Bảng 10. Tỷ lệ hom Keo tai tƣợng ra rễ ở các công thức phối trộn mùn đất
(hom cắm 45 ngày) 50
Bảng 11. Số lƣợng rễ, mắt rễ của hom Keo tai tƣợng (45 ngày) ở các công
thức phối trộn mùn đất 50
Bảng 12. Chiều dài bộ rễ và rễ cây hom Keo tai tƣợng (45 ngày) ở các công
thức phối trộn mùn đất 52
Bảng 13. Chiều dài, bề rộng, tỷ số dài/rộng của phiến lá và chiều dài cuống
lá 4 dòng Bạch đàn trồng ở khu bảo tồn gen Tiên Kiên - Phú Thọ (tuổi 44
tháng) 53
v DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Cây trội Keo tai tƣợng chọn ở rừng giống Quốc gia Hàm Yên -
Tuyên Quang 34
Hình 2. Cây mẹ đem trồng bổ sung nguồn gen Vƣờn vật liệu giống. Bạch
đàn (trái) và Keo tai tƣợng (phải) 36
Hình 3. Ken vỏ tạo chồi trên cây mẹ Bạch đàn urophylla để dẫn giống về
Vƣờn vật liệu 36
Hình 4. Cắt chồi tạo hom giống Bạch đàn 37
Hình 5. Cây hom Keo tai tƣợng dòng AH.07.09 giâm ở giá thể cát chuyển
sang nuôi dƣỡng ở bầu đất lớn hơn 39
Hình 6. Cắt chồi tạo hom Keo tai tƣợng dòng AH.07.08 và AH.07.11 39
Hình 7. Bản đồ khu trồng rừng khảo nghiệm hậu thế 5 cây trội Keo tai
tƣợng 40
Hình 8. Gốc cây con gia đình Keo tai tƣợng AH.07.10 (6 tháng tuổi,
D
max
=3cm) 42

Trồng rừng sản xuất kinh doanh gỗ nguyễn liệu giấy trong những năm vừa
qua đã vấp phải nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy giống cây trồng là một
trong những rào cản lớn nhất đối với những kế hoạch, dự án trồng rừng quy
mô lớn. Rất nhiều nơi đã không thể trồng rừng thành công vì đã sử dụng
cây giống đƣợc phát triển từ những nguồn gen kém chất lƣợng (Lê Đình
Khả và Dƣơng Mộng Hùng, 2003).
Trong khi đó, diện tích đất trồng rừng của các công ty lâm nghiệp liên tục
giảm bởi các nguyên nhân nhƣ chuyển đổi mục đích sử dụng, lấn chiếm trái
phép, tranh chấp đất đai (Tổng công ty Giấy Việt Nam, 2005).
Vì vậy một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với trồng rừng
nguyên liệu giấy là tạo ra những rừng có hiệu quả sản xuất gỗ cao, chu kỳ
kinh doanh ngắn và đồng thời phải đảm bảo đƣợc tính ổn định, bền vững,
chống thoái hoá đất đai và đặc biệt phải đảm bảo đƣợc sự đa dạng sinh học.
Để thoả mãn những yêu cầu nói trên, việc khai thác và phát triển nguồn gen
của các giống đã đƣợc cải thiện di truyền (về năng suất và chất lƣợng rừng)
luôn đƣợc coi là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần đa dạng
hoá tập đoàn giống (Đoàn Thị Thanh Nga, 2005; Đoàn Thị Thanh Nga,
2006; Đoàn Thị Thanh Nga, 2007).
Trong những năm gần đây, nhiều giống cây trồng mới của Bạch đàn
(Eucalyptus spp) và Keo (Acacia spp) đã đƣợc chọn lọc và lai tạo. Viện
Nghiên cứu Cây Nguyên liệu Giấy đã chọn lọc đƣợc 15 dòng vô tính bạch
đàn và keo lai, 2 xuất xứ Keo tai tƣợng (Acacia mangium Wild), 2 biến
chủng Thông caribê đạt tiêu chuẩn giống Quốc gia và giống Tiến bộ kỹ
thuật.
3

Giống mới chọn lọc có năng suất rừng trồng cao hơn giống chƣa cải thiện
vài ba lần, có sức chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trƣờng, có khả
năng kháng nhiều loại sâu bệnh hại. Đặc biệt, trong điều kiện khảo nghiệm,
có những giống mới sau trồng 54 tháng tuổi có thể tích thân cây vƣợt giống

lƣợng cao phục vụ nghiên cứu và sản xuất cây giống đáp ứng yêu cầu trồng
rừng năng suất chất lƣợng cao;
(2) Bổ sung các nguồn gen chất lƣợng cao vào tập đoàn giống cây nguyên
liệu giấy;
(3) Tăng cƣờng năng lực kỹ thuật sản xuất cây giống chất lƣợng cao.
1.4. Địa điểm, đối tƣợng và nội dung công việc
1.4.1. Địa điểm thực hiện
Năm 2008, nhiệm vụ khai thác và phát triển nguồn gen đƣợc triển khai thực
hiện ở 3 địa điểm sau:
(1) Viện Nghiên cứu Cây Nguyên liệu Giấy:
Giâm hom, gieo ƣơm tạo cây giống, xây dựng vƣờn vật liệu giống và các
nghiên cứu ở vƣờn ƣơm đƣợc thực hiện tại Viện Nghiên cứu Cây Nguyên
liệu Giấy, thuộc địa bàn xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Vƣờn ƣơm của Viện đƣợc xây dựng hệ thống cung cấp nƣớc tƣới và các bể
ƣơm để sản xuất cây giống lâm nghiệp. Trong khuôn viên của vƣờn ƣơm
còn có quỹ đất dành cho việc xây dựng vƣờn vật liệu giống.
Đất đai trong khu vực chủ yếu là đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ
phiến thạch sét, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình. Nhiệt độ
không khí trung bình năm vào khoảng 22-26
0
C, nhiệt độ các tháng mùa
Đông vào khoảng 12-15
0
C. Mùa mƣa từ tháng 4 đến tháng 10, lƣợng mƣa
5

bình quân khoảng 1200-1300mm/năm. Gió mùa Đông Bắc thƣờng xuất
hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
(2) Xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ:
Nghiên cứu đa dạng hình thái lá Bạch đàn đƣợc thực hiện ở khu rừng trồng

Chỉ tiêu chọn lọc
Giá trị chọn lọc
1
Đƣờng kính ngang ngực
Vƣợt quần thể gốc 25%
2
Chiều cao
Vƣợt quần thể gốc 10%
3
Thân cây
Thẳng, đơn trục
4
Sâu, bệnh hại
Không bị
5
Tán lá
Cân đối
1.4.3. Nội dung nhiệm vụ
(1) Khai thác các nguồn gen chọn lọc đƣợc ;
(2) Phát triển nguồn gen chất lƣợng cao vào sản xuất cây con;
(3) Đánh giá hiệu quả rừng trồng bằng giống mới;
(4) Nghiên cứu hỗ trợ khai thác và phát triển nguồn gen gồm:
(4.1) Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số nhân tố đến sản lƣợng hom Keo tai
tƣợng;
(4.2) Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số nhân tố môi trƣờng đến sinh
trƣởng và phát triển của cây hom Keo tai tƣợng;
(4.3) Nghiên cứu đa dạng hình thái lá của các giống Bạch đàn phục vụ công
tác cải thiện giống và sản xuất cây giống trồng rừng.
7


8

nhân giống vô tính nhƣ giâm hom, nuôi cấy mô các quốc gia này đã trồng
đƣợc hàng triệu héc-ta rừng Bạch đàn vô tính.
Trung Quốc cũng là một trong những quốc gia có nhiều thành công trong
lĩnh vực cải thiện giống Bạch đàn. Chỉ tính riêng Công ty Stora Enso ở
miền Nam tỉnh Quảng Tây cũng chọn lọc và lai tạo đƣợc hàng chục dòng
vô tính có năng suất bột giấy cao nhƣ U6, DH201-2, DH32-13, SH1. Nhờ
đó mỗi năm Công ty sản xuất đƣợc khoảng 1 triệu tấn bột giấy các loại (Bai
Jiayu, Xu Jianmin, Gan Siming, 2003).
Keo tai tƣợng có nguồn gốc ở Australia, Papua New Guinea và Indonesia.
Sử dụng Keo tai tƣợng trồng rừng cung cấp gỗ công nghiệp đã đƣợc nhiều
nƣớc thực hiện từ rất sớm và công tác cải thiện giống cũng đƣợc chú trọng
ngay từ đầu.
Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào việc tìm ra những xuất xứ, dòng vô
tính có năng suất, chất lƣợng rừng cao. Điển hình nhƣ ở Công gô, diện tích
rừng trồng Keo bằng cây hom từ 1978-1986 khoảng 23.407ha, ở tuổi 6 của
các dòng vô tính có tăng thu di truyền từ 40%-192%, năng suất bình quân
35m
3
/ha/năm so với 12m
3
/ha/năm của giống chƣa đƣợc cải thiện (Nguyễn
Hoàng Nghĩa, 2003).
Keo tai tƣợng đƣợc đƣa vào Trung Quốc từ những năm 1960, đến năm
1997 đã có khoảng 200.000 ha rừng đƣợc trồng ở các tỉnh phía Nam Trung
Quốc. Dựa vào sinh trƣởng và dạng thân, Trung Quốc đã chọn đƣợc các
xuất xứ có triển vọng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), Oriomo
(PNG). 40 ha rừng giống, vƣờn giống đã đƣợc Trung Quốc xây dựng ở
Quảng Đông và Hải Nam, bao gồm cả vƣờn giống thế hệ 1 và 1,5 (Nguyễn

10

nguyên sản, quả Keo tai tƣợng dài từ 7-8 cm và rộng 3-5 mm, hạt hình elip
dài, vỏ hạt chín màu đen, bóng, có tinh dầu. Vào khoảng cuối những năm
1990, dựa trên các kết quả khảo nghiệm, nhiều khu rừng ở các nƣớc
Malaysia, Philipine, Australia, Papua New Guinea, Indonesia, Việt Nam
đã đƣợc chuyển hóa thành rừng giống lấy hạt (J.W.Turnbull,
H.R.Crompton, K.Pinyopusarerk, 1998).
Tóm lại, hạt giống Keo tai tƣợng phục vụ nghiên cứu cải thiện giống ở các
nƣớc chủ yếu đƣợc thu hái từ các khu rừng tự nhiên và rừng giống (bao
gồm cả rừng giống trồng và chuyển hóa).
Do cây rừng thƣờng có kích thƣớc to lớn hơn cây nông nghiệp, trên một
cây có cả hoa cái và đực, khó kiểm soát việc thụ phấn lấy hạt, nên để duy
trì đƣợc những đặc tính ƣu việt của cây mẹ cho đời sau, ngƣời ta thƣờng sử
dụng chồi bên để lấy hom và mẫu nuôi cấy invitro.
Để khai thác đƣợc chồi cần tiến hành xây dựng vƣờn giống vô tính. Diện
tích vƣờn giống phụ thuộc vào nhu cầu cây giống của các chƣơng trình
trồng rừng vô tính, tỷ lệ hom ra rễ và các điều kiện tự nhiên ở nơi thiết lập.
Nhƣng nhìn chung tỷ lệ diện tích vƣờn giống với diện tích dự kiến trồng
rừng nên là 1/100. Khoảng cách trồng cây trên mỗi luống trong vƣờn giống
vô tính Bạch đàn ở điểm thí nghiệm của ACFTSC ở Thái Lan là 0,5m và
kích thƣớc luống cây cho mỗi dòng là 1,2 x 8 m. Sau 3 tháng, lứa hom đầu
tiên đã đƣợc thu hoạch, 4 lần thu hoạch hom tiếp theo, mỗi lần cách nhau
28 ngày và sau đó mỗi lần cắt hom cách nhau 1 tháng. Tổng cộng cả năm
đã cắt đƣợc 200.000 hom từ vƣờn giống có diện tích 960 m
2
của 10 dòng
Bạch đàn (Somyos Kijkar 1991). Làm cỏ, bón phân, tƣới nƣớc, phun
hormon và thuốc trừ sâu bệnh là những hoạt động chính nhằm thu đƣợc
nhiều hom ở vƣờn giống.

Khi nuôi cấy mô - tế bào thực vật, quá trình hình thành cây con chịu sự chi
phối bởi 2 nhân tố đó là bản chất vật liệu (mẫu) nuôi cấy và môi trƣờng
nuôi cấy (bao gồm môi trƣờng vật lý và hoá học). Trên cơ sở các nghiên
cứu nuôi cấy mô - tế bào với cây Thuốc lá (Nicotina tabacum L) và cây
Thông radiata (Pinus radiata) Thorpe đã rút ra kết luận trong mối quan hệ
tƣơng tác giữa nhân tố bản chất vật liệu và môi trƣờng nuôi cấy, mẫu nuôi
cấy trải qua những thay đổi sinh lý, sinh hoá phức tạp dẫn đến sự hình
thành các cơ quan. Nguyên nhân sâu xa của những hiện tƣợng đó là do tế
bào sống có tính toàn năng. Haberlandt cho rằng đó là bởi mỗi tế bào bất
kỳ của cơ thể sinh vật nào cũng đều mang toàn bộ thông tin di truyền cần
thiết và đầy đủ cho cả loài sinh vật đó. Khi gặp những điều kiện thích hợp,
mỗi tế bào đều có thể phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh.
Vấn đề then chốt khi nuôi cấy mô - tế bào là phải tiến hành hàng loạt thí
nghiệm để xác định đƣợc môi trƣờng (vật lý và hoá học) thuận lợi, phù hợp
với mỗi loại tế bào khác nhau (tế bào của các cơ quan, bộ phận khác nhau
trong cây, của các loài, giống khác nhau ) để chúng thực hiện đƣợc sự
phân hoá tế bào, hình thành cây con hoàn chỉnh trẻ nhƣ cây hạt. Khi áp
dụng công nghệ nhân giống bằng phƣơng pháp nuôi cấy mô tế bào đòi hỏi
cán bộ kỹ thuật phải có trình độ và đủ trang thiết bị, máy móc thí nghiệm
và hơn nữa là những đặc tính sinh vật học rất khác nhau giữa các loài cây,
giữa các cá thể là những rào cản lớn, không dễ vƣợt qua.
Hơn nữa sản xuất cây giống bằng nuôi cấy mô - tế bào chỉ có ý nghĩa khi
sử dụng vật liệu giống đã đƣợc cải thiện di truyền.
So với nhân giống bằng phƣơng pháp nuôi cấy mô - tế bào, cây con đƣợc
sản xuất bằng phƣơng pháp giâm hom vẫn giữ đƣợc các đặc tính di truyền
mong đợi từ cây mẹ và thƣờng có giá thành rẻ hơn. Theo Tewari (1993),
nhân giống bằng hom là một trong những công cụ có hiệu quả nhất cho
13

chọn giống cây rừng. Một số nƣớc có chƣơng trình trồng rừng dòng vô tính

14

Trong nhân giống cây rừng, các loại hom thân, cành, lá, rễ có thể đƣợc sử
dụng. Hom thân và hom cành đƣợc cắt từ một phần của thân cây non, từ
chồi vƣợt hoặc từ cành non của cây. Một số loài nhƣ Luồng
(Dendrocalamus membranaceus), Tre (Bambusa sp) hom giâm có thể là
một đoạn thân, đoạn thân có gốc, đoạn cành hoặc đoạn cành sát thân. Hom
của các loài cây gỗ đều đƣợc lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây
(bao gồm cả chồi vƣợt). Các loại cành giâm thƣờng gặp là cành non, cành
hoá gỗ yếu, cành nửa hoá gỗ và cành hoá gỗ. Một số loài cây có thể dùng rễ
để giâm hom nhƣ Xoan (Melia azedarach), Long não (Cinnamomum
camphora), Acacia dealbata, Acacia melanoxylon v.v (Longman, 1993).
Khi nhân giống bằng giâm hom, ngƣời ta chia các nhân tố ảnh hƣởng đến
khả năng ra rễ của hom giâm thành hai nhóm là nhóm nhân tố nội sinh và
nhóm các nhân tố ngoại sinh. Nhóm nhân tố nội sinh bao gồm đặc điểm di
truyền của loài, của xuất xứ và của cá thể, vai trò của tuổi cây (mẹ), tuổi
cành, vị trí cành, pha phát triển của cành và các chất điều tiết sinh trƣởng.
Nhóm nhân tố ngoại sinh là các loại hoá chất kích thích ra rễ và các nhân tố
hoàn cảnh nhƣ độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ v.v
Không phải tất cả các loài đều có khả năng ra rễ nhƣ nhau khi giâm hom.
Nandan (1970) đã dựa theo khả năng ra rễ chia các loài cây lấy gỗ thành ba
nhóm chính là nhóm (1) dễ ra rễ gồm 29 loài thuộc các chi Ficus sp, Morus
sp, Populus sp, Salix sp v.v ; nhóm (2) khó ra rễ gồm 26 loài thuộc các chi
Malus sp, Prunus sp, Pyrus sp thuộc họ Rosaceae, một số chi khác nhƣ
Aesculus sp, Bauhinia sp, Sapindus sp v.v ; nhóm (3) có khả năng ra rễ
trung bình gồm 65 loài thuộc các chi Eucalyptus sp, Quercus sp, Grewilia
sp, Taxus sp v.v Sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tƣơng đối vì một số loài
đƣợc xếp ở nhóm (2) và (3) vẫn dễ ra rễ nhƣ Gạo (Bombax ceiba), Liễu
sam (Cryptomeria japonia), Vân sam (Picea abies) v.v
15

trở ngại. Vì thế, lấy hạt làm nguồn giống phục vụ cho trồng rừng sản xuất
thƣờng đem lại hiệu quả không cao.
Tuy nhiên, để có đƣợc nền tảng di truyền đa dạng cho các hoạt động cải
thiện giống cây rừng, việc sử dụng hạt giống tạo cây trồng rừng lại là một
giải pháp hết sức quan trọng. Thông qua sinh sản hữu tính, nhờ có sự tái tổ
hợp của các kiểu gen khác nhau giữa bố và mẹ mà mỗi cây con (đƣợc phát
triển từ hạt) chứa đựng những tiềm năng di truyền rất khác nhau, làm cơ sở
phát sinh (xuất hiện) các biến dị di truyền mới cho chọn lọc.
Cũng giống nhƣ các loài cây rừng khác, trƣớc đây việc khai thác và phát
triển nguồn gen các giống Keo và Bạch đàn của các nƣớc trên thế giới chủ
yếu dựa vào các nguồn hạt thu hái từ nơi nguyên sản (châu Đại dƣơng và
một số nƣớc vùng Đông Nam Á). Sau một loạt các khảo nghiệm loài và
xuất xứ, một số quốc gia bắt đầu tiến hành giai đoạn thứ hai bằng cách thu
hái hạt từ những cây trội của những loài, xuất xứ thích hợp nhất để gieo
ƣơm khảo nghiệm hậu thế và đồng thời phục vụ những nhu cầu trồng rừng
trƣớc mắt (A.P.G.Shonau 1991; J.W.Turnbull và cộng sự 1998).
Những năm 1990, các nƣớc nhƣ Brazil, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia,
Úc, Việt Nam bắt đầu xây dựng rừng giống lấy hạt Bạch đàn và Keo
bằng cách chuyển hoá các khu rừng khảo nghiệm. Khoảng năm 1994 -
1995 bắt đầu trồng rừng giống của những loài này, trong đó đáng kể nhất là
chƣơng trình cải thiện giống Bạch đàn (FORTIP) do Úc tài trợ, đã xây
dựng ở một số nƣớc Đông Nam Á các vƣờn giống lấy hạt Bạch đàn trắng,
Bạch đàn urophylla.
Nhƣ vậy có thể thấy rằng, giai đoạn đầu việc khai thác và phát triển nguồn
gen cây Bạch đàn và Keo tai tƣợng bằng nguồn hạt giống đƣợc thực hiện
17

chủ yếu là nhằm đáp ứng các nghiên cứu khảo nghiệm loài, xuất xứ và nhu
cầu trồng rừng trƣớc mắt, sau đó nó đƣợc sử dụng nhằm tạo ra nguồn biến
dị di truyền mới cho các hoạt động nghiên cứu chọn lọc giống.

Giai đoạn 1980-1995, chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ. Tại vùng
Trung tâm Bắc bộ, Keo tai tƣợng đƣợc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
Kỹ thuật Lâm nghiệp Phù Ninh khảo nghiệm ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú
Thọ, Tuyên Quang. Khảo nghiệm năm 1990 ở Hàm Yên (Tuyên Quang),
Phong Châu (Phú Thọ) và Tam Đảo (Vĩnh Phúc) cho thấy Keo tai tƣợng có
lƣợng tăng trƣởng bình quân đạt khoảng 12m
3
/ha/năm (Huỳnh Đức Nhân,
Nguyễn Quang Đức, 1992). Năm 2000, các xuất xứ Pongaki, Iron Range và
Cardwell đã đƣợc công nhận là những giống Tiến bộ kỹ thuật và rừng
giống Keo tai tƣợng ở Hàm Yên đã đƣợc công nhận là rừng giống Quốc
gia. Báo cáo công nhận giống năm 2005 cho thấy ở địa điểm Hàm Yên
(Tuyên Quang) xuất xứ sinh trƣởng có triển vọng là Cardwell, SW Cairns,
Herbert River Valley. Ở địa điểm Phong Châu (Phú Thọ), các xuất xứ
Shelburne, Iron Range thuộc vùng cực Bắc Queensland và các xuất xứ
Dimisisi, Gubam, Pongaki, Cardwell, Herbert River Valley thuộc vùng
giữa Queensland là có triển vọng. Ở điểm Tam Đảo các xuất xứ có triển
vọng là Rex Cassowary, Herbert River Valley.
Giai đoạn 1996 đến nay, các nghiên cứu tập trung vào chọn lọc cây trội,
khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm dòng vô tính, xây dựng rừng giống và
vƣờn giống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status