VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN ĐỊA CHẤT
ĐỀ TÀI NGHỊ ĐỊNH THƯ
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TAI BIẾN
ĐỊA CHẤT VÙNG THỪA THIÊN HUẾ
BẰNG TÍCH HỢP PHƯƠNG PHÁP
VIỄN THÁM VÀ HỆ THỐNG THÔNG
TIN ĐỊA LÝ 7326
29/4/2009
HÀ NỘI 2008 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
CHƯƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, ĐỊA CHẤT VÀ ĐỊA MẠO
6
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
6
1.2. KHÍ HẬU
7
1.3. BÃO
13
1.4. THỦY VĂN
18
1.5. HẢI VĂN
21
1.6. ĐỊA MẠO
24
1.7. ĐỊA CHẤT
45
125
CHƯƠNG 4
NGHIÊN CỨU XÓI LỞ - BỒI TỤ BỜ BIỂN THỪA THIÊN - HUẾ
139
4.1. ĐOẠN TỪ ĐIỀN HƯƠNG ĐẾN CỬA THUẬN AN
139
4.2. KHU VỰC CỬA THUẬN AN
141
4.3. ĐOẠN TỪ CỬA THUẬN AN ĐẾN CỬA TƯ HIỀN
151
4.4. KHU VỰC CỬA TƯ HIỀN
152
4.5. ĐƯỜNG BỜ KHU VỰC VỤNG CHÂN MÂY
156
4.6. ĐƯỜNG BỜ KHU VỰC LĂNG CÔ 159
4.7. NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ KHU VỰC THỪA
THIÊN - HUẾ
161
CHƯƠNG 5
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG TRƯỢT ĐẤT KHU VỰC THỪA THIÊN HUẾ
168
5.1. HIỆN TRẠNG TRƯỢT ĐẤT Ở THỪA THIÊN HUẾ
169
5.2. VAI TRÒ ĐỊA HÌNH ĐỐI VỚI TRƯỢT ĐẤT
180
6.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LŨ QUÉT VÀ LŨ BÙN ĐÁ
218
6.4 PHÂN VÙNG TAI BIẾN LŨ QUÉT – LŨ BÙN ĐÁ
221
6.5 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU 222
CHƯƠNG 7
ĐÁNH GIÁ NGUY HIỂM ĐỘNG ĐẤT CHO CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN
225
7.1 TÓM LƯỢC VỀ CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN HƯƠNG ĐIỀN
225
7.2 XÁC ĐỊNH ĐỨT GÃY HOẠT ĐỘNG
232
7.3 ĐÁNH GIÁ ĐỘNG ĐẤT CỰC ĐẠI BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẤT
ĐỊNH
247
7.4 ĐÁNH GIÁ GIA TỐC RUNG CỰC ĐẠI
252
7.5 ĐÁNH GIÁ PHỔ GIA TỐC
260
7.6 MÔ HÌNH HOÁ QUÁ TRÌNH BIẾN DẠNG VÀ BIẾN ĐỔI ỨNG
SUẤT COULOMB KHI XẢY RA ĐỘNG ĐẤT CỰC ĐẠI
262
CHƯƠNG 8
ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP TAI BIẾN ĐỊA CHẤT KHU VỰC THỪA THIÊN
HUẾ
270
8.1 NGUYÊN TẮC ĐÁNH GIÁ
270
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TAI BIẾN ĐỊA
CHẤT VÙNG THỪA THIÊN HUẾ BẰNG
TÍCH HỢP PHƯƠNG PHÁP VIỄN THÁM
VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TRẦN TRỌNG HUỆ HÀ NỘI 2008
2
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
TS. Trần Trọng Huệ, Chủ nhiệm đề tài, phụ trách chung
PGS.TS. Phan Trọng Trịnh, đồng chủ nhiệm đề tài, phụ trách ứng dụng viễn
thám và GIS trong nghiên cứu động đất. Mô hình biến đổi ứng suất Coulomb,
xây dựng bản đồ tai biến địa chất. 3
MỞ ĐẦU
Thừa - Thiên – Huế là một trung tâm văn hoá quan trọng của đất nước với di
sản văn hoá thế giới. Tuy nhiên, nơi đây thường xuyên xảy ra các dạng tai biến địa
chất như lũ lụt, trượt lở đất, xói lở bờ biển, động đất. Đã có một số công trình
nghiên cứu dự báo thiên tai trong vùng nhưng vấn đề địa động lực hiện đại ch
ưa
được quan tâm đúng mức. Chuyển động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại là nguyên
nhân sâu xa của nhiều dạng tai biến khác nhau. Nghiên cứu tai biến địa chất có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn. Về mặt khoa học, nghiên cứu mối tương tác giữa
hoạt động tân kiến tạo với các dạng tai biến khác như động đất, sụt đất, trượt lở đất,
lũ quét giúp hiểu rõ vai trò hoạt động của các đới đứt gãy. Về mặt thực tiễn, các kết
quả nghiên cứu từng loại tai biến địa chất riêng biệt cũng như đánh giá tổng hợp sẽ
cho phép dự báo các loại tai biến địa chất trong khu vực Thừa thiên Huế, từ đó có
các biện pháp giảm thiểu thiệt hại gây ra trong tương lai. Hiện nay, có nhiều
phương pháp cho phép nghiên cứu tai biến địa chất trong đó có các ph
ương pháp
viễn thám và hệ thống thông tin địa lý.
Công nghệ phân tích viễn thám có những bước tiến nhảy vọt trong những
năm gần đây và trở thành một công cụ hữu hiệu giúp quan sát môi trường trái đất.
Các nước khoa học phát triển đều đầu tư nghiên cứu viễn thám. Độ phân giải không
gian và phổ của cho phép người ta có thể phát hiện nhiều vấn đề mà ảnh thông
thường không thể phát hiện được. Nhiều thế
hệ ảnh đa phổ với độ phân giải khác
nhau như Landsat, Spot, Ir, Ikonos, Aster cho phép quan sát trái đất. Cùng với ảnh
quang học, ảnh radar như Jers1, Ers1, Ers2, Radasat và gần đây nhất là Envisat và
phát triển trong thời gian gần đây. Nghiên cứu tai biến địa chất trong vùng có thể kế
thừa những khảo sát hiện trạng về các dạng tai biến khác như trượt lở đất, lũ, xói lở
ven biển ở các nghiên cứu trước đây.
Đề tài có áp dụng một số công nghệ viễn thám mới ra đời trong thời gian gần
đây như: công nghệ giao thoa
ảnh Radar, công nghệ phối trộn ảnh (fusion) và kết
hợp với đo GPS chính xác cao nhằm nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu đới
bờ bằng viễn thám.
Đề tài được lựa chọn với những mục tiêu sau:
- Làm sáng tỏ hoạt động của các tai biến địa chất chính ở khu vực Thừa
Thiên Huế như lũ lụt, trượt đất, động đất và xói lở bờ biển bằng tích hợp phươ
ng
pháp viễn thám và GIS, đề xuất các biện pháp phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại
do tai biến địa chất gây ra.
- Phát triển ứng dụng một số công nghệ mũi nhọn trong viễn thám và hệ
thống thông tin địa lý như công nghệ phối trộn (fusion) các số liệu có độ phân giải
khác nhau, giao thoa ảnh radar cũng như tăng cao độ chính xác của GIS nhờ việc xử
dụng công nghệ GPS , mô phỏng trên GIS
- Thông qua hợp tác quốc tế, xây dự
ng tiềm lực của đội ngũ nghiên cứu, có
thể ứng dụng những công nghệ mới nhất trong phân tích viễn thám và hệ thống
thông tin địa lý trong việc nghiên cứu tai biến địa chất.
Sau quá trình thực hiện, đề tài đã hoàn thành một số công việc chính sau đây:
- Đã nắm chắc qui trình và sử dụng thuần thục công nghệ phối trộn ảnh đa
phổ với ảnh đen trắng phân giả
i cao, giữa ảnh radar với ảnh máy bay.
- Đã nắm vững qui trình công nghệ giao thoa ảnh vệ tinh radar để tạo ảnh
liên kết (coherence) và tạo mô hình số địa hình. Hai qui trình công nghệ trên phục
vụ phân vùng chi tiết trong việc đánh giá và dự báo ngập lụt.
- Đã sử dụng thành thục công nghệ phân tích ảnh vệ tinh và hệ thống GIS
6
CHƯƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, ĐỊA CHẤT VÀ ĐỊA MẠO
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam, có toạ
độ địa lý 16° - 16,80° vĩ bắc và 107,8° - 108,20° kinh đông, phía bắc giáp tỉnh
Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, phía tây giáp
nước CHDCND Lào và phía đông được giới hạn bởi Biển Đông. Diện tích tự nhiên
5.053,99 km
2
, dân số trung bình năm 2003 ước là 1.105,5 nghìn người, chiếm 1,5%
về diện tích và 1,5% về dân số so với cả nước. Về tổ chức hành chính, Thừa Thiên
Huế có 8 huyện và Thành phố Huế với 150 xã, phường, thị trấn.
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên - Huế
sang đông đã gây ra sự giảm dần nhiệt độ không khí từ đông sang tây, gia tăng
lượng mưa từ đông sang tây và từ bắc xuống nam, gây ra mưa lớn vào mùa
đông,
thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc và khô nóng vào mùa hè, thời kỳ hoạt
động của gió Tây Nam.
Dựa vào quan hệ khí hậu và địa hình, khí hậu ở Thừa Thiên - Huế có thể chia
thành 7 tiểu vùng (Hình 1.2):
− Tiểu vùng khí hậu đồng bằng, gò đồi thấp Phú Vang - Phú Lộc
− Tiểu vùng khí hậu đồi núi Nam Đông
− Tiểu vùng khí hậu Bạch Mã - Hải Vân
− Tiểu vùng khí hậu đồng bằng, gò đồi th
ấp Phong Điền - Hương Thủy
− Tiểu vùng khí hậu đồi núi Phong Điền - Hương Thủy
− Tiểu vùng khí hậu Động Ngãi
− Tiểu vùng khí hậu miền núi A Lưới
Hình 1.2. Sơ đồ phân vùng khí hậu tỉnh Thừa Thiên - Huế
8
Để đánh giá chế độ nhiệt ẩm ở Thừa Thiên - Huế, các biểu đồ mưa nhiệt đã
được dựng lên dựa trên chuỗi số liệu quan trắc nhiệt độ và mưa trung bình tháng
của ba trạm: Huế - đại diện cho vùng đồng bằng (Hình 1.3), Nam Đông - đại diện
cho vùng đồi (Hình 1.4) và A Lưới - đại diện cho vùng núi (Hình 1.5). Các chuỗi số
liệu đều kéo dài trên 25 năm, đặc biệt là chuỗi số liệ
u phân tích cho trạm Huế kéo
dài tới 66 năm đối với nhiệt độ và 71 năm đối với lượng mưa. Các biểu đồ này được
thành lập theo phương pháp của walter Heinrich và Lieth Helmut, 1967. Trên mỗi
biểu đồ được thể hiện tên trạm quan trắc, tọa độ địa lý, độ cao của trạm, số năm
quan trắc nhiệt độ (số bên trái trong ngoặc vuông dưới bên dưới tên trạm), số năm
quan trắc mưa (số
t độ ngày tính trung bình năm
khoảng 7°C - 9°C (Nguyễn Khanh Vân và nnk, 2000). Thời kỳ nóng nhất vào
khoảng từ tháng V đến tháng VIII, trong đó tháng VI và VII có nhiệt độ trung bình
lên tới 28°C - 29°C ở gò đồi và đồng bằng ven biển (trạm Nam Đông và Huế),
khoảng 25°C ở vùng núi (trạm A Lưới). Nhiệt độ tối cao tuyệt đối có thể lên tới
41°C. Từ tháng XI đến tháng II là thời kỳ lạnh nhất, tuy nhiên ở vùng đồi và đồng
10
bằng nhiệt độ trung bình nhiều năm của các tháng này cũng đều trên 20°C, ở vùng
núi nhiệt độ có thể xuống thấp tới khoảng 17,5°C. Nhiệt độ tối thấp ở vùng đồng
bằng xuống tới 8°C - 9°C và ở vùng núi thậm chí còn xuống tới 4°C.
Tổng lượng bức xạ có xu thế tăng dần về phía nam, giá trị thực tế ở Huế đạt
tới 124,8 kcal/cm
2
(Bảng 1.1). Lượng bức xạ thường đạt giá trị cao trên 12 kcal/cm
2
vào những tháng mùa hè, từ tháng IV đến tháng VII. Các tháng mùa đông giá trị
này chỉ đạt 6 - 8 kcal/cm
2
.
Bảng 1.1. Đặc trưng bức xạ và số giờ nắng tại trạm Huế
(Thời gian: 1956 - 2000)
Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Năm
Bức xạ
(kcal/cm
2
5 Lăng Cô 1978 - 1994 2287
6 Cổ Bi 1979-88, 1996-2002 3359
7 Điền Hải 1960-62, 1965-69 2086
11
Lượng mưa có xu thế tăng dần từ vùng ven biển đến vùng núi, nơi có những
tâm mưa thuộc loại lớn nhất Việt Nam như A Lưới, Nam Đông, Bạch Mã – Phú
Lộc với lượng mưa trung bình năm trên 3400mm.
Do tính phân mùa của khí hậu nên lượng mưa này không phân bố đều trong năm,
vào mùa mưa lượng mưa có thể tập trung với cường độ lớn. Theo thống kê của
Tổng cục Khí tượng Thủ
y văn, số ngày mưa trong các tháng chiếm tới 1/3 đến 2/3
tổng số thời gian của tháng, đặc biệt là tháng X và XII, thời gian mưa chiếm tới 70
– 80% (Hình 1.6). Đây cũng là tháng có tổng lượng mưa đạt tới 700 - 800mm
Hình 1.6. Số ngày mưa và lượng mưa theo tháng tại trạm Huế
Biến trình mưa trong năm có: hai cực đại vào tháng V hoặc VI và vào tháng
X; và có hai cực tiểu vào tháng II hoặc III và vào tháng VII (Hình 1.3, Hình 1.4,
Hình 1.5). Từ tháng VIII đến tháng XII là thời kỳ mưa nhiều ở tất cả các trạm với
lượng mưa trung bình tháng đều vượt trên 100 mm, đây cũng là thời kỳ lượng mưa
chiếm 70% - 80% tổng lượng cả năm. Tháng X là tháng mưa nhiều nhất với lượ
ng
mưa trung bình nhiều năm đạt tới 763 mm - 1035 mm tùy theo từng trạm. Tuy
nhiên lượng mưa cực đại tháng ghi được lại rơi vào tháng XI/1999 với lượng mưa
đo được tại Huế - 2398mm, tại Nam Đông - 2183mm và tại A Lưới - 2590mm.
Tổng lượng mưa cực đại quan trắc được trong vòng 6 ngày, từ ngày 1 ÷
6/XI/1999 tại Huế đạt tới 2288mm. Đặc biệt tại thành phố Huế chỉ trong 24 giờ
từ 7 giờ ngày 2 đế
n 7 giờ ngày 3/XI/1999 lượng mưa đã đạt tới 1384mm, một kỷ
lục hiếm thấy về lượng mưa lớn nhất trong một ngày trên thế giới (Trần Thanh
của gió mùa đông bắc về mùa đông (từ tháng X tới tháng III năm sau) và gió mùa
tây nam về mùa hè.
Tốc độ gió trung bình nhi
ều năm không cao, dao động trong khoảng 1,7 m/s
đến 3,1m/s (Hình 1.7). Ảnh hưởng của địa hình dải Trường Sơn ở phía tây với dãy
núi Bạch Mã - Hải Vân đâm ngang ra biển ở phía nam, không những tới hướng gió
mà còn tới cả tốc độ. Xu thế chung, có thể thấy, tốc độ gió đến từ phía bắc lớn hơn
gió đến từ phía nam và gió đến từ phía đông lớn hơn đến từ phía tây. Tốc độ gió lớn
nhấ
t có thể đạt tới 38 m/s theo hướng BTB, tốc độ gió lớn nhất ở tất cả các hướng
đều đạt trên 14 m/s (Bảng 1.4).
Hình 1.7. Tốc độ gió trung bình năm tại trạm Huế qua số liệu quan trắc 1956 –
2000
(Dựa theo số liệu của Nguyễn Hữu Cử, 2006)
13
Bảng 1.4. Tốc độ gió lớn nhất (m/s) theo các hướng tại trạm Huế
theo số liệu qua trắc 1956 - 2000
Tháng
Gió
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Năm
Hướng BTB B ĐB TTN B TN TTN TTB BTB T B B BTB
Tốc độ 16 14 20 30 20 17 23 19 38 28 21 19 38
Nguồn: Nguyễn Hữu Cử, 2006
Tần suất lặng gió ở khu vực Huế tương đối cao, trong khoảng 32,5% (tháng
III) - 41,6% (tháng IX). Từ tháng XI đến tháng IV hướng gió tây bắc là chủ đạo với
tần suất thay đổi từ 16% đến 29%, tốc độ khoảng từ 2m/s đến 2,5m/s. Các tháng
mùa hè (VI, VII, VIII) có gió nam thịnh hành với tần suất 12,7% - 16%, tốc độ
− Áp thấp nhiệt đới: XTNĐ có Vmax cấp 6-7 (39-61km/h), có thể có gió giật;
− Bão thườ
ng: XTNĐ có Vmax cấp 8-9 (62-88km/h), có thể có gió giật;
− Bão mạnh: XTNĐ có Vmax cấp 10-11 (89-117km/h), có thể có gió giật;
− Bão rất mạnh: XTNĐ có Vmax cấp 12 trở lên (=>118km/h), có thể có gió giật.
Việt Nam ở gần một trong năm ổ bão chính của thế giới - ổ bão tây Thái
Bình Dương. Bão đổ bộ vào Việt Nam, một phần phát sinh từ tây Thái Bình Dương
vượt qua quãng đường rất dài và trong nhiều ngày đến Việt Nam, phần khác phát
sinh ở ngay trên biển Đông. Theo thống kê trong kho
ảng 40 năm, từ 1956 đến 1995
đã có khoảng 262 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, năm nhiều nhất có 12 cơn, song
cũng có những năm không có bão, tính trung bình khoảng 6,55 cơn/năm (Nguyễn
Thế Tưởng và nnk, 2000) (Hình 1.9).
Ở Thừa Thiên - Huế bão xuất hiện trong khoảng thời gian từ tháng V đến
tháng XI song chủ yếu tập trung vào tháng VIII, IX và X (Hình 1.10). Theo thống
kê của Nguyễn Hữu Cử (2006), trong thời gian 1884 - 2000, có 98 cơn bão đổ bộ
vào vùng bờ biển Bình - Trị - Thiên, trong đ
ó có trên 80% số bão xảy ra vào khoảng
tháng VIII - X. Tốc độ gió bão trung bình 15 – 20 m/s, lớn nhất đạt 38 m/s (cấp 13)
trong cơn bão Tilda ngày 22/IX/1964. Tuy số lượng bão không nhiều nhưng gây
thiệt hại nặng nề do kèm theo nước dâng, mưa lớn dài ngày trên diện rộng, sinh lũ
và gây ngập lụt đồng bằng ven biển.
0
2
4
6
8
10
12
1956
Theo tài liệu của Ban chỉ huy Phòng chống Lụt bão và Tìm kiếm Cứu nạn
tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong khoảng thời gian từ 1961 - 2004, có tới trên 40 trận
bão từ cấp 6 đến cấp 13 đổ bộ vào khu vực ven biển từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tỉnh Thừa Thiên Huế (Hình 1.11).
Theo thống kê không đầy đủ, trong khoảng thời gian từ 1957 đến 2007 có
khoảng 74 trận bão đổ
bộ hoặc có ảnh hưởng đến Thừa Thiên Huế, tính trung bình
1,5 trận/năm (Bảng 1.5). 16
Hình 1.11. Các cơn bão đổ bộ vào Quảng Trị - Quảng Ngãi (1961 - 2004)
(Nguồn: Ban chỉ huy Phòng chống Lụt bão và Tìm kiếm Cứu nạn tỉnh Thừa Thiên - Huế)
17
Bảng 1.5. Thống kê một số trận bão và áp thấp nhiệt đới và năm xuất hiện có
ảnh hưởng tới Thừa Thiên - Huế giai đoạn 1957 - 2006
1. Irma_1957
2. Tilda_1964
3. Violet_1964
4. Anita_1964
5. Billie_1964
6. Clara_1964
7. Georgia_1964
38. Andy _1985
39. Áp thấp nhiệt đới_1985
40. Áp thấp nhiệt đới_1985
41. Cecil _1985
42. Dom_
43. Dot_1986
44. Georgia_1986
45. Áp thấp nhiệt đới_
46. Betty_1987
47. Noname_1988
48. Áp thấp nhiệt đớ
i_
49. Cecil_1989
50. Brian_1989
51. Dan_1989
52. Ensie_1989
53. Becky_1990
54. Ira_1990
55. Mike_1990
56. Chuck_1992
57. Angela_1992
58. Colleen_1992
59. Kyle_1993
60. Lola_1993
61. Zack_1995
62. Willie_1996
63. Faith_1998
64. Eve_1999
65. Usagi_2001
66. Lingling_2001
lưu vực của 4 sông lớn (không kể sông Cầu Hai) vào khoảng 3 978 km
2
(Bảng 1.6).
Lưu lượng bình quân các sông trong khoảng 2,7 - 50,3 m
3
/s với tổng lượng nước
hàng năm hơn nửa tỷ mét khối đổ vào đầm phá, mang theo hơn nửa triệu tấn bàn cát
(Bảng 1.6) (Nguyễn Hữu Cử, 2006).
Đồng bằng Huế chịu sự ảnh hưởng chủ yếu bởi hệ thống sông Hương gồm
hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn ở
độ cao 900 m. Lư
u vực sông Hương có tổng diện tích là 2830 km
2
với mật độ sông
suối đạt 0,6 km/km
2
. Sông Hương đổ vào hai đầm phá rộng Tam Giang và Phú
Vang thông với biển qua cửa Thuận An. Gần tới biển sông Hương nhận thêm nước
từ một phụ lưu quan trọng là sông Bồ từ núi Động Ngàn đi xuống qua Cổ Bi, Quảng
Điền. Sông Hương chia nước duy nhất qua con sông Đại Giang chảy vào Vụng Cầu
Hai thông với biển bởi cửa Tư Hiền ở phía nam. Tổng lượng dòng chảy năm của
sông Hương
đạt 6,2 tỷ m
3
, trong đó dòng chảy mặt là 5,18 tỷ m
3
, còn dòng ngầm là
1,02 tỷ m
3
.
19
Bảng 1.7. Đặc trưng dòng chảy các sông đổ vào hệ đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai
Lượng bùn cát (tấn/năm)
Sông
Module
dòng chảy
(l/s.km
2
)
Lưu lượng
bình quân
(m
3
/s)
Tổng lượng
nước
(10
9
m
3
/năm)
Lơ lửng Di đáy Tổng
Tả
Trạch
70,2 50,3 1,580 158445 31689 190134
Hữu
Trạch
Sông Tả Trạch
Sông Hữu Trạch
Sông Bồ
Sông Ô Lâu
Sông Nông
Hình 1.12. Lưu lượng bình quân tháng các sông đổ vào đầm phá Tam Giang -
Cầu Hai
(dựa theo số liệu của Nguyễn Hữu Cử, 2006)
20
Bảng 1.8.
Cá
Mực nước (m) Tình trạng lũ
Báo động
Cấp I
0,5
Có khả năng xảy ra lũ - Nước sông dâng cao; đe doạ phần
bờ cao; gây ngập ở các vùng đất rất thấp
Báo động
Cấp II
1,5
Tình trạng lũ nguy hiểm - Lũ gây ngập tại những vùng bằng
phẳng; trừ những thị trấn và thành phố được bảo vệ trước sự
tấn công của nước lũ; dòng chảy trong sông với vận tốc lớn
gây nguy hiểm cho bờ sông và làm xói lở đê; chân cầu có
nguy cơ bị nguy hiểm do bị xói lở
Độ cao
(cm)
Biên độ
lũ (cm)
Cấp báo
động (m)
Thượng
Nhật
13h 21/X/1996 5813 07h 23/X/1996 6364 551
Huế 01h 22/X/1996 76 19h 23/X/1996 455 379 > III (1.55)
Thượng
Nhật
07h 01/XI/1999 5802 09h 02/XI/1999 6144 342
Huế 01h 01/XI/1999 38 14h 02/XI/1999 594 556 > III (2.94)
Huế
23h
03/XII/1999 373 373 > III (0.73)
Hương
Huế 01h 08/X/2000 -1 22h 10/X/2000 363 364 > III (63)
Phú Ốc 19h 21/X/1996 96 21h 23/X/1996 464 368 > III (0.14)
Phú Ốc 01h 19/XI/1998 155 08h 22/XI/1998 479 324 > III (0.29)
Phú Ốc 07h 01/XI/1999 111 15h 2/XI/1999 518 407 > III (0.68)
Bồ
Phú Ốc 07h 08/X/2000 10 24h 11/X/2000 387 377 > II (37)
(Nguồn: Tổng cục Khí tượng Thủy văn)
Điển hình nhất là trận lũ lịch sử cuối năm 1999. Đỉnh lũ cao nhất trong trận
lũ tháng XI đo được tại Huế đạt tới 5,94m cao hơn đỉnh lũ lớn nhất năm 1983 và
cao hơn mức báo động cấp 3 là 2,94m. Chỉ riêng trong ngày 2/XI đã có những lúc
lũ lên nhanh với cường suất tới 1m/giờ, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng.