TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003-2013 - Pdf 13

5
Mục lục
5
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003-2013
Chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách kinh tế, được sử dụng như một công cụ
hữu hiệu nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả. Để duy trì một mức tỷ giá cố định hay
tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết, thì cần phải có một chế độ tỷ giá và
hệ thống can thiệp thích hợp.
Bài tiểu luận này sẽ nói về tác động của chính sách tỷ giá đến lạm phát trong giai đoạn
2003 – 2013 thông qua các kênh dẫn truyền, đồng thời đưa ra một số kiến nghị cho điều
hành tỷ giá trong thời gian tới nhằm kiểm soát tốt lạm phát.
1. Các kênh tác động của chính sách tỷ giá tới lạm phát
Hình 1: Các kênh tác động từ tỷ giá tới lạm phát
Qua sơ đồ, tỷ giá tác động gián tiếp đến lạm phát chủ yếu thông qua các con đường
như xuất khẩu ròng, cán cân thanh toán, giá hàng hóa nhập khẩu và đây đều là các mối
quan hệ đồng biến (khi tỷ giá USD/VND tăng thì cán cân thương mại, cán cân thanh toán
và giá hàng tiêu dùng nhập khẩu đều tăng làm lạm phát gia tăng).
Kênh thứ nhất: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua xuất nhập khẩu ròng đó là khi
đồng nội tệ giảm giá so với đồng tiền nước ngoài, xuất khẩu ròng tăng lên, cán cân
thương mại có thể được cải thiện; do xuất khẩu ròng là một thành phần của tổng cầu AD,
nên khi xuất khẩu ròng tăng, đường AD dịch chuyển lên trên (trong mô hình AD-AS), tác
động làm lạm phát gia tăng.
Kênh thứ hai: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán. Cơ chế truyền
dẫn này trải qua hai giai đoạn:
Tỷ giá danh nghĩa
Xuất khẩu ròng (NX)
Cán cân thanh toán
Mức cung tiền (M2)
Tổng cầu (AD)
Lạm phát

Kênh thứ tư: Tác động của lạm phát kỳ vọng. Lãi suất huy động của đồng nội tệ có
thể đại diện cho sự kỳ vọng về lạm phát do cơ sở để xác định lãi suất huy động là kỳ
vọng trung bình của nhà đầu tư về lạm phát và lãi suất thực dương. Việc điều chỉnh tỷ giá
liên tục của NHTW có thể khiến cho lãi suất huy động đồng nội tệ tăng cao. Điều này sẽ
làm giảm lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư khi có sự kỳ vọng về giảm giá đồng nội tệ
trong tương lai, gây ra vòng xoáy “lạm phát-tỷ giá”.
2. Các yếu tố ảnh hưởng tới các kênh tác động từ tỷ giá tới lạm phát
Thứ nhất, cơ chế điều hành lãi suất: Nếu lãi suất do nhà nước ấn định hoặc chịu sự
can thiệp mang tính chất hành chính sẽ không phản ánh đúng bản chất của lãi suất là giá
cả của quyền sử dụng vốn trên thị trường. Như vậy, xem xét kênh dẫn truyền thứ hai, khi
đường IS dịch chuyển làm lãi suất tăng lên trong ngắn hạn, nhưng NHTW lại ấn định lãi
5
suất (không làm thay đổi mức lãi suất trên thị trường) nên không thể thu hút các dòng
vốn nước ngoài đổ vào trong nước, như vậy sẽ không cải thiện được cán cân vốn và từ
đó, không cải thiện được cán cân tổng thể.
Thứ hai, mức độ di chuyển vốn quốc tế thể hiện khả năng thay thế cho nhau giữa tài
sản trong nước và tài sản nước ngoài. Mức độ di chuyển vốn hoàn hảo khi tài sản trong
nước và tài sản nước ngoài có thể hoàn toàn thay thế cho nhau với chi phí thấp và
nhanh chóng. Mức độ di chuyển vốn không hoàn hảo khi có những rào cản về di
chuyển vốn như những quy định pháp luật, chi phí di chuyển vốn cao, thời gian thực hiện
di chuyển vốn chậm.
Thứ ba, mức độ nhạy cảm của xuất nhập khẩu với tỷ giá. Độ nhạy cảm này thể hiện ở
hệ số co giãn xuất, nhập khẩu với tỷ giá. Các nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng Afred
Marshall (1842- 1924) và Abba Lerner (1903- 1982) đã chứng minh rằng, việc giảm giá
đồng nội tệ chỉ có tác dụng cải thiện cán cân thương mại của một nước nếu nền kinh tế
của nước đó thỏa mãn điều kiện ( ŋ
X
+ ŋ
M
> 1

Hình 2: Biểu đồ thể hiện tỷ giá và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2003-2013.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ số liệu của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.
Trong giai đoạn 2006 tới 2008 lạm phát tăng nhanh trở lại. Lí giải cho điều này do
nhiều nguyên nhân, nhiều nhất là từ phía cung. Trong đó gồm có: sự gia tăng giá cả hàng
hóa nhập khẩu, chính sách quản lý lỏng lẻo và chính sách tỷ gía cứng ngắt và do tác động
suy thoái từ các nền kinh tế bên ngoài. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2008, tính bình
quân, chỉ số giá tiêu dùng tăng 23,07% so với năm 2007. Tất cả 10 nhóm mặt hàng trong
rổ hàng hoá đều tăng giá, trong đó nhóm văn hoá giải trí tăng giá thấp nhất, chỉ 3,5%;
lương thực tăng cao nhất, tới 46,98%. Đặc biệt, chỉ duy nhất dịch vụ bưu chính viễn
thông là nhóm nhỏ có sự giảm giá, với mức giảm tới 11,23% so với bình quân năm 2007.
Theo đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2008 giảm 0.68% so với tháng 11, và cả
năm CPI tăng 19,89% so với tháng 12/2007.
Trong năm 2009 lạm phát đã giảm xuống chỉ còn 6,52% khác với dự kiến ban đầu khi
chính phủ sủ dụng gói kích cầu, tín dụng và tăng cung tiền những tưởng sẽ làm cho lạm
phát tăng cao nhưng mọi việc đã đi ngược lại.
Tới năm 2010, lạm phát lại tăng gần gấp đôi đạt 11,75% còn nếu tính từng tháng thì
lạm phát năm 2010 tăng 9,19% so với năm 2009.
Bước sang năm 2011, lạm phát đã liên tục gia tăng trong nửa đầu năm, gây nguy cơ
mất ổn định kinh tế vĩ mô. Tháng 8/2011, tỷ lệ lạm phát so cùng kì năm trước đã lên tới
23%, cao hơn hẳn mức lạm phát 19,89% của năm 2008. Trước tình hình trên, Chính phủ
đã có Nghị quyết số 11/NQ-CP (ngày 24/02/2011), đề ra 6 nhóm giải pháp nhằm ổn định
kinh tế vĩ mô, trong đó tập trung vào kiềm chế lạm phát. Nhờ thực hiện quyết liệt những
giải pháp trên, tình hình lạm phát đã được cải thiện trong cuối quý 3/2011 khi tốc độ tăng
CPI hàng tháng bắt đầu giảm từ tháng 8/2011 và duy trì ở mức dưới 1% cho đến cuối
năm. Sang tháng 1/2012, mặc dù là tháng Tết, chỉ số giá CPI cũng chỉ tăng 1% so với
5
tháng trước. Nếu loại trừ nhóm lương thực thực phẩm, CPI tháng 1/2012 chỉ tăng là
0,99% so với tháng trước (thấp hơn mức 1,31% của tháng 1/2011). Nếu so với mức lạm
phát của tháng 11/2011 của các nước được thống kê bởi Tradingeconomics, tỷ lệ lạm
phát của Việt Nam chỉ đứng sau Kenya và Venezuela là hai nước có tỷ lệ lạm phát là

Nhìn vào diễn biến của tỷ giá danh nghĩa từ năm 1992 đến 2010 (Hình 1) có thể thấy
tỷ giá chính thức VND/USD có xu hướng đi theo một chu kỳ rõ rệt gồm hai giai đoạn: (i)
trong giai đoạn suy thoái kinh tế hoặc khủng hoảng, VND mất giá khá mạnh; và (ii) khi
giai đoạn suy thoái kết thúc, nền kinh tế đi vào ổn định thì tỷ giá lại được neo giữ tương
đối cứng nhắc theo đồng USD. Chu kỳ này đã được lặp lại hơn hai lần từ năm 1989 đến
nay.
5
Hình 3: Tỷ giá danh nghĩa VND/USD ở Việt Nam giai đoạn 1992-2013.
Tác giả tổng hợp từ số liệu từ website Vietstock.
Giai đoạn 1 của chu kỳ tương ứng với giai đoạn nền kinh tế có sự biến động mạnh:
2008-2011 với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nỗ lực bình ổn kinh tế vĩ mô. Gắn
liền với những giai đoạn biến động mạnh này là sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá chính thức
và tỷ giá thị trường tự do. Sức ép của thị trường đã buộc NHNN phải nới rộng biên độ tỷ
giá hoặc chính thức phá giá, làm cho VND mất giá mạnh mẽ so với thời điểm trước đó.
Giai đoạn 2 của chu kỳ tương ứng với các thời kỳ nền kinh tế đi vào phát triển ổn
định như giai đoạn 2001-2007. Gắn liền với các giai đoạn này là một cơ chế tỷ giá neo
giữ theo đồng USD một cách tương đối cứng nhắc. Đây cũng là các giai đoạn mà tỷ giá
trên thị trường tự do cũng ổn định và theo sát với tỷ giá chính thức. Nguyên nhân là do
giai đoạn trước đó tỷ giá chính thức đã được tăng liên tục và đến cuối giai đoạn đã ngang
bằng với tỷ giá thị trường tự do.
Giai đoạn 2003 – 2007:
Gắn liền với các giai đoạn này là một cơ chế tỷ giá neo giữ theo đồng USD một cách
tương đối cứng nhắc. Đây cũng là các giai đoạn mà tỷ giá trên thị trường tự do cũng ổn
định và theo sát với tỷ giá chính thức. Nguyên nhân là do giai đoạn trước đó tỷ giá chính
thức đã được tăng liên tục và đến cuối giai đoạn đã ngang bằng với tỷ giá thị trường tự
do.
Giai đoạn 2008-2009
Giai đoạn 2008-2009 đánh dấu sự biến động trong các phản ứng chính sách tỷ giá ở
Việt Nam. Từ năm 2007, do sự gia tăng ồ ạt của luồng tiền FII vào Việt Nam, nguồn
cung USD đã tăng mạnh. Trên thực tế vào nửa đầu năm 2007 và từ tháng 10/2007 đến

ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho
vay ngoại tệ, chấm dứt việc giao dịch vàng trên các tài khoản ở nước ngoài của các
NHTM và các tổchức tín dụng, đóng cửa các sàn vàng và tăng lãi suất cơ bản lên
8%/năm.
Và từ đầu tháng 7/2010, tỷ giá thị trường tự do lại bắt đầu tăng lên dù lúc đầu chỉ tăng
chậm. Những xu hướng này phản ánh kỳ vọng của thị trường ngoại hối về sự phá giá của
VND.
Vào ngày 17/8/2010, NHNN đã đột ngột tăng tỷ giá thêm 2,1% lên 18.932 VND/USD
mặc dù lúc đó áp lực thị trường vẫn chưa rõ ràng vàkhoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự
do và tỷ giá chính thức vẫn đang ở mức thấp khoảng 500 VND/USD.
Trong những tháng cuối năm 2011, thị trường ngoại hối chứng kiến sự tăng lên nhanh
chóng của cầu về ngoại tệ, Thêm vào đó, cung ngoại tệ giảm sút do các doanh nghiệp
không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng khi họ lo lắng về khả năng NHNN sẽ tiếp tục
phải phá giá VND. Kết quả của sự dư cầu ngoại tệ là tỷ giá thị trường tự do bắt đầu tăng
từ tháng 9/2010 lên 20.500 VND/USD vào giữa tháng 10 và lên đến mức kỷ lục là trên
21.500 VND/USD vào cuối tháng 11.
Hình 5: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo ngày VND/USD
giai đoạn 2009-2011.
Tuy nhiên, tỷ giá thị trường tự do chỉ giảm nhẹ đôi chút và vào cuối năm 2010 và đầu
năm 2011 vẫn đứng ở mức cao. Nguyên nhân là do hầu hết các biện pháp của NHNN,
5
nhất là đối với thị trường vàng chỉ mang tính tạm thời. Thêm đó là dự trữ ngoại hối đã
liên tục giảm sút từ năm 2009 và do đó tuyên bố của NHNN về việc cung ngoại tệ ra thị
trường không được hoàn toàn đảm bảo và do ảnh hưởng từ lạm phát.
Không thể tiếp tục duy trì tỷ giá, NHNN đã tuyên bố mức phá giá cao nhất trong lịch
sự (9,3%) vào đầu tháng 2/2011, nâng tỷ giá chính thức lên 20.693 VND/USD và giảm
biên độ xuống còn +/-1% Nỗ lực này đã không có kết quả ngay lập tức. Tỷ giá thị trường
tự do vọt lên trên 22.100 VND/USD trong vòng vài ngày kể từ sau lần phá giá này.
Giai đoạn 2012 – 2013:
Từ quý IV/2011, để kiểm soát kỳ vọng, góp phần ổn định tỷ giá, NHNN thường

quy mô dự trữ ngoại hối Nhà nước được cải thiện rõ nét. Khi tỷ giá bình quân liên ngân
hàng được điều chỉnh, NHNN cũng đã điều chỉnh tăng tỷ giá mua ngoại tệ lên 21.100
VND/USD từ ngày 07/8/2013 và tiếp tục mua ngoại tệ từ các TCTD tại mức giá này.
Tóm lại, năm 2013, NHNN đã điều hành linh hoạt tỷ giá và hoạt động mua bán ngoại
tệ nhằm ổn định thị trường và tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước thông qua: (i) Điều chỉnh
tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân lên mức 21.036 VND/USD từ ngày 28/6/2013, đồng
thời điều chỉnh giảm trần lãi suất tiền gửi USD, phù hợp với diễn biến cung cầu ngoại tệ,
tiếp tục khuyến khích người dân nắm giữ VND, giảm nắm giữ ngoại tệ; (ii) Điều hành
linh hoạt tỷ giá USD mua vào của NHNN theo hướng khuyến khích các TCTD bán ngoại
tệ cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và điều chỉnh linh hoạt tỷ giá bán ra để
can thiệp thị trường phù hợp với mục tiêu ổn định thị trường; (iii) Kết hợp chặt chẽ với
các công cụ chính sách tiền tệ để điều hòa lượng tiền VND cung ứng khi mua ngoại tệ để
tránh áp lực lên lạm phát và phù hợp với định hướng điều hành tỷ giá, đồng thời góp
phần hỗ trợ thanh khoản và giảm mặt bằng lãi suất cho vay VND; (iv) Theo dõi sát diễn
biến và thực hiện các biện pháp điều hành cần thiết khi thị trường có biến động bất
thường (v) Phối hợp các ngành liên quan tăng cường công tác quản lý và thanh tra, xử
lý vi phạm đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
5. Thực trạng tác động của tỷ giá tới lạm phát ở Việt Nam
Lạm phát ở Việt Nam ở từng giai đoạn trong thời gian qua được gây ra bởi nhiều
nguyên nhân. NHTW đã ban hành nhiều chính sách đi kèm để có thể kiểm soát tốt lạm
phát.
Trong giai đoạn 1999- 2003, lạm phát được duy trì ở mức độ thấp < 5% và ổn định,
ảnh hưởng của chính sách tỷ giá đến lạm phát cũng rất hạn chế. Sau giai đoạn này, lạm
phát lại tiếp tục gia tăng và biến động khó lường, mức biến động cũng cao hơn so với các
quốc gia trong khu vực.
5
Sau một giai đoạn ổn định ở mức thấp, lạm phát tăng lên 9,5% vào năm 2004, nguyên
nhân của đợt lạm phát này do: (1) Tác động của việc tăng cung ứng tiền và tốc độ tăng
trưởng tín dụng của nền kinh tế khá cao diễn ra trong giai đoạn trước đó; (2) các tác
động tiêu cực đối với tăng trưởng của cuộc khủng hoảng giảm, tổng cầu tăng lên sau giai

Giai đoạn 2007-2008, ngoài nguyên nhân chính sách tiền tệ, lạm phát còn được gây ra
bởi cách điều hành chính sách tỷ giá.
a) Neo tỷ giá cứng nhắc với đô la Mỹ dẫn đến cung tiền tăng mạnh
Sau khi gia nhập WTO vào năm 2006, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
tăng đột biến. Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD,
trong đó cấp mới đạt 59 tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp 7 lần
về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007. Khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam tăng, VNĐ sẽ lên giá để tạo ra điểm cần bằng do quan hệ cung cầu. Tuy ngiên, với
chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng
ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với USD thấp hơn điểm cân bằng nhằm
nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VNĐ yếu có thể coi là một
hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu.
Hình 8: Dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000-2010.
Nguồn: VinaCapital
Tuy nhiên, chính sách này cũng gây ra nhiều vấn đề tiêu cực. Thứ nhất, NHNN phải
tung ra một số lượng nội tệ để mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng cung tiền của Việt
Nam từ năm 2005 đến nay tăng tổng cộng 135%. Đây là nguyên nhân cơ bản đầu tiên dẫn
đến lạm phát trong giai đoạn này.
5
b) Neo tỷ giá với đồng đô la Mỹ mất giá mạnh trên toàn cầu khiến chi phí sản xuất
trong nước tăng.
Bối cảnh nước Mỹ vào năm 2007, tình hình thâm hụt thương mại, đồng đô la Mỹ mất
giá so với những đồng ngoại tệ khác, cộng với cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất vào
cuối năm này, khiến nền kinh tế Mỹ bước vào suy thoái, đẩy đống USD ngày càng mất
giá nhiều hơn. Điều này đã tạo nên các cú sốc về tăng giá xăng dầu, giá vàng, giá lương
thực thực phẩm,… từ đó tác động xấu đến giá cả ở Việt Nam.
Giá cả thị trường thế giới liên tục tăng cao. Giá xăng dầu tăng từ 60 USD/thùng vào
đầu năm 2007 lên 100 USD/thùng cuối năm 2007. Giá sắt thép tăng 30%, phân bón tăng
20%,…Điều này kéo theo giá các mặt hàng xuất khẩu trong nước tăng cao như gạo, cà
phê, cao su,…giá vàng trong nước tăng cao, ảnh hưởng gián tiếp tới tác động tâm lý đến

So sánh với một số quốc gia khác cho thấy, trong khi một số nước như Trung Quốc,
Thái Lan đã chấp nhận “đánh đổi” mục tiêu tỷ giá, để cho đồng tiền của họ lên giá so với
USD nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, do đó duy trì được tỷ lệ lạm phát thấp
ở mức 1 con số.
Năm Trung Quốc Hàn Quốc Thái Lan
Biến đồng
TG (%)
CPI (%) Biến động
TG (%)
CPI (%) Biến động
TG (%)
CPI(%)
2003 0.00 1.2 -4.75 3.5 -3.45 1.8
2004 -0.01 3.9 -3.89 3.6 -3.04 2.8
2005 -0.99 1.8 -10.6 2.8 0.00 4.5
2006 -2.70 1.5 -6.77 2.2 -5.82 4.7
2007 -4.59 4.8 -2.67 2.5 -8.87 2.3
2008 -8.66 5.9 18.59 4.7 -3.51 5.4
2009 -1.77 -0.7 15.91 2.8 3.03 -0.9
2010 -0.66 4 -9.48 3.0 -7.20 2
2011 -4.70 4 0.6 3.89 -3.50 3.9
Bảng 1. Biến động tỷ giá và lạm phát của một số quốc gia (2003- 2011)
Nguồn: IMF Country Report
5
Trong khi tại Việt Nam, để thực hiện chế độ “neo” tỷ giá theo USD, NHNN cam kết
một tỷ lệ biến động tỷ giá danh nghĩa (có thời kỳ cam kết là 1%) và phải chấp nhận
mức lạm phát cao hơn, khi lạm phát tăng, NHNN lại thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt
làm tăng lãi suất VND (lãi suất tăng cao vào các thời điểm năm 2008 và cuối năm 2010),
điều này nếu không được thực hiện một cách chặt chẽ có tính toán thì Việt Nam lại rơi
vào vòng xoáy đó là “tỷ giá-lạm phát-lãi suất- tỷ giá”.

quá 1%) cùng với việc hội nhập đã dẫn đến cán cân tổng thể thặng dư ngày càng tăng. Do
5
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năm 2008 nên xảy ra hiện tượng các dòng vốn đảo
chiều vào 2009.
Hình 10: Cán cân thanh toán và lạm phát của Việt Nam (1997-2011)
Nguồn: NCKH của ThS Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012, Tác động của chính sách tỷ
giá đến lạm phát ở Việt Nam
Qua hình 10 cho thấy, diễn biến của lạm phát cùng xu hướng với diễn biến của cán
cân tổng thể, đặc biệt là giai đoạn từ 2003 đến 2011. Do Việt Nam là một quốc gia có tỷ
trọng nhập khẩu cao, đặc biệt là trong những năm gần đây, tỷ trọng nhập khẩu/GDP trung
bình của giai đoạn 2000-2010 là 75,98% GDP. Khi nghiên cứu chỉ số giá nhập khẩu
chung thì có thể xem xét sự biến động của chỉ số giá hàng tiêu dùng nhập khẩu và chỉ số
giá hàng tư liệu sản xuất nhập khẩu. Chỉ số giá hàng tiêu dùng nhập khẩu có ảnh hưởng
tới CPI của Việt Nam nhiều hơn. Điều này do hàng tiêu dùng nhập khẩu là những
hàng hóa nằm trực tiếp trong thành phần của rổ hàng hóa tiêu dùng, mà hàng hóa tiêu
dùng lại chiếm tỷ trọng lớn trong các rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam.
Hình 11 cho thấy tác động của chỉ số giá hàng nhập khẩu đến CPI là rất rõ ràng, cùng
chiều và nhanh chóng. Vì vậy trong trường hợp tỷ giá tăng liên tục sẽ dẫn đến chỉ số giá
hàng nhập khẩu tăng và tác động làm tăng lạm phát.
Tóm lại, tỷ giá có tác động nhất định tới lạm phát ở Việt Nam, tùy thuộc vào từng thời
kỳ cho thấy sự tác động này có thể nhiều hay ít. Việc duy trì tỷ giá danh nghĩa ổn định, ít
biến động là một nỗ lực rất lớn của NHNN trong việc ổn định thị trường tiền tệ và giá trị
đồng VND, nhưng kết quả là lạm phát ở Việt Nam vẫn ở mức cao và không ổn định. Vì
vậy, trong thời gian tới việc điều hành chính sách tỷ giá phải được NHNN tính toán kỹ
các tác động giữa tỷ giá và lạm phát để góp phần kiềm chế lạm phát nhằm đạt mục tiêu
ổn định kinh tế vĩ mô mà Chính phủ đã đề ra.
5
Hình 11: Tác động của chỉ số giá hàng nhập khẩu tới lạm phát (1997-2011)
Nguồn: NCKH của ThS Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012, Tác động của chính sách tỷ
giá đến lạm phát ở Việt Nam

ổn định và linh hoạt, quan trọng hơn là sự ổn định và linh hoạt đó dựa trên những tiền đề
và cơ sở tài chính vững chắc. Diễn biến tỷ giá hối đoái những năm 2012 - 2013 đã tạo
được niềm tin khá chắc chắn vào sự ổn định của tỷ giá hối đoái nói chung cũng như khả
năng điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của NHNN nói riêng. Thành công của việc
điều hành chính sách tỷ giá hối đoái vừa qua còn thể hiện ở sự gắn bó chặt chẽ với chính
sách quản lý ngoại hối, quản lý thị trường vàng, với lộ trình chống đô la hóa, chống vàng
hóa trong nền kinh tế.
Năm 2014 nên tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hối đoái đã định hình trong các năm
2012 - 2013 nhằm tăng tính hấp dẫn của VNĐ và tăng dự trữ ngoại hối, tuân thủ cam kết
không điều chỉnh tỷ giá quá 2%. Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá hối đoái phối hợp chặt
chẽ với chính sách quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24, bảo đảm ổn định thị
trường, lập lại và củng cố trật tự trên thị trường vàng và thị trường ngoại hối.
Rõ ràng, niềm tin vào chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá hối đoái của NHNN đã
được phục hồi, củng cố vững chắc hơn, qua đó, uy tín và mức độ tin cậy vào những cam
kết mạnh mẽ của NHNN ngày càng được nâng cao. Hy vọng niềm tin đó sẽ tiếp tục đồng
hành với Việt Nam trong những năm sắp tới.
6. Kết luận - Một số kiến nghị đối với NHNN trong việc điều hành chính sách tỷ
giá hối đoái giai đoạn 2014-2015
Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tới tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Khi sức mua của đồng tiền trong nước giảm đi, tỷ giá hối đoái tăng lên làm giá hàng
nhập khẩu đắt hơn. Nếu hàng nhập khẩu để trực tiếp tiêu dùng thì làm tăng chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) trực tiếp. Nếu hàng nhập khẩu dùng cho sản xuất thì làm tăng chi phí
sản xuất và dẫn tới tăng giá thành sản phẩm. Kết quả cũng là sự tăng lên của chỉ số
giá tiêu dùng. Vì vậy, lạm phát có thể xảy ra. Nhưng khi tỷ giá tăng, các ngành sản
xuất hàng xuất khẩu được lợi và phát triển, kéo theo sự phát triển của các ngành sản
xuất trong nước nói chung, nhờ vậy thất nghiệp giảm và nền kinh tế tăng trưởng.
Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm (giá đồng nội tệ tăng lên), hàng nhập khẩu từ
nước ngoài trở nên rẻ hơn. Từ đó lạm phát được kiềm chế, nhưng lại dẫn tới sản xuất
thu hẹp và tăng trưởng thấp.
Như chúng ta đã biết vừa kiềm chế lạm phát, lại vừa duy trì tăng trưởng và ổn định tỉ

5
Tài liệu tham khảo
1. PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, 2011, Giáo trình Tài chính quốc tế, NXB Thống kê.
2. ThS Phạm Thị Hoàng Anh (2011), Nhận định về điều hành chính sách tỷ giá của
NHNN Việt Nam trong năm 2010, Tạp chí khoa học và Đào tạo ngân hàng số 104,
105 năm 2011.
3. Tổng cục Thống kê: Niên giám 1992-2013.
4. IMF Country Report.
5. ThS Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012, Tác động của chính sách tỷ giá đến lạm phát ở
Việt Nam.
6. TS Trần Thị Lương Bình, 2013, Chính sách tỷ giá và những vấn đề đặt ra.
7. Một số website:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status