Tìm hiểu vấn đề lãi suất trong tài chính vi mô, giải pháp cho Việt Nam hiện nay. - Pdf 13

Đề tài: Tìm hiểu vấn đề lãi suất trong tài chính vi mô, giải pháp cho Việt
Nam hiện nay.
Đặt vấn đề:
Tài chính vi mô được F.W Raiffeisen sáng lập và áp dụng đầu tiên ở Đức
vào những năm 1860 để đối phó với vấn đề tín dụng trong nông nghiệp, nghề thủ
công, công nghiệp nhỏ ở các vùng nông thôn. Đến cuối thập niên 90, tài chính vi
mô phát triển mạnh mẽ ở khắp các châu lục, đặc biệt là sau khi mô hình ngân
hàng người nghèo Grameen của giáo sư Muhammad Yunus (Bangladesh) ra đời.
Mô hình này hiện nay đang phục vụ hàng triệu lượt khách hàng. Theo Hội nghị
thượng đỉnh toàn cầu về Tin dụng vi mô tại Washington tháng 2 năm 1997: ‘’Tín
dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tượng người
nghèo, với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất
kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người
vay vốn và gia đình của họ’’.
Theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): ‘’Tài chính vi
mô là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính như tiền gửi, tài
khoản tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ
gia đình có thu nhập thấp, cho những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc doanh
nghiệp rất nhỏ’’. Nó được coi là công cụ hiệu quả trong công cuộc xóa đói giảm
nghèo của các quốc gia.
Trên thế giới và tại cả Việt Nam, các tổ chức tài chính vi mô thường áp
dụng lãi suất cho vay đối với khách hàng ở mức cao hơn lãi suất cho vay kinh
doanh của các ngân hàng thương mại. Hiện nay, với mức lãi suất cho vay tối đa
của các tổ chức tài chính vi mô đã có tác dụng tăng tính cạnh tranh giữa tổ chức,
giảm chi phí vay vốn của khách hàng, thể hiện rõ sự ưu tiên của chính phủ đối
với các khu vực ưu tiên. Nhưng đây cũng đang là vấn đề tranh luận của các nhà
phân tích. Bài viết này dựa trên các nghiên cứu, số liệu có sẵn sẽ trình bày về
các nội dung sau:
• Một số chính sách lãi suất của các nước trên thế giới, và bài học cho Việt Nam.
• Thực trạng chính sách về lãi suất trong tài chính vi mô ở Việt Nam.
• Khuyến nghị một số giải pháp.

Điều này đã đặt ra câu hỏi rằng: Tại sao các tổ chức tài chính vi mô chủ yếu hỗ
trợ cho người nghèo, lại đưa ra mức lãi suất cao như vậy?
Một trường hợp khác là Bancosol thành lập vào năm 1992 và hoạt động
chủ yếu trong lĩnh vực cho vay đối với các doanh nghiệp rất nhỏ thuộc khu vực
2
phi chính thức và các hộ gia đình sản xuất.
Lãi suất trung bình áp dụng cho các dịch vụ tín dụng là khoảng từ 12%
đến 24% một năm, trong năm 2008 mức lãi suất huy động phổ biến nhất được
các ngân hàng đưa ra có mức từ 17,2% đến 17,8%/năm. Trên thực tế, lãi suất
cho
vay trung bình của tổ chức này thương cao hơn lãi suất trung bình của thị
trường từ 4 đến 5%. Đối với các khoản tiết kiệm, để thu hút và khuyến khích
lượng vốn này, BancoSol thực hiện lãi suất huy động tương đương hoặc cao hơn
một chút so với lãi suất huy động trên thị trường.
Tính tới cuối năm, BancoSol có khoảng 85.000 tài khoản vay vốn, trong
đó, số tài khỏan cho vay với số dư dưới 300USD chiếm khoảng 67%. Tỷ lệ phụ
nữ vay vốn chiếm khoảng 48%.Tốc độ tăng trưởng dư nợ cũng như số lượng các
thành viên tham gia vay vốn tăng ổn định qua các năm (bảng 2.2)
Số liệu của bảng 2.2 được lấy từ các báo cáo hàng năm của BancoSol
qua các năm thuộc giai đoạn 2000 – 2005. Mặc dù luôn duy trì mức lãi suất cao
nhưng số lượng khách hàng đến với tổ chức này không hề giảm. Quy mô của các
khoản tín dụng và tiết kiệm liên tục tăng và số lượng khách hàng tới với tổ chức
ngày càng nhiều là một minh chứng rõ ràng nhất. Tỷ lệ thành viên mới tham
gia thường chiếm khoảng 1.2% tổng khách hàng trong năm của tổ chức.
Dư nợ qua các năm đều tăng, tuy có hơi chậm trong giai đoạn 2000 –
2002. Cũng trong giai đoạn này, số dư các tài khoản tiết kiệm giảm trong năm
2001. Điều này là tương đối dẽ hiểu bởi trong năm 2001 đến 2003, Bolivia phải
trải qua một cuộc khủng hoảnh kinh tế lớn, rất nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế
bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, tổ chức vẫn giữ được hoạt động của mình. Đặc biệt là
trong năm 2003, năm khó khăn nhất sau cuộc khủng hoảng, tổ chức đã có sự

tới lãi suất trợ cấp.
Chúng ta cũng có thể so sánh chi phí vay vốn của khách hàng từ ngân
hàng thương mại với tổ chức tài chính vi mô như sau:
4
Khoản
vay
Tổ chức
Lãi
suất
Lãi phải
trả
Chi phí giao
dịch
Chi phí cơ
hội
Tổng chi
phí
Lãi suất
thực
(%)
(triệu
VND) (triệu VND) (triệu VND)
(triệu
VND) (%)
30
triệu/12
tháng
NHTM 15 4.5 3 0.48 7.98 27
TCTCVM 23 6.9 0.05 0.12 7.07 24
20

trần cho phép.
Với NHCSXH, mức vay thấp nhất là 1 triệu đồng, tổng mức vay cao nhất
là 75 triệu đồng, tổng mức vay trung bình khoảng 15,6 triệu đồng. Trong số 345
khách hàng của NHCSXH có 25% vay không quá 8 triệu đồng; 25% vay từ 8 đến
11 triệu; 25% vay từ 11 đến 20 triệu và 25% còn lại vay trên 20 triệu. Mức lãi
vay trung bình của NHCSXH thấp nhất trong ba tổ chức khoảng 0,7%/tháng, lãi
vay cao nhất lên tới 9%/năm. Với TDND, tổng giá trị vốn vay lớn hơn rất nhiều
so với NHCSXH, mức vay cao nhất lên tới 570 triệu, thấp nhất là 2 triệu, mức
vay trung bình cũng vào khoảng 98,36 triệu – cao hơn hẳn so với mức vay tối đa
tại NHCSXH và TCVM. Và khoảng tứ phân vị cũng cho ta thấy trong số 263
quan sát, có 25% khách hàng vay không quá 25 triệu và có 25% vay trên 120
triệu. Mức lãi vay trung bình tại TDND cũng khá cao, cao nhất trong ba tổ chức,
7
lãi suất thấp nhất là 0,56%/tháng, lãi suất cao nhất là 2.18%/tháng, trung bình là
1,56%/tháng.
Với nhóm TCVM, tổng mức vay thấp hơn hẳn. Mức vay thấp nhất cũng là
1 triệu đồng, nhưng cao nhất chỉ đạt 34 triệu đồng, trung bình vào khoảng 6,74
triệu đồng. Điều này cũng dễ hiểu khi quy mô vốn của nhóm TCVM nhỏ, hạn
mức của từng khoản vay cũng thấp. mức lãi suất trung bình khoảng 1,14%/tháng.
Chủ yếu các khoản vay nhằm mục đích sản xuất là chiếm tỷ lệ cao nhất tới
56,72% trong tổng số khoản vay, tương ứng với tổng nguồn vốn lên tới 13428
triệu đồng – khoảng 40,43% trên tổng giá trị vốn vay. Như vậy, hầu như khách
hàng vay vốn cho mục đích tự phát triển sản xuất của gia đình. Họ đều là các
khách hàng thu nhập thấp, hoặc hộ kinh doanh siêu nhỏ. Điều này hoàn toàn
đúng với giả thuyết H3 đưa ra ở trên, và phù hợp với dữ liệu thứ cấp về khách
hàng tài chính vi mô
8
9
Khó khăn trong hoàn trả là điều đáng lo lắng cho NHCSXH. Lý do chính
của vấn đề này là: Thứ nhất, các khách hàng của NHCSXH thường trong diện hộ

tốt, tốc độ tăng trưởng huy động đến cuối tháng 6/2010 tiếp tục tăng cao hơn tốc
độ dư nợ; đồng thời NHNN đã có những động thái nhằm hạ dần mặt bằng lãi
suất theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ để kích thích tăng trưởng và trả dần
lãi suất về với đúng giá trị thị trường của nó. Trong thời gian tới, tiếp tục hoàn
thiện cơ chế điều hành lãi suất, ổn định mặt bằng lãi suất và cơ cấu lại thị trường
tài chính nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế cũng như kiểm soát lạm phát
là nhiệm vụ trọng tâm của NHNN trong việc điều hành CSLS. Chúng tôi xin đưa
ra một vài kiến nghị với NHNN hướng tới mục tiêu nói trên.
Thứ nhất, cần tiếp tục duy trì trần lãi suất huy động trong thời điểm hiện
nay.CSLS cũng như CSTT nói chung phụ thuộc rất lớn vào thể trạng của hệ
thống NHTM. Cho đến thời điểm hiện nay, có thể thấy hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt, tuy nhiên, năng lực tài chính,
năng lực quản trị và khả năng cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài
chính không đồng đều, tính bền vững trong phát triển chưa cao. Với một cấu trúc
thị trường có tồn tại nhiều các NHTM có vốn và thị phần thấp vậy thì những
hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh là khó tránh khỏi.
Tính đến hết quý II/2010, tăng trưởng tín dụng không cao, nguồn vốn vay của
các NHTM từ NHNN để đáp ứng thanh khoản tăng lên, điều đó cho thấy vốn
của các NHTM là không khan hiếm. Do vậy, với mức lãi suất huy động mà
NHNN đã khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội
11
Ngân hàng là 10,5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo
một mức lãi suất thực hợp lý cho người gửi tiền, nhưng phản ứng của các
NHTM là vẫn đua nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình
thức. Mặt khác, còn rất nhiều NHTM đang tìm cách lách luật trong việc sử dụng
nguồn vốn huy động bổ sung vào vốn điều lệ để đáp ứng con số 3.000 tỷ đồng
theo quy định của Nhà nước. Không chỉ thế, những NHTM nhỏ một mặt huy
động vốn với lãi suất cao, tìm cách bổ sung vào vốn điều lệ, mặt khác để duy trì
lợi nhuận buộc họ phải đẩy mạnh cho vay những dự án phiêu lưu mạo hiểm như
bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng với lãi suất cao, làm tăng rủi ro cho hoạt

với cùng kỳ năm trước và tốc độ tăng trưởng vốn huy động tiếp tục cao hơn dư
nợ; lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm do hỗ trợ thanh khoản của
NHNN và quy định về tỷ lệ an toàn hoạt động theo Thông tư 13/2010/TT-
13
NHNN; lãi suất trên thị trường quốc tế và lãi suất ngoại tệ tăng nhẹ, không có
ảnh hưởng đến tăng lãi suất trong nước; lãi suất trái phiếu chính phủ có xu
hướng giảm qua các phiên đầu thầu.
Trong thời gian này, NHNN cần tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với
NHTM với kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông
qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTMQD giữ vai trò chủ
đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền
kinh tế.
Song song với đó, cần hướng dòng vốn cho khu vực sản suất thực, giảm
bớt đầu cơ quá mức. Khi dòng vốn ngân hàng đảm bảo tập trung vốn cho sản
xuất sẽ có sự chuyển dịch vốn theo ngành, lĩnh vực, địa bàn, kỳ hạn và khách
hàng cho vay; hạn chế cho vay các nhu cầu phi sản xuất. Đặc biệt khi dòng vốn
được định hướng đúng đắn, tình trạng bong bóng (chứng khoán, nhà đất, ) sẽ
giảm và qua đó sẽ không gây áp lực lên khu vực ngân hàng, lãi suất sẽ ổn định.
Và theo đó, tình trạng dễ tổn thương của nền kinh tế nói chung hay khu vực tài
chính ngân hàng nói riêng sẽ được cải thiện.
Do vậy, NHNN cần tiếp tục chỉ đạo các NHTM, TCTD thực hiện cho vay
theo cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu
quả, cho vay ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, hạn
chế cho vay ngoại tệ để nhập khẩu những mặt hàng không khuyến khích. Đồng
thời, NHNN cũng cần tăng cường giám sát chặt chẽ hoạt động tín dụng của
NHTM, đảm bảo dòng vốn tập trung đi vào khu vực đầu tư sản xuất.
Thứ ba, cần điều chỉnh cân đối lãi suất VND và USD. Việt Nam là một
nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ, lãi suất ngoại tệ và tỷ giá có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Do đó, CSLS cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ
này nhằm ổn định thị trường tiền tệ và tránh tạo ra những áp lực lên tỷ giá.

một mức lãi suất hợp lý vừa đảm bảo mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế,
vừa duy trì một mức lạm phát mục tiêu là vô cùng cần thiết. Mức lãi suất thông
thường trong nền kinh tế bình thường luôn được khuyến nghị tuân theo bất
phương trình: L1<L2<L3<L4. Trong đó: L1: mức lạm phát; L2: lãi tiền gửi; L3:
lãi cho vay và L4: lợi nhuận bình quân xã hội trong cùng kỳ hạn lãi suất. Tuy
nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế đầy biến động như hiện nay, việc giữ cho lãi
suất thỏa mãn bất phương trình trên không phải là một công việc dễ dàng, đòi
15
hỏi nhiều giải pháp đồng bộ trong dài hạn bao gồm
2.1.1 Thứ nhất cần hạn chế những biến động quá mức về cung tiền.
Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện
thanh toán (M2) và lạm phát trong những năm vừa qua là tương đối chặt chẽ
(biểu đồ 16). Có ba nguyên nhân dẫn đến lạm phát là cầu kéo, chi phí đẩy và lạm
phát kỳ vọng trong đó lạm phát cầu kéo ở nước ta được xác định là do lượng tiền
cung ứng vào lưu thông nhiều hơn mức cần thiết và chủ yếu xuất phát từ chính
sách tài khoá và chính sách tiền tệ đã được nới lỏng từ nhiều năm trước dẫn đến
tăng nhu cầu, trong khi cung không tiến kịp. Chính vì vậy trong dài hạn, muốn
kiểm soát lạm phát phải hạn chế tối đa những biến động quá mức về cung tiền.
Về mặt lý thuyết M2 = k. MB (tiền cung ứng của NHTƯ), có nghĩa là
M2 tăng lên khi NHTƯ phát hành tiền cho nền kinh tế và / hoặc hệ số tạo tiền
tăng lên. Như vậy, trong dài hạn, để kiểm soát được lạm phát, NHTW cần phải
kiểm soát được lượng tiền cung ứng MB.
Tuy nhiên đối với nền kinh tế bị đôla hoá, M2 tăng lên còn do nguồn
ngoại tệ huy động trong dân tăng hoặc dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều.
Do vậy, việc kiểm soát M2 của NHTƯ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn đối với các
nước bị đôla hoá. Để khắc phục tình trạng này thì song song với việc kiểm soát
cung tiền của NHNN cần phải có sự phối hợp kiểm soát dòng vốn vào.
Trên thực tế, khi NHNN thực thi CSTT thắt chặt, hạn chế bớt lượng cung
tiền, thì Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch đầu tư vẫn tiếp tục huy động luồng vốn
nước ngoài đổ vào ồ ạt, gây áp lực buộc NHNN phải cung nội tệ ra mua ngoại tệ

những lộ trình phù hợp với mức độ phát triển của thị trường ngoại hối và mức độ
tự do hoá thị trường tài chính.
2.1.2 Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa CSLS và các chính sách kinh tế vĩ
mô khác
Hiện nay việc thực hiện CSLS nói riêng, CSTT nói chung còn tồn tại
nhiều mâu thuẫn và thiếu đồng bộ với chính sách tài khóa gây cản trở lớn cho
việc thực hiện mục tiêu chung của các chính sách kinh tế vĩ mô là thúc đẩy tăng
trường kinh tế và kiềm chế lạm phát. Tình trạng CSLS thì thắt chặt trong khi
chính sách tài khóa lại nới lỏng như đã từng xảy ra không những làm tính hiệu
quả của công tác điều hành mà thậm chí còn gây nên những hiệu ứng tiêu cực
đối với nền kinh tế.Các giải pháp thực thi chính sách tài khóa nếu được cân nhắc
17
và phối hợp kịp thời với CSTT nói chung, CSLS nói riêng thì các mục tiêu chính
sách tài khóa đạt được sẽ là bước đệm tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho việc thực
thi CSLS.Vấn đề quan trọng hiện nay, để tăng cường hiệu quả phối hợp của các
chính sách là:
Thứ nhất: Thu, chi ngân sách và tín dụng nhà nước phải gắn chặt với
nguyên tắc giữ ổn định tiền tệ NHNN. Chính phủ cần đẩy nhanh tiến trình cải
cách hệ thống thuế theo hướng sửa đổi, bổ sung các luật thuế hiện hành theo
hướng mở rộng đối tượng nộp thuế, giảm thuế suất và nghiên cứu soạn thảo các
luật thuế mới để góp phần tăng thu ngân sách, đồng thời có biện pháp cắt giảm
bội chi.Trong đó, chính sách tài khóa cần phải cắt giảm các khoản chi tiêu công
theo hướng tiếp tục cắt giảm các khoản chi thường xuyên, tỷ lệ vốn chi đầu tư
xây dựng cơ bản từ NSNN phải được cắt giảm qua từng năm theo hướng “nhà
nước và nhà đầu tư cùng làm” bằng cách kêu gọi đầu tư hoặc đổi đất dự án cho
các tập đoàn nước ngoài để lấy hạ tầng cơ sở nhằm giảm bớt gánh nặng nợ công.
Thứ hai: Thiết lập mối quan hệ thường xuyên, liên tục trong quá trình
hoạch định và thực thi CSTT, CSLS và chính sách tài khóa giữa Bộ Tài chính và
NHNN. NHNN phải được cung cấp những thông tin chính xác và kịp thời từ
phía Bộ Tài chính về tồn quỹ tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước để tính toán lượng

trạng thị trường. Sự xa rời giữa thực tế và mong muốn của chính phủ khiến cho
lãi suất cơ bản trở nên không có tác dụng và hoàn toàn không thể là lãi suất tham
khảo cho các tổ chức tín dụng.
Nâng cao sự hiểu biết của Chính phủ đối với hoạt động tài chính vi mô.
Trong quá trình ban hành và soạn thảo luật cũng như các chính sách của chính
phủ, mặc dù đã có sự đóng góp ý kíên từ phía những người thực hành tài chính
vi mô nhưng các chính sách của chính phủ đưa ra vẫn không thực sự phù hợp
với thực tế và mang lại nhiều hạn chế cho hoạt động này. Điều này có thể hiểu là
do những định kiến cố hữu của chính phủ về tài chính vi mô và việc thiếu hiểu
biết về hoạt động tài chính vi mô mới. Tại nhiều nước trên thế giới, một số tổ
chức đã mở những buổi trao đổi thông tin về tài chính vi mô cho những người
tạo lập chính sách. Thành công của những chương trình này là việc tiến lại gần
hơn giữa chính phủ và những người họat động tài chính vi mô. Tại Việt Nam,
chưa có một chương trình nào tương tự như vậy. Do đó, việc thiếu hiểu biết của
các nhà soạn
19
lập chính sách đối với tài chính vi mô là một điều hoàn toàn dễ hiểu
Chỉnh phủ nên đưa ra những chính sách có tác dụng gián tiếp tới lãi
suất của các tổ chức. Điều mà chính phủ Việt Nam không hài lòng đối với các
hoạt động tài chính vi mô hiện đại tại Việt Nam là lãi suất. Ta có thể thấy rằng
lãi suất trần không phải là giải pháp tốt cho vấn đề này. Khi đã hiểu rõ về hoạt
động tài chính vi mô, những nhà soạn lập chính sách của chính phủ sẽ hiểu rằng
lãi suất cao cho họat động này phát sinh một phần là do chi phí họat động rất
cao. Chi phí họat động này bao gồm chi phí cho họat động tiếp cận khách hàng
và phục vụ khách hàng (chi phí này đặc biệt cao ở những vùng có nhiều khó
khăn); chi phí cho nhân viên… Do đó, chính phủ nên thực hiện các biện pháp
sau:
- Mở rộng xây dựng cơ sở hạ tầng. Khi đường xá được nâng cấp hay
phương tiện liên lạc được phát triển thì một điều dễ hiểu là khả năng tiếp cận các
khách hàng của tổ chức sẽ được nâng cao. Điều này có thể nhìn thấy qua chỉ tiêu

đang thể hiện. Tuy nhiên, trong quá trình cung cấp dịch vụ tín dụng, hạn chế sử
dụng chính sách lãi suất trợ cấp quá lâu hoặc trên một quy mô quá rộng, đặc biệt
là ở những khu vực đủ điều kiện phát triển các hình thức tín dụng khác. Sở dĩ
như vậy vì sử dụng lãi suất bao cấp quá lâu sẽ tạo ra tinh thần ỷ lại trong người
dân. Bên cạnh đó, cũng cần có biện pháp mạnh tay hơn với những người không
có tư tưởng trả nợ.
Sở dĩ chúng tôi đưa ra việc phân chia thị trường như vậy vì như chúng
ta đều thấy, trong thời gian qua Ngân hàng Chính sách xã hội với số vốn lớn và
lãi suất trợ cấp đã là đối thủ cạnh tranh tương đối khó chịu đối với nhiều tổ chức
tài chính vi mô. Tại nhiều địa bàn, tồn tại cả ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, ngân hàng chính sách xã hội, qũy tín dụng nhân dân và quỹ
TYM. Kết quả là gây ra một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ (trên thực tế, các tổ chức
tài chính vi mô tại những khu vực như vậy lại tiếp cận nhiều hơn tới người
nghèo). Trong khi đó,những vùng lại hoàn toàn không có tổ chức nào tới để họat
động.
Nhóm giải pháp từ phía các tổ chức
Nâng cao khả năng quản lý vốn và điều hành của tổ chức. Đây là một
giải pháp các tác động to lớn tới khả năng phát triển trong dài hạn của một tổ
chức.Về khả năng quản lý vốn, ta nên hiểu là khả năng quản lý nguồn vốn huy
21
động và việc sử dụng vốn. Các tổ chức nên tìm kiếm những nguồn vốn với lãi
suất thấp và phù hợp để nâng cao hiệu quả huy động mà giảm thiểu các chi phí
huy động. Bên cạnh đó, tính tương hợp giữa vốn cho vay và vốn huy động của tổ
chức cũng cần được lưu ý. Trên thực tế, trong giai đoạn đầu họat động thì tỷ
trọng của các khoản cho vay ngắn hạn ở mức áp đảo thì đây không phải là một
vấn đề quá lớn đối với tổ chức. Nhưng sau một thời gian họat động, các khoản
cho vay dài hạn bắt đầu tăng lên, trong khi khả năng huy động vốn dài hạn của
tổ chức là không cao thì rủi ro kỳ hạn trong họat động của tổ chức sẽ xảy ra.
Trong việc sử dụng vốn, tổ chức nên tìm ra nhiều phương án đầu tư và cho vay
sao cho khách hàng và bản thân to chức đa dạng hóa được lựa chọn của mình.

nhiên, hàm chứa trong nó là một rủi ro rất lớn cho tổ chức khi những nhân viên
có kinh nghiệm và những người có năng lực có thể bị thu hút tới các tổ chức tín
dụng thương mại bởi các điều kiện làm việc tốt hơn và, tất nhiên, lương cao hơn.
Nghị định 28 ra đời đòi hỏi mỗi tổ chức tài chính vi mô phải có một
giám đốc điều hành có năng lực. Có nhiều tranh cãi về đỉều khoản này nhưng
trên góc nhìn của chúng tôi đây là một quy định là dù luật không nói thì bản thân
các tổ chức cũng phải thực hiện. Kinh nghiệm từ những thành công kinh điển
trong họat động tài chính vi mô cho thấy các tổ chức đều có những người lãnh
đạo xuất sắc. Để thu hút ngừơi có năng lực thì không còn cách nào khác các tổ
chức phải có những chính sách đãi ngộ và tuyển dụng hợp lý, sao cho tìm được
những nhà điều hành giỏi cho tổ chức của mình
III. Khuyến nghị
Đối với TCTCVM:
- Giải pháp chung: phát huy hơn nữa sức mạnh gắn kết giữa các thành
viên, cân bằng giữa mục tiêu phát triển xã hội và bền vững. Nâng cao nhận thức
của các tổ chức tài chính vi mô về mô
hình tổ chức, quản trị, điều hành theo thông lệ tốt nhất. Định hướng các tổ
chức hoạt động TCVM theo mô hình tổ chức và hoạt động an toàn, minh bạch và
bền vững, tiến tới áp dụng công nghệ hiện đại tạo tiện ích trong cung cấp các sản
phẩm dịch vụ TCVM.
- Giải pháp đối với các TCTCVM được NHNN cấp Giấy phép: Hoàn
thiện cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành và xây dựng cơ chế kiểm soát, kiểm toán
nội bộ hiệu quả nhằm đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh; tăng cường công
23
tác tìm nguồn vốn rẻ, đặc biệt từ các nhà tài trợ quốc tế hỗ trợ TCTCVM nâng
cao năng lực tổ chức, đặc biệt trong giai đoạn mới thành lập.
- Giải pháp đối với chương trình, dự án TCVM tại khu vực phi chính phủ:
Phối hợp với Hiệp hội TCVM và các cơ quan chức năng liên quan triển khai các
chương trình đào tạo nhằm hướng
các chương trình, dự án TCVM của khu vực các tổ chức phi chính phủ tới

biệt là Bộ Lao động thương binh và xã hội, Tổng cục dạy nghề, Hội Liên hiêp
Phụ nữ Việt nam.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status