Tìm hiều vấn đề Tự do hoá tài chính ở Việt Nam - Pdf 11

Các thuật ngữ và các từ viết tắt
Dcs
Các nớc phát triển
DNNN
Doanh nghiệp nhà nớc
Dntn
Doanh nghiệp t nhân
Fdi
đầu t trực tiếp nớc ngoài
Htx
Hợp tác xã
Khhtt
Kế hoạch hóa tập trung
LDCs
Các nớc đang phát triển
Nhnn
Ngân hàng nhà nớc
NHTM
Ngân hàng thơng mại
Nhtmqd
Ngân hàng thơng mại quốc doanh
NHTW
Ngân hàng trung ơng
Nsnn
Ngân sách Nhà nớc
Oda
Viện trợ phát triển chính thức
Pfi
Đầu t gián tiếp nớc ngoài
Sxkd
Sản xuất kinh doanh

kinh tế tài chính mà về bản chất là đang thực hiện tự do hoá tài chính. Quá trình
đó bớc đầu đã đạt đợc những thành tựu nhất định, góp phần vào sự tăng trởng và
phát triển kinh tế của nớc ta trong những năm qua, song bên cạnh đó vẫn còn
nhiều tồn tại, vớng mắc cần đợc nghiên cứu sâu hơn về lý luận và đánh giá chính
xác thực trạng để từ đó đề ra một lộ trình thực hiện tự do hoá tài chính hợp lí, có
thể khai thác đợc những lợi ích đồng thời tránh đợc những rủi ro mà tự do hoá tài
chính có thể mang lại. Với ý nghĩa ấy, em quyết định chọn nghiên cứu đề tài "Tìm
hiều vấn đề Tự do hoá tài chính ở Việt Nam" cho khoá luận tốt nghiệp của
mình.
Dựa trên hệ thống lý thuyết về tự do hoá tài chính, đặc biệt là lý thuyết của
trờng phái tân cổ điển, và những thực tế về quá trình thực hiện tự do hoá tài chính
ở Việt Nam từ năm 1989 đến nay, đề tài cố gắng tìm hiểu bản chất và vai trò của
tự do hoá tài chính để thấy đợc sự cần thiết của nó đối với quá trình phát triển kinh
tế của nớc ta đồng thời đánh giá thực trạng đổi mới tài chính và nêu lên một số
nhận xét gợi mở về định hớng tự do hoá tài chính ở Việt Nam.
Phù hợp với trình tự lôgic đó, kết cấu của đề tài gồm ba chơng:
Chơng 1. Khái luận về tự do hoá tài chính: đợc bắt đầu bằng việc nghiên
cứu khái niệm tự do hoá tài chính và nội dung các khía cạnh cơ bản của tự do hoá
2
tài chính. Sau đó, các vấn đề về trình tự tự do hoá tài chính, những lợi ích và mặt
trái của tự do hoá tài chính tiếp tục đợc trình bày và cuối cùng là tóm tắt quá trình
tự do hoá trên thế giới.
Chơng 2. Tự do hoá tài chính ở Việt Nam: dựa trên những luận điểm phân
tích ở chơng 1, khẳng định sự cần thiết phải tiến hành tự do hoá tài chính tại Việt
Nam, sau đó đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá quá trình tự do hoá tài chính ở Việt
Nam từ sau đổi mới, đặc biệt là từ năm 1989 đến nay.
Chơng 3. Một số quan điểm cơ bản và định hớng giải pháp thực hiện tự do
hoá tài chính ở Việt Nam trong thời gian tới: phân tích và dự báo bối cảnh trong
nớc và quốc tế tác động đến quá trình tự do hoá tài chính ở Việt Nam đồng thời
nêu lên những quan điểm cần quán triệt trong quá trình thực hiện tự do hoá tài

Tài chính trực tiếp
Vậy tự do hoá tài chính là gì? Tự do hoá tài chính là giảm thiểu sự can
thiệp của nhà nớc vào các quan hệ và giao dịch tài chính. Các hoạt động trong
hệ thống tài chính nói trên đợc tự do thực hiện theo tín hiệu thị trờng.
Bản chất của tự do hoá tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại
vốn có của thị trờng, là chuyển vai trò điều tiết tài chính từ "bàn tay can thiệp"
hay "bàn tay hữu hình" của chính phủ sang "bàn tay vô hình" của thị trờng,
chuyển từ quản lý bằng hành chính sang qui luật thị trờng và vì vậy tự do hoá tài
chính nằm ở trung tâm vấn đề muôn thuở của nền kinh tế là giải quyết mâu thuẫn
giữa vai trò của nhà nớc và vai trò của thị trờng, đặc biệt là khi vị trí của tài chính
đang ngày một quan trọng hơn không chỉ đối với từng quốc gia mà còn đối với
từng khu vực và toàn cầu. Tài chính là một phạm trù rất rộng lớn và phức tạp
xuyên suốt từ huy động tới phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính - tiền tệ có
hạn sao cho có hiệu quả nhất đến toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Theo Ngân hàng thế giới (1989), mục tiêu chính của TDHTC là phát triển
một hệ thống tài chính dựa trên cơ sở thị trờng, hội nhập vào thế giới để nhằm huy
động tiết kiệm, phân bổ các nguồn lực có thể đầu t trong nớc và bên ngoài một
cách có hiệu quả và thúc đẩy tăng trởng. Kết quả của tự do hoá tài chính thờng đợc
thể hiện bằng tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống NHTM)
trên thu nhập quốc dân (tỷ lệ này của các nớc châu á trung bình là 60%GDP, của
châu Phi chỉ có 20%GDP trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX).
Tự do hoá tài chính bao gồm các khía cạnh cơ bản sau:
-Tự do hoá lãi suất: đây đợc coi là hạt nhân của tự do hoá tài chính trong n-
ớc, trong đó, lãi suất phải do thị trờng quyết định tuỳ thuộc vào cung cầu về đầu t,
vào mức tiết kiệm và thu nhập trong nền kinh tế.
- Tự do hoá hoạt động phân bổ tín dụng: nguồn tín dụng đợc phân bổ dựa
trên lãi suất thị trờng và mức độ tin cậy của ngời đi vay chứ không phải bằng các
quyết định hành chính.
- Tự do hoá tài khoản vốn: Tài khoản vốn trong cán cân thanh toán của một
quốc gia bao gồm các giao dịch đầu t vào trong nớc và ra nớc ngoài, vay và cho

Tăng từ 5.5% (1989) lên 9.5%
(1994)
FDI
Từ đầu 1990, doanh nghiệp
100% vốn (trừ một số lĩnh vực)
Từ 1987, doanh nghiệp 100% vốn
nớc ngoài nếu xuất khẩu 80%.
Cuối 1980 cho phép công ty chứng
khoán nớc ngoài hoạt động.
PFI
Sở hữu cổ phần nớc ngoài tối đa
là 49%
Ngời nớc ngoài nắm tối đa 30% cổ
phần của một công ty đợc niêm yết
Vay nợ nớc
ngoài.
Từ cuối năm 1980, vay nợ nớc
ngoài đợc tự do hoá
Thành lập trung tâm tài chính hải
ngoại năm 1990
Nguồn: Tổng hợp dựa trên tài liệu tham khảo (5) và (7)
6
Trình tự tự do hoá tài chính mà các nớc lựa chọn phụ thuộc vào đặc điểm
riêng có và định hớng chiến lợc của các nhà lập chính sách. Tuy nhiên, theo Mc
Kinnon, với một nớc có những đặc điểm thông thờng thì trình tự tối u hoá các
chính sách tài chính trong quá trình chuyển từ sự kiểm soát tập trung sang nền
kinh tế thị trờng đầy đủ, hội nhập vào thế giới cần đợc tiến hành theo các bớc nh
sau:
Trớc khi lạm phát giá cả có khả năng giảm dần và thị trờng vốn đợc mở ra
theo hớng cho vay tự do, thì yêu cầu đầu tiên là phải đạt đợc sự cân đối tài chính

khoản vay mới. Kết quả là các ngân hàng này phải chịu lỗ về vốn đáng kể. Và khi
các khoản vay này quá lớn so với giá trị tài sản của ngân hàng thì điều này có thể
sẽ dẫn đến phá sản.
Cuối cùng, khi thị trờng vốn trong nớc đợc tự do hoá hoàn toàn tức là việc
vay và cho vay trong nớc diễn ra tự do theo lãi suất cân bằng ( không bị hạn chế)
và tỉ lệ lạm phát trong nớc đợc kiềm chế đến mức việc phá giá đồng tiền theo tỉ giá
hối đoái hiện hành không còn cần thiết thì mới tiến hành tự do hoá tài khoản vốn:
cho phép các doanh nghiệp, hộ gia đình vay hoặc gửi tiền tự do trên các thị trờng
vốn quốc tế, cho phép mua bán chứng khoán để huy động vốn tự do, và cuối cùng
là chuyển đổi ngoại tệ tự do trên tài khoản vốn.
1.3. Vai trò của tự do hoá tài chính đối với nền kinh tế.
1.3.1. Những lợi ích của tự do hoá tài chính .
a) Góp phần huy động đợc nguồn vốn lớn hơn và phân bổ vốn có hiệu quả
hơn.
Trớc hết, xét về nguồn vốn trong nớc, tự do hoá tài chính có thể nâng cao tỷ
lệ tiết kiệm của t nhân so với thu nhập và mở ra cách thức phân bổ vốn tốt hơn
thông qua việc mở rộng và đa dạng hoá thị trờng tài chính mà ở đó các cơ hội đầu
t cạnh tranh nhau để thu hút các dòng tiết kiệm và thị trờng và thậm chí có khuynh
hớng làm bình đẳng phân phối thu nhập.
8
Theo Mc Kinnon và Shaw (1973) việc quản lý lãi suất chính thức trong một
môi tròng lạm phát cao sẽ làm cho lãi suất thực có xu hớng âm. Đến lợt nó lãi suất
thực âm lại giới hạn sự phát triển của các tài sản nợ và có trong hệ thống tài chính.
Hơn nữa lãi suất thực âm buộc ngời tiết kiệm phải chuyển các khoản tiết kiệm của
mình từ các tổ chức tài chính đến đầu t vào bất động sản, vàng, ngoại tệ nhằm
chống lại sự mất giá từ lạm phát. Và hậu quả của việc thay đổi danh mục đầu t này
sẽ làm cho các ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng thiếu
các nguồn vốn vay cho các khu vực còn lại của nền kinh tế.
Khuyến nghị chính sách cho vấn đề này là quá trình tự do hoá tài chính
bằng bãi bỏ lãi suất trần cần phải đợc thực hiện tại những nớc nơi mà hệ thống tài

nớc muốn tạo lập sự hiện diện của mình tại các trung tâm tài chính tiên tiến để có
thể cạnh tranh đợc với các dịch vụ tài chính quốc tế mà các ngân hàng nớc ngoài
đang cung cấp cho khách hàng trong nớc thì các ngân hàng này sẽ phải tìm cách
xin giấy phép hoạt động tại các trung tâm nói trên. Để làm đợc điều đó, thay vì
thoả mãn với các quy định trong nớc tơng đối lỏng lẻo, các ngân hàng này sẽ gây
áp lực với các nhà điều tiết trong nớc phải nâng cấp các quy định đó, nh trờng hợp
của Mêhicô trong bối cảnh Hiệp định tự do Bắc Mĩ.
Kết quả là, hệ thống tài chính đã đợc nâng cao tính cạnh tranh cả ở quy chế
điều tiết lẫn các thành phần tham gia trong hệ thống.
c) Xã hội đợc tiếp cận với những dịch vụ tốt hơn và giá cả rẻ hơn.
Lợi ích này là hệ quả trực tiếp của việc mở cửa tạo ra sự cạnh tranh trên thị
trờng dịch vụ tài chính. Một nghiên cứu của các nhà kinh tế học thuộc Ban th ký
của WTO (năm 1997) đã kết luận rằng việc mở cửa thị trờng dịch vụ tài chính ở
các nớc theo đuổi chính sách mở cửa đã có tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy
cạnh tranh và nâng cao hiệu quả. Do đó, chi phí dịch vụ giảm đi đáng kể, chất l-
ợng dịch vụ đợc nâng cao, các loại hình dịch vụ đợc đa dạng hóa và khách hàng đ-
10
ợc tiếp cận với các loại hình dịch vụ một cách nhanh nhất. Điều này không chỉ có
lợi đối với ngời tiêu dùng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế.
Năm 1997, nguyên Bộ trởng ngân khố Mỹ - Robert E. Rubin đa ra kế hoạch nhằm
hiện đại hóa hệ thống dịch vụ tài chính ở Mỹ và phác thảo những lợi ích của kế
hoạch dựa trên những tính toán thực tế nh sau:
"Thời gian trớc đây, khi chúng ta cho phép cạnh tranh mạnh hơn trong lĩnh
vực dịch vụ tài chính, ngời tiêu dùng đã đợc hởng những lợi ích đáng kể... Năm
1995 giới tiêu dùng Mỹ chi phí vào khoảng 300 tỷ đôla vào các hoạt động bảo
hiểm, dịch vụ ngân hàng và môi giới chứng khoán. Giả sử rằng, do kết quả cạnh
tranh của kế hoạch hiện đại hóa hoạt động dịch vụ tài chính mà chi phí dịch vụ đối
với ngời tiêu dùng có thể giảm đi 1% thì cũng đã tiết kiệm đợc khoảng 3 tỷ đôla
một năm. Tuy nhiên dựa trên những cơ sở thực tế, tỷ lệ tiết kiệm chi phí hoàn toàn
có thể đạt đến mức 5% - tức là vào khoảng 15 tỷ đôla mỗi năm - một con số hoàn

mang lại bằng cách nắm giữ các tài sản nớc ngoài trong danh mục đầu t của họ.
Đặc biệt, phân tán rủi ro bằng cách đầu t vào tài sản tài chính ở nhiều trung tâm
khác nhau sẽ rất có hiệu quả vì nếu vốn rút ra ồ ạt từ một trung tâm làm giá tài sản
ở đây giảm xuống thì vốn lại đổ vào nơi khác làm giá ở đó tăng lên.
1.3.2. Những mặt trái của tự do hoá tài chính.
Tiềm năng lợi ích của tự do hóa tài chính là rất lớn, tuy nhiên tự do hóa tài
chính cũng có những mặt trái nhất thiết phải đợc nghiên cứu kỹ lỡng, đặc biệt
trong điều kiện xu thế tự do hóa tài chính mới chỉ dừng lại ở những bớc đi ban
đầu. Những hạn chế của tự do hóa tài chính thông thờng đợc nhìn nhận trên hai
giác độ:
Thứ nhất: Tự do hóa tài chính có thể làm tăng thêm khả năng gây ra khủng
hoảng tài chính nếu tiến trình tự do hóa đợc thực hiện một cách nôn nóng, sai trình
12
tự hoặc thiếu đồng bộ trong các biện pháp quản lý vĩ mô ở cả cấp độ quốc gia và
quốc tế.
Mở cửa thị trờng tài chính và khủng hoảng tài chính ngân hàng đã từng là
nỗi ám ảnh tởng nh có mối quan hệ nhân quả đối với các nớc thi hành chính sách
này trong khoảng thời gian trớc đây. Một nghiên cứu phân tích về các cuộc khủng
hoảng ngân hàng trên thế giới đã cho thấy 18 trong 25 trờng hợp đợc nghiên cứu,
khủng hoảng tài chính đã diễn ra theo sau việc tự do hóa tài chính khoảng 5 năm.
Do vậy, nhiều ngời cho rằng khủng hoảng ngân hàng là sự kiện kéo theo của cải
cách hệ thống tài chính theo hớng mở cửa. Thậm chí, nhiều chính phủ cho rằng đó
là cái giá phải trả của tự do hóa tài chính. Trớ trêu thay, nhận định này dờng nh đ-
ợc minh chứng bởi các cuộc khủng hoảng ngân hàng diễn ra ở Argentina, Brazil,
Chile trong những năm 70, khủng hoảng tiền tệ ở Mexico năm 1994-1995 và
Thailand năm 1997. Những cuộc khủng hoảng nh vậy đã làm cho chính phủ của
các nớc Đông Nam á tỏ ra thận trọng khi cân nhắc vấn đề cải cách, mở cửa và tự
do hóa tài khoản vốn.
Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu, việc mở cửa thị trờng tài chính, bản
thân nó thực chất không phải là nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng tài

nếu không đợc chuẩn bị kỹ lỡng có thể sẽ dẫn đến nhiều hiện tợng tiêu cực, thiếu
lành mạnh nh lừa đảo, phá sản, đổ vỡ... gây thiệt hại đến lợi ích của ngời tiêu
dùng.
Tuy nhiên, theo lập luận của nhiều nhà nghiên cứu, sự thâm nhập của các tổ
chức tài chính nớc ngoài có thể đa đến những lợi ích đáng kể (nh đã đề cập ở trên).
Hơn nữa, những mặt trái của việc mở cửa thị trờng tài chính có thể đợc khống chế
hoặc hạn chế ở mức thấp nhất nếu năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính nội
địa đợc cải thiện đáng kể trớc khi tiến hành mở cửa. Khả năng đó là hiện thực nếu
nó đợc trợ giúp bởi một chế độ giám sát kiểm tra thận trọng có hiệu quả và một
trình tự mở cửa hợp lý. Nói cách khác, việc có tận dụng đợc những lợi ích tiềm
năng đó với một chi phí thấp nhất hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào đờng lối
cải tổ của chính các nớc theo đuổi chính sách mở cửa đó.
14
Trên thực tế, có rất ít những bằng chứng chứng minh rằng sự có mặt của các
tổ chức tài chính nớc ngoài làm phơng hại và phá huỷ sự an toàn của hệ thống tài
chính của một nớc. "Sự có mặt của các tổ chức tài chính nớc ngoài thực chất lại
làm tăng thêm sự đa năng của hệ thống tài chính, và do đó làm tăng thêm tính ổn
định cần có. Hơn nữa, sự hiệu quả của chính sách tài chính tiền tệ phụ thuộc phần
lớn vào chính sách tỷ giá và chính sách di chuyển vốn của nớc chủ nhà chứ không
phụ thuộc vào sự có mặt hay không của các tổ chức tài chính nớc ngoài" (Dobson
& Jaquet, 1998).
1.4. Quá trình tự do hoá tài chính trên thế giới.
Cuối chiến tranh thế giới lần thứ hai, năm 1944, hệ thống tiền tệ Bretton
Wooods ra đời. Với mục tiêu tự do hoá thơng mại, qui chế Bretton Woods đòi hỏi
các đồng tiền phải đợc chuyển đổi tự do trong giao dịch tài khoản vãng lai. Bên
cạnh đó, trong giao dịch vốn, đồng USD và đô la Canada đợc chuyển đổi từ năm
1945, đồng Bảng Anh từ năm 1947, đồng tiền các nớc châu Âu khác (trong đó có
Mác Đức) từ năm 1958 và đồng Yên Nhật từ năm 1964 (6, 438). Ngoài việc
chuyển đổi tự do đồng tiền đối với các giao dịch của tài khoản vãng lai, các nớc
thành viên của hệ thống Bretton Wooods vẫn kiểm soát giao dịch tài khoản vốn

phát triển. Trong cả hai nhóm này đều có hiện tợng đầu t sang nhau. Nhng giữa
hai nhóm, các nớc phát triển thờng đóng vai trò ngời cho vay hay ngời đầu t.
Có thể nói, vào đầu thập kỷ 90, hệ thống tài chính toàn cầu đã đợc hình thành
và phát triển khá rõ nét.
Về qui mô địa lý, tuy còn nhiều nớc cha gắn trực tiếp vào hệ thống tài chính
toàn cầu, song hệ thống đã phát triển ra khắp Châu lục, bao gồm những nền kinh
tế quan trọng nhất thế giới.
Về cấu trúc, hệ thống tài chính toàn cầu cũng bao gồm các trung gian tài
chính và thị trờng tài chính. Trung gian tài chính bao gồm các ngân hàng thơng
mại (commercial bank), quĩ bảo hiểm (hedge fund), quĩ hu trí (pension fund), quỹ
đầu t (mutual fund). Bên cạnh đó thị trờng tài chính phát triển 3 bộ phận: thị trờng
chứng khoán, thị trờng tiền tệ và thị trờng ngoại hối. Nói chung, trong hệ thống tài
chính toàn cầu, chủng loại công cụ tài chính phát triển rất đa dạng. Ngoài ra, hệ
16
thống này hoạt động suốt ngày đem do chênh lệch về múi giờ, dới sự hỗ trợ đắc
lực của công nghệ thông tin hiện đại.
Cùng với sự phát triển kinh tế nói chung và kết quả của quá trình TDHTC nói
riêng (nếu trên), sự vận động của vốn có thay đổi lớn cả về chất và lợng. Về mặt
chất, luồng vốn đợc di chuyển qua rất nhiều kênh: FDI, FPI, ODA, tín dụng thơng
mại quốc tế... Trong đó, FDI và đặc biệt FPI chiếm tỷ trọng rất lớn. Hiện nay, các
công ty đa quốc gia, chủ yếu xuất phát từ DCs, là chủ thể chính của hoạt động
FDI. Hoạt động FDI không chỉ mang lại vốn, mà cả công nghệ, kinh nghiệm quản
lý cho các nớc nhận đầu t. Điều này đã góp phần vào những thành tựu phát triển
kinh tế ở nhiều nớc đang phát triển. Tuy nhiên, TNCs thờng chuyển những công
nghệ lạc hậu ra ngoài và giữ lại những công nghệ cao, giữ lại những khâu sản xuất
chủ yếu. Do vậy, hiện nay vẫn tiếp tục diễn ra sự phân bố lại công nghệ trên phạm
vi toàn cầu. Sự phân bố này có xu hớng chuyển công nghệ sử dụng nhiều lao động
sang LDCs và khiến cho các nớc này phụ thuộc hơn nữa vào DCs. Nh vậy, vốn t
nhân ngày càng chiếm u thế trong luân chuyển vốn quốc tế. Về mặt lợng, quy mô
luân chuyển vốn lớn hơn hàng hoá nhiều lần. Từ năm 1990 đến 1993, lu chuyển

nhiên, cũng giống nh các nớc đang phát triển khác, để làm đợc điều đó, Việt Nam
không thể chỉ sử dụng nguồn lực trong nớc mà cần phải huy động tối đa các nguồn
lực bên ngoài bằng cách mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá kinh tế nói chung
và tự do hoá tài chính nói riêng. Nh đã phân tích ở chơng 1, tuy còn có những
tranh luận về lợi ích và tác hại của tự do hoá tài chính nhng chắc chắn rằng, những
lợi ích mà tự do hoá tài chính mang lại sẽ lớn hơn nhiều so với những nguy cơ mà
nó có thể gây ra, đồng thời, những nguy cơ ấy là hoàn toàn có thể phòng tránh đợc
nếu chúng ta có một lộ trình thực hiện đúng đắn, một cơ chế giám sát chặt chẽ có
hiệu quả và sự chuẩn bị tốt cho năng lực của các tổ chức trung gian trong nớc.
2.2. Quá trình tự do hoá tài chính ở Việt Nam.
ý thức đợc tầm quan trọng của khu vực tài chính trong nền kinh tế, ngay từ
khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Việt Nam đã có rất nhiều những cải cách liên quan
đến khu vực này theo hớng nới lỏng dần cơ chế quản lý đối với hệ thống tài chính,
từng bớc nâng cao vai trò của thị trờng trong sự vận hành của đồng vốn. Phần viết
dới đây tập trung phân tích những kết quả cũng nh tồn tại của quá trình tự do hoá
tài chính ở Việt Nam theo các khía cạnh: lãi suất, thị trờng tín dụng, các định chế
tài chính, dịch vụ tài chính và bớc đầu đánh giá một số tác động của quá trình đó
tới nền kinh tế Việt Nam
19
2.2.1. Tự do hoá lãi suất
Chính sách lãi suất luôn có tác động rất lớn tới tất cả các lĩnh vực của nền
kinh tế. Cơ cấu và các mức lãi suất trong một nền kinh tế thị trờng nhằm để hỗ trợ
cho ba mục tiêu sau đây:
- Khuyến khích tiết kiệm và trung gian tài chính.
- Hớng các nguồn lực tài chính vào các hoạt động có tỷ suất lợi
nhuận cao nhất, cũng nh điều chỉnh co cấu kỳ hạn của các luồng vốn tài chính, tức
là ngắn hạn với dài hạn.
- Mang lại mức chênh lệch đủ để các tổ chức tài chính trang trải chi
phí hoạt dộng, chi phí vốn, chi phí chấp nhận rủi ro và lợi nhuận trên vốn tự có.
Để đạt đợc những mục tiêu trên, lãi suất thực phải dơng và thống nhất với

phép các NHTM đợc tự quyết định lái suất cho vay trên cơ sở không vợt quá biên
độ mà NHNN khống chế. Tuy nhiên, thực chất cơ chế này vấn còn là một hình
thức lãi suất trần.
- Ngày 30/5/2002, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành quyết định số
546/2002/QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động
tín dụng thơng mại bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng. Cơ chế lãi
suất thoả thuận là cơ chế lãi suất thị trờng theo đó, lãi suất đợc hình thành và biến
động chủ yếu do quan hệ cung - cầu vốn thị trờng, sự kiểm soát lãi suất của
NHNN đợc thực hiện thông qua việc điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ
tác động lên cung - cầu vốn để hớng lãi suất thị trờng biến động phù hợp với mục
tiêu của chính sách tiền tệ. Rõ ràng đây là một bớc chuyển đổi quan trọng, mạnh
mẽ và cần thiết trong chính sách tín dụng, phù hợp với nguyên tắc thị trờng, nhằm
đảm bảo nguồn lực tài chính đợc phân bổ một cách hiệu quả hơn.
b) Tác động tích cực của việc thay đổi cơ chế lãi suất theo hớng thị trờng.
Đối với các nớc, việc thực hiện cơ chế lãi suất thị trờng là yếu tố có tính "hạt
nhân" để thúc đẩy thị trờng tài chính phát triển theo chiều sâu, làm tăng tính cạnh
tranh, thúc đẩy các dịch vụ tài chính phát triển, góp phần ổn định và phát triển
kinh tế vĩ mô, hội nhập kinh tế quốc tế (thể hiện ở chỉ tiêu M
2
/GDP- phản ánh mức
độ huy động vốn trong nớc của khu vực tài chính chính thức tăng lên, nh Thái Lan
tăng từ 52% lên 80% năm 1994, Singapore tăng từ 58% lên 84,4% so sánh giữa tr-
ớc và sau thời điểm tự do hoá lãi suất...).
21
0
10
20
30
40
50

đến nơi có lợi nhuận cao với mức rủi ro thấp, nâng cao hiệu quả đầu t thúc đẩy
việc các NHTM phát triển nhanh chóng mạng lới chi nhánh ở thành thị, nông
thôn, đa ra các mức lãi suất, sản phẩm dịch vụ thích hợp cho các khách hàng. Thực
tế những năm 1991 - 1995 cho thấy khi NHNN khống chế chặt chẽ mức trần lãi
suất cho vay ở mức thấp đã khuyến khích sự vay mợn lòng vòng trên thị trờng
không chính thức, trốn tránh sự kiểm soát, lãi suất tiền gửi tăng, nhng lãi suất cho
vay lại không tăng đợc và chênh lệch lãi suất chỉ đủ bù đắp chi phí kinh doanh, lợi
nhuận rất thấp, khả năng tài chính của các NHTM bị yếu đi, dễ gây xáo trộn, tổn
thơng cho thị trờng tài chính.
Bốn là: quá trình chuyển dần sang cơ chế lãi suất thoả thuận đi liền với quá
trình "nới lỏng" kiểm soát ngoại hối và thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt làm cho
lãi suất trong nớc bám sát hơn lãi suất quốc tế, việc huy động vốn ở trong nớc và
từ nớc ngoài tăng lên để tài trợ cho nhu cầu tín dụng trong nóc.
Năm là: quá trình chuyển dần sang cơ chế lãi suất thoả thuận làm cho mức
biến động ngày càng tăng của các luồng vốn đầu t, NHNN phải sử dụng và phát
23
-40
-20
0
20
40
60
80
1 9 9 0 1 9 9 1 1 9 9 2 1 9 9 3 1 9 9 4 1 9 9 5 1 9 9 6 1 9 9 7 1 9 9 8 1 9 9 9 2 0 0 0 2 0 0 1
Lạm phát
Lãi xuất tiền gửi
Lãi xuất cho vay ngắn hạn
GDP
Tăng dân số
Bội chi ngân sách so với GDP

nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, vì với t cách là "hàng hoá", nó vận hành theo
quan hệ cung - cầu, nếu lãi suất thấp việc huy động vốn sẽ khó khăn.
24
Những tác động tích cực của cơ chế điều hành lãi suất theo hớng thị trờng và
hạn chế của cơ chế lãi suất cơ bản thời gian qua cho thấy rằng việc chuyển sang
thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận là điều cần thiết.
2.2.2. Tự do hoá hoạt động tín dụng
a) Kết quả.
Chính sách tín dụng của NHNN Việt Nam theo đuổi các mục tiêu : đẩy
mạnh huy động vốn để cho vay; đổi mới cơ cấu tín dụng theo hớng giảm bớt tín
dụng ngắn hạn, nâng dần tỷ lệ cho vay trung và dài hạn; mở rộng tín dụng cho mọi
thành phần kinh tế; tín dụng không chỉ dành riêng cho khu vực quốc doanh và dân
c ; nâng cao tính hiệu quả của tín dụng và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong
tín dụng.
Kết quả các năm vừa qua đã cho thấy công tác tín dụng đã đạt đợc một số
kết quả tích cực nhất định. Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn so tổng d nợ cũng nh tỷ
trọng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh đã giảm
Bảng 2.1. Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn so với tổng d nợ của các ngân hàng
Chỉ tiêu 1991 1997 1998
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn so với tổng d nợ tín dụng (%) 85.0 60.5 54.5
Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp quốc doanh (%) 90.0 51.0 75.0
Nguồn: Báo cáo của IMF 1- 2000
Quy chế tín dụng ngày càng phù hợp với nền kinh tế thị trờng, "thông thoáng
hơn". Gần đây nhất, Quyết định số 1627/2001/QG-NHNN ban hành về Quy chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, với nhiều điểm mới:
- Đối tợng áp dụng đợc cụ thể hơn trớc: các tổ chức tín dụng đợc thành lập và
thực hiện nghiệp vụ cho vay theo qui định của Luật các tổ chức tín dụng. Khách
hàng vay tại tổ chức tín dụng, bao gồm: các pháp nhân là: doanh nghiệp Nhà nớc,
hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài, các pháp nhân, cá nhân là ngời nớc ngoài và các tổ chức khác có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status