hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại việt nam hiện nay -thực trạng và các giải pháp - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
 ĐỀ TÀI
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM. GVHD: TS L

i Ti
ế
n D
ĩnh

Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Lớp: Ngân hàng Đêm 2 – Khóa 22. TP.H


Chí Minh


Năm 2014

7. Các giải pháp khác 36
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

3

PHẦN GIỚI THIỆU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh ngày càng tăng do việc áp dụng lộ
trình nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc mở chi
nhánh và các điểm giao dịch, việc dỡ bỏ hạn chế về huy động tiền gửi bằng VNĐ, khả năng
mở rộng dịch vụ ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các ngân
hàng thương mại Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đẩy mạnh hiện đại hóa, ứng dụng những
tiến bộ của khoa học công nghệ vào khai thác thị trường bán lẻ như đẩy mạnh hiện đại hóa,
phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như ATM,
internet banking, home banking, PC banking, mobile banking. Nhiều ngân hàng đã đầu tư rất
mạnh cho công nghệ để tạo lập cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển dịch vụ, đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng, chủ động đối mặt với những thách thức của tiến trình hội
nhập.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài
chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phân phối, hệ thống
sản phẩm dịch vụ. Nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng bán lẻ đã được triển khai thực hiện
như dịch vụ tài khoản, séc, thẻ, quản lý tài sản, tín dụng, cầm cố, tín dụng tiêu dùng.
Trong xu thế hội nhập, cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ngày càng gay gắt, phát triển
dịch vụ ngân hàng bán lẻ được xác định là một định hướng chiến lược quan trọng của các
ngân hàng thương mại Việt Nam. Hầu hết các ngân hàng thương mại đều đã xác định đúng
hướng đi rõ ràng là phải đầu tư phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ để có thể tồn tại và cạnh
tranh trong một môi trường mà người tiêu dùng luôn đòi hỏi những cải tiến mang lại sự tiện
ích và an toàn trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Tuy nhiên,

- Không gian: các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
- Thời gian: từ năm 2009 đến năm 2013.
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

5

Chương I
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ
1. Giới thiệu dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) là một trong những hoạt động truyền thống hình thành
nên hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) trên thế giới. Từ khi hình thành đến nay, hoạt
động NHBL đã đóng vai trò quan trọng tạo nền tảng phát triển bền vững cho các NHTM.
Hoạt động NHBL là lĩnh vực phân tán rủi ro, ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế hơn so
với các lĩnh vực khác, do đó nó góp phần tạo lập nguồn vốn và thu nhập ổn định cho các
ngân hàng. Bên cạnh đó, hoạt động NHBL góp phần quan trọng trong việc mở rộng thị
trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, ổn định hoạt động cho ngân hàng.
Trước khủng hoảng, các ngân hàng Việt Nam chủ yếu tập trung bán buôn (ngân hàng đầu
tư) và chú trọng đối tượng khách hàng doanh nghiệp thì khó khăn của kinh tế toàn cầu và cả
kinh tế Việt Nam giai đoạn vừa qua đã khiến các ngân hàng phải thay đổi chiến lược, định
hướng lại chiến lược ngân hàng bán lẻ - vốn là cốt lõi của nhiều ngân hàng trước đây.
Hiện nay, có nhiều khái niệm về dịch vụ NHBL theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
NHBL thực ra là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM như tín dụng, huy
động, các dịch vụ, chứ không chỉ là dịch vụ ngân hàng.
Theo Jean Paul Votron - Ngân hàng Foties: Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối, trong
đó triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát
triển các kênh phân phối hiện đại- mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao
gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ.
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu á – AIT, dịch vụ NHBL là
cung ứng trực tiếp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản

tính chất phân tán như chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm đáng kể chi phí giao dịch.
 CNTT có tác dụng tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị
tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác.
Để xác định mức độ thực hiện dịch vụ NHBL của một NHTM, các tổ chức tài chính lớn
trên thế giới dựa vào các tiêu chí sau: Giá trị thương hiệu; Hiệu lực tài chính; Tính bền vững
của nguồn thu; Tính rõ ràng trong chiến lược; Năng lực bán hàng; Năng lực quản lý rủi ro;
Khả năng tạo sản phẩm; Thâm nhập thị trường; Đầu tư vào nguồn nhân lực.
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

7 3. Vai trò của phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Các ngân hàng hàng đầu thế giới như CityGroup, HSBC, BNB, Bank of American,
Paribas, Barclay Bank, Credit Suisse, Deutsche Bank, Fortis, Royal Bank of Scotland cũng
coi phát triển dịch vụ NHBL là một trong những chiến lược chủ đạo của họ hiện nay. Các
ngân hàng trên đã phát triển mạnh về dịch vụ bán buôn đều nhận định rằng hoạt động bán
buôn có thể tạo ra nguồn thu ổn định tuy nhiên nguy cơ rủi ro rất cao. Trong khi hoạt động
NHBL mang lại nguồn doanh thu cao, chắc chắn, ít rủi ro. Bên cạnh đó, nó mang lại cơ hội
đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, cơ hội bán chéo với cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Vì
vậy, các ngân hàng đều hy vọng rằng dịch vụ NHBL sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong
tổng doanh số kinh doanh của họ.
Vai trò này càng thể hiện rõ trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua, trong
khi hầu hết các NHTM có chiến lược tập trung vào hoạt động NHBL đã trụ vững trong khi
nhiều ngân hàng đầu tư lớn bị phá sản (Merrill Lynch, Lemon Brothers…) hoặc lâm vào khó
khăn cũng phải chuyển hướng sang phát triển hoạt động NHBL. Vì vậy, xu hướng là hầu hết
các NHTM trên thế giới ngày nay đều phát triển hoạt động NHBL.
Dịch vụ NHBL mang lại rất nhiều lợi ích cho cả phía nhà cung cấp dịch vụ và cả phía
khách hàng. Nói cách khác, dịch vụ NHBL đã mang lại lợi ích cho toàn xã hội và cho cả nền
kinh tế. Nền kinh tế tăng trưởng, có phần đóng góp của ngành tài chính –ngân hàng mà trong

Các sản phẩm, dịch vụ của NHBL tập trung vào đáp ứng tốt nhất nhu cầu đa dạng, thường
xuyên thay đổi của các đối tượng khách hàng khác nhau, trong đó lấy khách hàng cá nhân,
doanh nghiệp vừa và nhỏ làm trung tâm. Các sản phẩm dịch vụ NHBL cơ bản bao gồm:

Huy động vốn từ khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tín dụng bán lẻ.

Dịch vụ thanh toán.

Dịch vụ ngân hàng điện tử.

Dịch vụ thẻ.

Dịch vụ bán lẻ khác: dịch vụ kiều hối, thu hộ, chi hộ, tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư
chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, ủy thác đầu tư,
5. Kinh nghiệm phát triển ngân hàng bán lẻ trên thế giới và bài học cho Việt Nam
5.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ NHBL của một số ngân hàng nước ngoài

Ngân hàng CitiBank:
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

9

CitiBank cung cấp cho khách hàng một hệ thống các dịch vụ thế chấp tài chính cá nhân,
khoản vay cá nhân, thẻ tín dụng, tài khoản tiền gửi và đầu tư, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và
quỹ quản lý. Đặc biệt, trong dịch vụ thẻ tín dụng, Citibank nghiên cứu và phát triển một loại
thẻ tín dụng liên kết với các ngành công nghiệp khác như hàng không, bất động sản, thể thao
như bóng đá và golf,…
 Ngân hàng Bank of New York:


10

 Để có thể tối đa hóa hiệu quả dị ch vụ ngân hàng bán lẻ và đáp ứng nhu cầu khách
hàng tốt hơn, BNP Paribas đã tái cơ cấu tổ chức gồm có ba nhóm cốt lõi.
5.2 Bài học Việt Nam
 Cung ứng dịch vụ theo đối tượng khách hàng. Do đó, cần xác định đối tượng khách
hàng tiềm năng để tập trung hướng tới và thiết kế sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu
của từng đối tượng khách hàng.
 Mở rộng và đa dạng hóa mạng lưới phục vụ khách hàng để nâng cao hiệu quả phục
vụ khách hàng.
 Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, hình thành bộ phận nghiên cứu phát triển sản
phẩm.
 Tăng cường hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng.
 Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp, có chất lượng cao.
 Hiện đại hóa hạ tầng CNTT.
Chương II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM
1. Tóm lược lịch sử phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam
 Giai đoạn từ năm 1986 – 1990: Hệ thống Ngân hàng từng bước đổi mới và phát
triển, hoàn thiện về mô hình tổ chức, thể chế pháp lý, công nghệ và dịch vụ ngân hàng. Mô
hình ngân hàng một cấp chuyển thành mô hình ngân hàng hai cấp, tách bạch dần chức năng
quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng của
các TCTD. Do đó, trong giai đoạn này, dịch vụ ngân hàng vẫn chủ yếu là các sản phẩm ngân
hàng thông thường, đơn giản như huy động vốn, cấp tín dụng,
 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay:
- Giai đoạn 1990 – 1996:
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng. Hệ thống ngân
hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện phù hợp với chủ
trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước. Vốn tín

tiền và thỏa mãn yêu cầu thanh toán, dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhanh chóng, an toàn,
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

12

tin cậy của các tổ chức cung ứng dịch vụ, cũng như khách hàng. Hệ thống bao gồm
Trung tâm thanh toán quốc gia lắp đặt tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương, các trung
tâm xử lý cấp tỉnh tại Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và đã kết nối với
gần 100 chi nhánh của các tổ chức tín dụng ở các địa bàn khác nhau trên cả nước.
Trong giai đoạn này, các dịch vụ ngân hàng điện tử cũng bắt đầu xuất hiện (E-Banking,
Internet banking, ). Và ngân hàng cổ phần đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước cho
phép cung cấp dịch vụ thanh toán qua Internet là Techcombank (từ tháng 5/2007)
- Giai đoạn 2008 – nay: Việt Nam ngày càng gia nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc
tế, Các ngân hàng thương mại Việt Nam tích cực phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ
với những sản phẩm áp dụng công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu càng cao của
người dân.
2. Kết quả kinh doanh dịch vụ ngân hàng bán lẻ
2.1 Dịch vụ huy động vốn bán lẻ
Theo sát diễn biến thị trường ngân hàng thượng mại các năm vừa qua, hoạt động huy
động vốn của các ngân hàng cạnh tranh khá gay gắt. Các ngân hàng đã đưa ra những chính
sách lãi suất huy động vốn cạnh tranh, chất lượng dịch vụ khá tốt, mức lãi suất cao và hấp
dẫn, các chương trình dự thưởng khuyến mãi để tiếp cận nguồn vốn trong dân cư và doanh
nghiệp. Tốc độ tăng trưởng huy động vốn khách hàng cá nhân tăng cao qua các năm tại một
số ngân hàng thương mại lớn.
Công tác huy động vốn của một số ngân hàng thương mại trong những năm qua:
Đvt: tỷ đồng
Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Năm 2009 2010 2011 2012
Tổng số tiền huy
động

3.000 tỷ đồng của các ngân hàng này vào thời điểm cuối năm. Có những thời điểm cuộc
chạy đua lãi suất đã đẩy mức lãi suất huy động lên tới 17%/năm, 18%/năm. Các ngân hàng
còn tăng mức lãi suất thương lượng, tặng quà cho khách hàng, làm cho cuộc chạy đua ngày
càng gay gắt.
9/9 ngân hàng đang niêm yết trên sàn chứng khoán đều có nguồn tiền gửi của khách
hàng cuối năm 2011 cao hơn cuối năm 2010. Trong đó, ngân hàng có nguồn tiền gửi của
khách hàng lớn nhất là VietinBank. Tuy nhiên, ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động
vốn mạnh nhất lại là MB với mức tăng 49%. Ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động vốn
thấp nhất là Sacombank với chỉ 1%.
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

14

Theo số liệu Vietcombank công bố, nguồn vốn huy động từ cá nhân của ngân hàng
này cuối năm 2011 chiếm khoảng 14% thị phần toàn ngân hàng. Căn cứ vào số liệu trên báo
cáo tài chính hợp nhất năm 2011, có thể thấy được thị phần huy động vốn cá nhân năm 2011
của các ngân hàng niêm yết (trừ Habubank không công bố cụ thể số liệu huy động vốn cá
nhân).
Theo biểu đồ, có thể thấy VietinBank dẫn đầu trong 9 ngân hàng về thị phần vốn huy
động cá nhân với 16,2%. So với năm 2010, thị phần huy động vốn của VietinBank,
Vietcombank có vẻ không đổi.

Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất các Ngân hàng năm 2010, 2011/ GAFIN
Nhìn vào cơ cấu tiền gửi của các ngân hàng, có thể thấy tiền gửi của cá nhân hầu như
chiếm đa số. Riêng với MB, tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm tới 65%.
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

15
vay với mức lãi suất ưu đãi 8,6%/năm trong 3 tháng đầu tiên khi vay mua nhà để ở và vay bổ
sung vốn kinh doanh. WesternBank đang dành hạn mức 1.000 tỷ đồng cho vay sản xuất kinh
doanh, bổ sung vốn lưu động cho các cá nhân, hộ kinh doanh, tiểu thương VPBank cũng
không chịu “thua kém” khi đưa ra tổng hạn mức 3.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhu cầu vay
gói sản phẩm cá nhân như cho vay mua ô tô, cho vay mua nhà, xây dựng và sửa chữa nhà,
cho vay hộ kinh doanh bổ sung vốn lưu động trả góp tối thiểu 12 tháng…
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

17

Doanh số cho vay khối khách hàng cá nhân của một số ngân hàng thương mại năm 2012
Đvt: tỷ đồng
Tên ngân hàng Vietcombank

Vietinbank BIDV Eximbank Sacombank ACB
Số tiền 96.465 63.337 118.973 26.091 65.856 50.200
Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại
Qua bảng số liệu thì có thể nhận định, BIDV, Vietcombank,Vietinbank vẫn là những
ngân hàng có nguồn vốn cho vay đối với khối khách hàng cá nhân năm 2012 cao hơn nhiều
so với khối ngân hàng còn lại. Với nguồn vốn lớn, mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch
rộng khắp trên cả nước, lượng khách hàng giao dịch đông, lãi suất cho vay hấp dẫn thì có thể
thấy các ngân hàng trên vẫn tiếp tục dẫn đầu thị phần cho vay khách hàng cá nhân. Tuy
nhiên, tỷ lệ cho vay khách hàng cá nhân/ tổng dư nợ thì ACB và Sacombank lại chiếm tỷ lệ
cao hơn bởi 2 ngân hàng này hướng tới ngân hàng bán lẻ từ khi mới thành lập nên đối tượng
khách hàng chủ yếu lại là khối khách hàng cá nhân.
2.3 Dịch vụ sản phẩm dịch vụ thẻ ngân hàng
Trước năm 2010, khi 3 hệ thống thẻ ngân hàng Banknet,Smartlink, VNBC hoạt động độc

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, hiện lượng người dùng thẻ ATM đã tăng khá
cao. Tính đến cuối quý II/2013, toàn hệ thống có 54,89 triệu thẻ thanh toán nội địa và 5,26
triệu thẻ thanh toán quốc tế. hiện tại thẻ nội địa vẫn chiếm tỷ trọng lớn - 92,31%, thẻ quốc tế
chỉ chiếm 7,69%.
Về số liệu hạ tầng thẻ mới nhất, tính đến cuối tháng 3.2013, toàn hệ thống có 46 NH đã
trang bị máy ATM/POS (ATM - máy rút tiền tự động; POS - điểm giao dịch chấp nhận thẻ -
PV) với số lượng đạt trên 14.300 máy ATM và hơn 101.400 POS. Các máy được kết nối,
cùng với sự phát triển của nhiều sản phẩm mới với các tính năng đa đạng hướng đến các
phân khúc thị trường khác nhau, góp phần tăng doanh số sử dụng thẻ trên 600.000 tỷ VND.
Cũng tính hết quý II/2013, đã có khoảng 5,65 triệu giao dịch được thực hiện thông qua
các loại thẻ với tổng giá trị gần 29.600 tỷ đồng, tăng hơn 10% so với quý I/2013. Chiếc thẻ
ATM ngoài việc nhận tiền, các chủ thẻ còn có thể dùng vào nhiều giao dịch khác như mua
vé máy bay, hàng hóa qua mạng bằng thẻ ATM; thanh toán tiền điện, nước, Internet, điện
thoại mà không cần phải đến tận nơi để đóng tiền.Để tiếp tục khuyến khích người dân sử
dụng thẻ qua ATM, nhiều ngân hàng đã kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để tăng thêm
nhiều tiện ích cho những người dùng thẻ ATM. Ngoài ra, các ngân hàng không những không
thu phí người dùng, mà còn ra nhiều chính sách ưu đãi, giảm giá khi mua hàng bằng thẻ.
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

19

Vietinbank hiện là ngân hàng có số lượng thẻ lớn nhất, với 12,6 triệu thẻ, chiếm hơn
23% thị phần. Agribank theo sát phía sau khi lượng phát hành của 14 sản phẩm thẻ các loại
với số lượng tăng bình quân hơn 2 triệu thẻ/năm; đạt tổng cộng hơn 12 triệu thẻ vào tháng 6
vừa qua và hiện chiếm 20% thị phần trên thị trường thẻ. Ít hơn, nhưng các ngân hàng khác
như ACB, Sacombank, Đông Á… lượng thẻ phát hành ra thị trường cũng đã đạt tới con số
vài triệu thẻ. Lượng thẻ ATM phát hành tăng nhanh, nhưng số máy ATM và điểm chấp nhận
thanh toán thẻ tăng khá chậm, bình quân cứ 10.000 người dùng thẻ mới có 1,7 máy ATM
phục vụ.
Vietcombank trong năm 2012 cũng phát hành được 1,1 triệu thẻ. Doanh số sử dụng

chuyển tiền
1.230 triệu
USD
1.200 triệu
USD
1.700 triệu
USD
1.397 triệu
USD
239 triệu
USD
Doanh số chuyển tiền ra nước ngoài của khách hàng cá nhân thông qua các ngân hàng trong
nước
Tên ngân
hàng
Vietcombank Vietinbank Sacombank Đông Á Eximbank
Doanh số
chuyển tiền
520 triệu
USD
180 triệu
USD
200 triệu
USD
52 triệu USD 155 triệu
USD
Nguồn: báo cáo tài chính các ngân hàng
Doanh số nhận kiều hối trong những năm qua không ngừng tăng nhanh, năm 2011 đạt
10 tỷ USD, năm 2012 đạt 11 tỷ USD, dự kiến năm 2013 đạt 13 Tỷ USD. Khi mà nền kinh tế
trong nước chưa phục hồi, nguồn vốn cần cho sự phát triển kinh tế cần được bổ sung thì

 Xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam
Trong những năm gần đây hoạt động ngân hàng phát triển và tăng trưởng mạnh trên cả
năng lực vốn, năng lực tài chính, quy mô hoạt động và mạng lưới phát triển; nếu như những
năm trước năm 2000 các NHTM chỉ chú trọng tăng trưởng tín dụng thì trong những năm gần
đây, đặc biệt từ 2006 đến nay đã tập trung phát triển dịch vụ ngân hàng theo hướng phát
triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trên nền tảng công nghệ hiện đại.
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

22

Trên thế giới hoạt động ngân hàng bán lẻ hướng đến các đối tượng khách hàng là cá
nhân, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm cung ứng các dịch vụ tiết kiệm; mở tài khoản giao
dịch; cho vay cầm cố, cho vay tiêu dùng cá nhân; dịch vụ thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng. Ở Việt
nam, một số NHTM cũng đã hướng đến việc bán lẻ theo hướng phục vụ khách hàng cá nhân,
hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh rộng khắp
trên nền tảng ứng dụng các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin hiện đại .
Mặc dù với sự nổ lực cao để phát triển dịch vụ ngân hàng cho khách hàng và nền kinh tê
nhưng trong bối cảnh phát triển kinh tế với nhu cầu tài chính cao, yêu cầu dịch vụ tăng cao,
áp lực cạnh tranh cao thì sự đáp ứng của NHTM hiện nay chưa thể thõa mãn được, chính vì
vậy mà việc phát triển dịch vụ ngân hàng là một xu thế tất yếu, hướng đi đúng đắn.
 Tư duy nhận thức của các Ngân hàng thương mại:
Đây là yếu tố về cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề để phát triển. Hoạt động tín dụng
có thể đem lại lợi nhuận cao nhưng rủi ro mang lại cũng khá cao; do đó các ngân hàng đều
đang hướng đến việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, bởi nó vừa cung ứng những dịch
vụ tiện ích cho nền kinh tế, ít rủi ro nhưng hiệu quả mang lại khá cao…Hơn nữa, việc đầu tư
phát triển dịch vụ ngân hàng nói chung, dịch vụ bán lẻ nói riêng là sự phát triển mang tầm
chiến lược, ổn định và bền vững. Khi chuyển sang bán lẻ, các ngân hàng sẽ có thị trường
lớn hơn, tiềm năng phát triển tăng lên và có khả năng phân tán rủi ro trong kinh doanh.
Chính vì vậy, việc phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ đang là một trong những nội
dung hoạch định và thực thi chiến lược của từng hệ thống ngân hàng cũng như ở tầm định

 Các sản phẩm của ngân hàng điện tử ngày càng trở nên rộng rãi và phổ biến:
Trong quý 3/2012, theo nghiên cứu của IDG- BIU (Business Intelligence Unit),
số lượng người sử dụng dịch vụ Internet Banking tăng 35% so với năm 2010, 40
ngân hàng cho rằng họ có các dịch vụ Internet Banking và số lượng các ngân hàng
tuyên bố cung cấp dịch vụ Mobile Banking cũng tăng lên đến 18 ngân hàng. Một
trong những dịch vụ ngân hàng điện tử đang được các ngân hàng chú ý khai thác là
gửi tiết kiệm online, thanh toán trực tuyến (thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại
 Dịch vụ thẻ ngày càng trở nên phổ biến trong các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp
với nhiều tiện ích, nhiều loại thẻ tín dụng.Theo vụ Thanh toán, tính đến tháng
Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ tại Việt Nam.

24

10.2013, có tổng cộng gần 63 triệu thẻ ngân hàng đã phát hành, tăng 2,78 triệu thẻ so
với cuối quý 2/2013. Như vậy, với dân số 90 triệu người tại Việt Nam thì trung bình
cứ 1,4 người sở hữu một thẻ ngân hàng. Phần lớn vẫn là thẻ nội địa với con số hơn 57
triệu thẻ; còn thẻ quốc tế chiếm khoảng 5,7 triệu thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ quốc tế…
Ngoài việc tăng thêm số lượng phát hành thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ nội địa… các ngân
hàng tại Việt Nam đang phát triển nhanh các điểm chấp nhận thẻ, tăng thêm tiện ích
cho chủ thể thanh toán. Trong năm 2013, các ngân hàng đã phát triển được khoảng
hơn 100.000 máy POS trên toàn quốc. Nhằm tăng nhanh số lượng máy POS, một số
ngân hàng đã tính đến việc áp dụng công nghệ mới. Trong đó, có giải pháp thanh toán
thẻ qua thiết bị di động bắt đầu được sử dụng khá nhiều ở một số quốc gia trong khu
vực Đông Nam Á.Mới đây, ngân hàng VietinBank triển khai dịch vụ thanh toán thẻ di
động MPOS với sự kết hợp giữa VietinBank, ngân hàng Nhà nước và hãng thẻ quốc
tế Visa. Thông qua dịch vụ này, các đơn vị chấp nhận thẻ của VietinBank sử dụng
smartphone, máy tính bảng gắn thêm thiết bị MPOS và cài đặt ứng dụng thanh toán
thẻ để chấp nhận thanh toán các loại thẻ nội địa và quốc tế.
 Các dịch vụ tín dụng tiêu dùng: phát triển mạnh cả về danh mục và doanh số, tất cả
NHTM của Việt Nam đều có sản phẩm cho vay tiêu dùng, đứng đầu là ACB và

lưới và phát triển nguồn nhân lực, công nghệ, quản trị điều hành Điều này phản ánh
mặt bằng phát triển chung, song cũng là điểm khó trong xây dựng chiến lược riêng
của mỗi NHTM khi muốn tạo dựng cái riêng của mình trước công chúng.
 Sự phối kết hợp giữa các NHTM trong thực hiện các dịch vụ ngân hàng mới còn
kém: Mỗi hệ thống ngân hàng phát triển một chiến lược hiện đại hoá khác nhau, ít có
sự gắn kết với nhau, ví dụ, về hoạt động thanh toán thẻ, séc, máy rút tiền tự động
ATM , gây ra sự lãng phí vốn và thời gian, sự cạnh tranh không đáng có giữa các
ngân hàng, sự khó khăn cho lựa chọn của các doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ ngân
hàng. Hiệu quả sử dụng vì vậy còn thấp.
 Khả năng tài chính của các ngân hàng còn thấp, mặc dù phần lớn các NHTM Việt
Nam đều đạt yêu cầu vốn điều lệ 3000 tỷ đồng. So với quy mô tài chính của các
NHTM trong khu vực thì mức vốn này vẫn ở mức khiêm tốn. Trong bối cảnh hiện

Trích đoạn Tăng cường hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng Các giải pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status