BỘ GIÁO DỤC VÀ TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HỒ CHÍ MINH Chuyên đề
RỦI RO CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ
GÂY NHIỄU TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
SVTH: Nhóm 4
GVHD: Cô Trần Thị Hải Lý
Lớp: Tài chính doanh nghiệp-Đêm 4
Khóa: 19 TP.Hồ Chí Minh - năm 2011MỤC LỤC
I. Mục tiêu nghiên cứu 2
II. Các nghiên cứu liên quan 2
III. Phương pháp nghiê n cứu và mô hình nghiên cứu 2
doanh chênh lệch giá lý trí đánh cược mạnh mẽ chống lại họ. Kết quả là, giá có thể bị chệch đi đáng
kể so với giá trị cơ bản thậm chí ngay cả trong trường hợp không có rủi ro cơ bản.
Ngoài ra, rủi ro trong đầu tư gây nhiễu làm cho tài sản k ém hấp dẫn đối với các nhà kinh
doanh chênh lệch giá tránh rủi ro và vì thế làm cho giá giảm. Nếu các nhà đầu tư gây nhiễu đánh giá
cao mức thu nhập hoặc đánh giá thấp rủi ro, họ đầu tư nhiều hơn vào các tài sản có mức rủi ro cao
hơn so với các nhà đầu tư tinh vi và do vậy có thể kiếm được mức lợi nhuận cao hơn.
Cuối cùng, mô hình làm còn nhằm làm sáng tỏ một số sự khác thường của tài chính, bao
gồm cả các biến động vượt quá của giá tài sản, việc trả cổ tức trung bình của cổ phiếu, việc đị nh
giá dưới giá trị của các quỹ, và trò chơi lãi cổ tức của Mehra-Prescott.
II. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN:
Theo Friedman (1953) và Fama (1965), các nhà đầu tư phi lý trí đều được đáp ứng trong thị
trường bằng những nhà kinh doanh chênh lệch giá lý trí người mà kinh doanh chống lại họ và trong
quá trình đưa giá tiến về giá trị cơ bản. Hơn nữa, trong quá trình kinh doanh như vậy, những phán
đoán về các giá trị tài sản của họ là đủ sai lầm để ảnh hưởng đến giá cả làm mất tiền cho những
nhà kinh doanh chênh lệch giá, và vì vậy cuối cùng biến mất khỏi thị trường. Do đó, các nhà đầu tư
gây nhiễu thì không thể ảnh hưởng đến giá quá nhiều, và ngay cả k hi có thể thì họ sẽ không làm
như vậy trong lâu dài.
Figlewski (1979) lại cho thấy rằng có thể mất một thời gian rất dài cho các nhà đầu tư gây
nhiễu mất phần lớn số tiền của mình nếu những nhà kinh doanh chênh lệch giá phải gánh chịu rủi
ro cơ bản chống lại họ và đảm nhận các vị trí hạn chế.
Shiller (1984) và Campbell và Kyle (1987) tập trung vào các ác cảm của những nhà kinh
doanh chênh lệch giá tới rủi ro cơ bản trong việc thảo luận về tác động của các nhà đầu tư gây
nhiễu trên giá thị trường chứng khoán. Kết quả của họ cho thấy ác cảm với rủi ro cơ bản có thể chính nó giới hạn kinh doanh chênh lệch giá, ngay cả khi những nhà kinh doanh chênh lệch giá có
tầm nhìn vô hạn.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌN H NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của chúng tôi dựa vào các mô hình sau:
+ Mô hình chéo hai giai đ oạn không kế thừa
Có hai loại đại diện: Nhà đầu tư tinh vi (ký hiệu "i"), là người có kỳ vọng hợp lý và nhà đầu
tư gây nhiễu (ký hiệu là " n"). Chúng tôi giả định rằng các nhà đầu tư gây nhiễu xuất hiện trong mô
hình có mức đo lường là µ, các nhà đầu tư tinh vi xuất hiện trong mô hình với mức đo lường là µ-1,
và rằng tất cả các đại diện của mỗi loại là xác định. Cả hai loại đại diện lựa chọn danh mục đầu tư
của họ khi còn trẻ để tối đa hóa hữu dụng kỳ vọ ng nhận được về dự kiến giá trung bình của việc
phân phối giá (u) tại t +1. Đại diện các nhà đầu tư tinh vi trẻ trong thời gian t nhận thức chính xác
việc phân phối lợi nhuận từ việc nắm giữ tài sản rủi ro, và để tối đa hóa lợi ích dự kiến. Đại diện
các nhà đầu tư gây nhiễu trẻ trong thời gian t ngộ nhận giá kỳ vọng của các tài sản rủi ro bởi một
biến ngẫu nhiên thông thường:
Sai lệch giá trung bình p
*
có nghĩa là một thước đo của "sự lạc quan" trung bình của các nhà
đầu tư gây nhiễu, và σ
p
2
là phương sai của sự ngộ nhận của các nhà đầu tư gây nhiễu về thu nhập
kỳ vọng trên một đơn vị của tài sản rủi ro. Do đó, các nhà đầu tư gây nhiễu tối đa hóa kỳ vọng hữu
dụng của riêng họ về việc nhận cổ tức trong giai đoạn sau, phương sai một thời gian p
t+1
, và niềm
tin sai lầm của mình rằng việc phân phối giá của thời kỳ tiếp theo (u) có giá trị trung bình là p
t
trên
giá trị thực của nó.
Hữu dụng của mỗi đại diện là một hàm số hằng số tuyệt đối không thích rủi ro của tài sản
có trước đó:
ở đây γ là hệ số của không thích rủi ro tuyệt đối. Với thu nhập phân phối chuẩn từ v iệc
nắm giữ một đơn vị của các tài sản rủi ro, việc tối đa hóa giá trị kỳ vọng của (2) tương đương với
t
n
và λ
t
i
của các tài sản rủi ro được mua là hàm số giá của nó p
t
, của một g iai đ oạn trước
phân phối của giá (u), và (trong trường hợp nhà đầu tư gây nhiễu) của quan niệm sai của họ về giá
kỳ vọng của tài sản rủi ro p
t
. Khi nắm giữ lâu, các đại diện chuyển đổi cổ phần (s) của họ để tiêu thụ
tốt, bán cổ phần (u) của họ với giá p
t+1
cho nhà đ ầu tư mới, và tiêu thụ tất cả tài sản của họ.
Người ta có thể nghĩ ra cách thay thế cầu đặc biệt của nhà đầu tư gây nhiễu. Xác định rõ
ràng chiến lược giữa ngộ nhận về thu nhập p
t
và (a) ấn định của nhà đầu tư gây nhiễu về một giá p
t
mà họ sẽ mua và bán, (b) Nhà đầu tư gây nhiễu mua một số lượng cố định λ
t
n
của các tài sản rủi ro,
hoặc (c) Nhà đầu thiếu thông tin nhầm phương sai của lợi nhuận (họ lấy σ
2
* thay vì σ
2
).
), của các tham số công nghệ (r) và hành vi (γ) của mô hình, và
của những thời đ iểm của sự phân phối giá p
t+1
một giai đoạn trước. Chúng tôi cho rằng chỉ có chỉ
trạng thái ổn đị nh cân bằng bởi việc áp đặt yêu cầu thì sự phân phối v ô đ iều kiện (tuyệt đối) của
p
t+1
giống như sự phân phối của p
t
. Một kỳ nội s inh trước sự phân phối giá của tài sản (u) có thể bị
loại trừ ra khỏi (9) bởi việc giải đệ quy.
Xem xét kỹ (10) cho thấy rằng chỉ có điều khoản thứ 2 biến đổi, đối với γ, p*, và r là những
hằng số, và độ lệch chuẩn ở kỳ liền sau của p
t
là một hàm độ lệch chuẩn không đổi đơn g iản của sự
ngộ nhận của các nhóm nhà đầu tư gây nhiễu p
t
.
Hình thức cuối cùng của quy tắc giá cả với (u), trong đó giá cả chỉ phụ thuộc vào các tham
số nội sinh của mô hình và những thông tin công cộng về hiện tại, tương lai ngộ nhận bởi những
nhà đ ầu tư gây nhiễu, là:
c. Giải thích
Ba điều k hoản sau xuất hiện trong (12) và (10) cho thấy ảnh hưởng của việc thiếu thông tin nhà
đầu tư trên giá của tài sản (u). Khi sự phân phối của p
t
bù đắp bởi các rủi ro về giá bổ sung mà phải được thực hiện. Các nhà đầu tư gây nhiễu vì vậy “tạo
ra không gian riêng của họ”: sự không chắc chắn về kỳ tiếp theo của các nhà đầu tư g ây nhiễu sẽ tin
rằng tạo ra các tài sản rủi ro khác ít rủi ro hơn, làm giá nó xuống thấp và lợi nhuận nó tăng lên.
Điều này là để bất chấp thực tế là các nhà đầu tư tinh v i và các nhà đầu tư gây nhiễu luôn giữ các
danh mục đầu tư có cùng một lượng cơ bản rủi ro: 0 (zero). Bất kỳ khả năng trực giác nào tác động
các nhà đầu tư tài sản rủi ro "phải" nhận các mức lợi nhuận mong đợi cao hơn vì họ thực hiện
chức năng xã hội có giá trị của việc bỏ qua sự gánh chịu rủi ro để cho thấy rằng sự đầu cơ của các
nhà đầu tư gây nhiễu là nguồn gốc duy nhất của rủi ro. Nhìn chung, đối với nền kinh tế, không có
rủi ro được sinh ra.
Sự cân bằng tồn tại miễn là l ợi nhuận nhận được để giữ các tài sản rủi ro luôn luôn không
chắc chắn. Trong cơ cấu các thế hệ chồng chéo này được đảm bảo bởi sự vắng mặt của một kỳ
cuối. Vì nếu có một kỳ cuối cùng trong đó các tài sản rủi ro thanh toán cổ tức k hông phải ngẫu
nhiên và được thanh lý, sau đó cả các nhà đầu tư gây nhiễu và các nhà đầu tư tinh vi sẽ tìm cách
khai thác những gì họ cho là buôn chứng khoán ít rủi ro hơn. Nếu nói rằng, giá trị thanh lý của tài
sản rủi ro là 1+r, các nhà đầu tư tinh vi kỳ trước sẽ thử để buôn bán chuy ên quyền những lượng
lớn tài sản (u) ở ở bất cứ giá nào khác, và các nhà đầu tư gây nhiễu sẽ thử buôn bán chuyên quyền
những lượng lớn tài sản ở bất cứ giá nào cao hơn:
Hàm cầu vượt mức cho các tài sản rủi ro sẽ không được xác định và mô hình sẽ không có
sự cân bằng. Nhưng trong một mô hình có nguy cơ chia cổ tức cơ bản giả đị nh rằng k hông có kỳ
cuối, và và v ì thế cấu trúc thế hệ chồng chéo, k hông cần thiết. Với rủi ro cổ tức cơ bản không có
đại diện nào bao giờ cũng chủ quan nhất định về lợi nhuận trên tài sản có rủi ro sẽ được, và vì vậy
các tính chất định tính của sự cân bằng trong mô hình của chúng tôi được duy trì ngay cả v ới thời
hạn cuối cùng.
Giới hạn vô cùng sự chồng chéo các thế hệ cấu trúc của mô hình cơ bản thực hiện chức
năng khác. Nó đảm bảo rằng tầm nhìn của mỗi đ ại diện là ngắn. Không ai có bất kỳ cơ hội để chờ cho đến k hi giá của tài sản có rủi ro lên lại trước k hi bán. Như một cấu trúc thế hệ chồng chéo có
thể là một cách hiệu quả của mô hình hóa những tác động về giá của một số tính năng thể chế,
Mỗi thế hệ nhà đầu tư đều lao động kiếm tiền k hi còn trẻ và sử dụng khi về già. Mỗi thế
hệ nhà đầu tư tiếp sau đ ó đều là những nhà đầu tư gây nhiễu và nhà đầu tư tinh vi giống như thế
hệ trước đó, ng oại trừ một số ít các nhà đầu tư lựa chọn khác đi 1 ít nhưng cũng chỉ là sự thay đổi
dựa trên 2 nhóm nhà đầu tư cơ bản trên. Trong cùng 1 thời gian, nếu các nhà đầu tư dạng nhà đầu
tư gây nhiễu kiế m được lợi nhuận cao, thì một bộ phận người trẻ được xem là nhà đầu tư tinh vi
sẽ trở thành nhà đầu tư gây nhiễu, và chuyển vị thế ngược lại nếu nhà đầu tư gây nhiễu kiếm
được ít lợi nhuận hơn. Thêm nữa, lợi nhuận khác biệt càng cao trong một kỳ thì càng có nhiều
người lựa chọn sự thay đổi này. Hãy đặt t là độ nhạy cảm của nhóm nhà đầu tư gây nhiễu và R
n
và R
i
là mức lợi nhuận của nhà đầu tư gây nhiễu và nhà đầu tư tinh vi, chúng ta giả định rằng:
Ở đây là tỷ lệ mà mỗi nhà đầu tư mới tăng thêm khi trở thành nhà đầu tư gây nhiễu cho mỗi
đơn vị lợi nhuận thay đổi.
Công thức (20) thành công khi mô phỏng rằng: chiến lược đầu tư này làm cho những người
thay đổi theo nó sẽ giàu hơn. Theo mô hình mô phỏng thì ý tưởng về dòng tiền mới đưa vào thị
trường sẽ k hông hoàn toàn chắc chắn điều như chiến lược mà đầu tư đang theo đuổi. Trong thời
gian gần đây các nhà đầu tư tinh vi kiếm được nhiều lợi nhuận, thì các nhà đầu tư mới cố gắng
phân bổ tài sản của họ tương tự như nhà đầu tư tinh v i, hay thậm chí tin tưởng phó thác tài sản
của họ theo sự đầu tư của tinh vi. Còn nếu các nhà đầu tư gây nhiễu thành công hơn khi kiếm
được nhiều lợi nhuận, thì số lớn các nhà đầu tư mới sẽ bắt chước kế hoạch kinh doanh của họ.
Một cách dễ hiểu về quy luật mô phỏng này là một vài nhà đầu tư mới đã sử dụng cái mà Black
(1986) gọi là các tín hiệu không thành thật, như là căn cứ vào lợi nhuận kỳ trước để quyết định
chiến lược sẽ làm theo.
Mô hình này có thể dễ dàng giải quyết chỉ khi nếu rất là gần bằng 0. Nếu có mức ý nghĩa
khác nhau bắt đầu từ 0 đựơc đo lường trong mỗi thế hệ, thì những sự đầu tư trong kỳ t có thể tính
đến hiệu quả của mức lợi nhuậ n dựa trên sự phân chia tỷ lệ giữa nhà đầu tư gây nhiễu và nhà đầu
Mục này mở rộng mô hình mô phỏng cho trường hợp có rủi ro cơ bản cho phần tài sản
không an toàn. Chúng ta chỉ ra rằng về lâu dài thì sự phân phối thị phần (share) của nhà đầu tư gây
nhiễu rất k hác nhau trong trường hợp không có rủi ro cơ bản.Một các cụ thể, với đủ nhỏ, thì
phần của nhà đầu tư gây nhiễu được mong đợi thiết lập ở mức chắc chắn của t và bắt đầu từ 0.
Ở đây t là một chuỗi độc lập, phân bổ bình thường với giá trị trung bình 0 và các hằng số
khác nhau, và các sự đơn giản không tương quan với nhau với sự lựa chọn của nhà đầu tư theo xu
hướng đám đám t. Tài sản yêu cầu sẽ là:
Thay vì (7) & (8). Sự thay đổi duy nhất là sự xuất hiện trong mẫu số chung của tài sản yêu
cầu cho tổng rủi ro liên quan từ tài sản (u) – Tổng rủi ro giá cả của nhà đầu tư gây nhiễu và rủi ro
cổ tức cơ bản – thay vì rủi ro giá cả được thực hiện bởi các nhà đầu tư gây nhiễu.
Hàm số giá cả nếu có rủi ro cơ bản được chuyển từ (21) thành: trong giới hạn khi tiến về zero. Các khoản mục rủi ro của nhà đầu tư gây nhiễu sẽ bị thay thế bởi
tổng rủi ro đ ược kết hợp với nắm giữ tài sản (u). Sự khác nhau giữa lợi nhuận mong đợi của nhà
đầu tư gây nhiễu và nhà đầu tư tinh vi là:
nếu lớn hơn zero và:
Trong khi “ nắm giữ nhiều hơn”, “áp lực giá trung bình” & ảnh hưởng F rideman không thay
đổi khi thêm rủi ro cơ bản - mẫu số của định hạn 2 ở vế phải của công thức (28) – thì tăng lên. Kể
từ khi nắm giữ tài sản (u) thì có nhiều rủi ro hơn, và nhà đầu tư tinh vi cũng ít thiện chí xem xét các
giao dịch nhằm khai thác các lỗi của nhà đầu tư gây nhiễu. Chúng ta tiếp tục giả định rằng =0 trong
việc tính toán giá, vậy thì (27) là quy luật đị nh giá cho mô hình này và (28) là sự khác biệt trong lợi
nhuận mong đợi.
Công thức (12) chỉ ra rằng, khi không có rủi ro cơ bản, chuỗi liên tục của các nền k inh tế
nhiễu được mong đợi sẽ tiến về đám đông như tiến về zero. Ý kiến ở trên chỉ ra rằng nếu tài sản
(u) mang rủi ro cơ bản, thì k hông có giá trị tham số cho nhóm nhà đầu tư gây nhiễu mong đợi tiến
về zero cũng như trở nên nhỏ. Kết quả này cho rằng có ít nhất 1 hình thức hợp lý của động lực
học chắc chắn rằng nhà đầu tư gây nhiễu là quan trọng và tác động giá cả trong thời gian dài.
c. Mô phỏng dựa vào tính hữu dụng:
Quy luật mô phỏng (20) dựa vào giả đị nh tỷ lệ chuyển đổi phụ thuộc vào sự khác nhau về
lợi nhuận nhận biết được, không phải sự khác nhau về tính hữu dụng nhận biết được. Hoàn toàn
giả định rằng người thay đổi chính kiến không xem xét rủi ro cao hơn mà nhà đầu tư gây nhiễu
gánh chịu để kiếm lợi nhuận cao hơn. Loại hình mô phỏng này yêu cầu nhà đầu tư sử dụng lợi
nhuận nhận biết được của nhà đầu tư trước đ ó như làm đại diệ n cho thành công dù mục tiêu của
chính họ là tối đa hóa tài sản chứ không phải tính hữu dụ ng.
Một quy luật mô phỏng thay thế là làm cho số lượng nhà đầu tư gây nhiễu phụ thuộc vào
sự khác nhau về tính hữu dụng được nhận biết ở kỳ trước từ các chiến lược của nhà đầu tư tinh vi
và nhà đầu tư gây nhiễu. Quy luật này khác với (20): với tính hữu dụng lõm, có sự thay đổi từ chiến
lược khắc phục lợi nhuận thấp trong quá khứ hơn là chiến lược đạt lợi nhuận cao trong quá khứ.
Theo quy luật mô phỏng này, thị phần của nhà đầu tư gây nhiễu trong nề n kinh tế thực tế hội tụ về
0 khi tiến về 0, trái ngược với kết quả của chúng tôi theo (20). Do những nhà đầu tư tinh vi tối đa
hóa tính hữu dụng mong đợi thực tế, tính hữu dụng nhận biết được của nhà đầu tư tinh vi bình
quân cao hơn tính hữu dụng nhận biết được của của nhà đầu tư gây nhiễu. Đó là, theo quy luật mô
phỏng, phương sai lợi nhuận của nhà đầu tư gây nhiễu làm họ tốn chi phí khi chuyển sang có lợi
nhuận vì họ tốn chi phí về mức hữu dụng bình quân. Đối với mỗi trường hợp ban đầu của quy
trình, thị phần của nhà đầu tư gây nhiễu có khuynh hướng xuống thấp hơn mức hữu dụng theo
nền tảng quy luật mô phỏng khác nhau cho đến khi thị phần của họ đạt đến mức của nhà đầu tư tinh vi k hi phản á nh mức biên độ = 0. Thị phần của nhà đầu tư gây nhiễu trong trường hợp ổn
định của phân phối không còn dao động quanh 0 khi tiến về 0.
Trong quy luật thay thế này, sự mô phỏng này được dựa trên sự nhận biết về mục tiêu
thực sự của nhà đầu tư. Tuy nhiên, có hai lý do mà quy luật mô phỏng (20) dựa trên tài sản được
ưa thích hơn. Một là, nhiều nhà đầu tư ưa thích lợi nhuận cao của chiến lược đầu tư theo kỹ thuật
dự kiến trên tài sản tăng lên. Tuy nhiên, phần thưởng từ việc chấp nhận rủi ro không tương xứng
cho những nhà đầu tư tinh vi – những người nắm giữ trung bình nhiều tài sản rủi ro hơn so với
nhà đ ầu tư gây nhiễu.
Khi bổ sung thêm các hiệu ứng khác:
- Hiệu ứng “S ức ép giá”; “mua cao bán thấ p” hiệu ứng Friedman
- Hiệu ứng “nắm giữ nhiều hơn” và “tạo ra k hông gian”
Hai hiệu ứng-"nắm giữ nhiều hơn" và "tạo ra không gian" – kết hợp với mẫu số của (18) có
xu hướng tăng lợi nhuận mong đợi của nhà đầu tư gây nhiễu. Hai hiệu ứng- Friedman và "sức ép
giá" – kết hợp với tử số của (18) có xu hướng làm giảm thấp hơn lợi nhuận mong đợi của các nhà
đầu tư gây nhiễu. Không một cặp nào chiếm ưu thế hơn một cách rõ ràng. Các nhà đầu tư gây
nhiễu không thể kiếm được lợi nhuận cao hơn mức trung bình nếu họ đang ở trên mức trung bình
hướng giảm, nếu p* không vượt quá số 0 sẽ không có hiệu ứng "nắ m giữ nhiều hơn" v à (18) phải
bị âm. Cũng không phải các nhà đầu tư gây nhiễu có thể kiếm đ ược lợi nhuận cao hơn mức trung
bình nếu chúng quá lạc quan, k hi p* nhận hiệu ứng "sức ép giá" nhiều, gia tăng (p*)2, chiếm ưu
thế. Đối với mức độ lạc quan trung bình của các nhà đầu tư gây nhiễu k iếm được lợi cao hơn dự
kiến. Và nó rõ ràng từ (18), lớn hơn là γ, đó là sợ rủi ro nhiều hơn là các đại diện, lớn hơn là phạm
vi của p*trong đó các nhà đầu tư gây nhiễu kiếm lợi cao hơn mức trung bình.
Một số sự k hác thường của tài chín h, điển hình là trò chơi Mehra-Presscott
Các nhà đầu tư thiếu thông tin k iếm được một mức lợi nhuận mong đợi cao hơn khi nào
mà các tài sản không an toàn được định giá thấp hơn giá trị cơ bả n của nó thì có thể làm sáng tỏ
trò chơi Mehra-Prescott (1986) nổi tiếng. M ehra và Prescott (1986) cho thấy lợi nhuận bình quân
thực nhận trên vốn cổ phần US hơn sáu mươi năm nay đã được khoảng 8%, và doanh thu thực sự
của trái phiếu an toàn chỉ khoảng là 0. Phí bảo hiểm rủi ro như vậy có vẻ là không phù hợp với mô
hình người tiêu dùng đại diện tiêu chuẩn mà đ ược áp dụng cho dữ liệu người tiêu dùng Mỹ, trừ
khi có một hệ số ác cảm rủi ro lớn một cách không hợp lý.
Mô hình của chúng tôi làm sáng tỏ các trò chơi M ehra-Prescott chỉ khi cổ phần là quá thấp,
mà chính nó là một điều kiện cầ n thiết đối với các nhà đầu tư thiếu thông tin để kiếm đ ược lợi
nhuận mong đợi cao hơn. Nói cách k hác, thực tế là phí bảo hiểm vốn cổ phần của Mehra-Prescott
thu được trong một nền kinh tế là bằng chứng cho đề xuất mà lợi nhuận mong đợi kỳ vọng của các
doanh chênh lệch giá có tầm nhìn ngắn hạn và phải lo lắng về sự thanh toán các khoản đầu tư của
họ trong mộ t tài sản bị định giá sai, phản ứng của họ sẽ được g iới hạn ngay cả trong trường hợp
không có rủi ro cơ bản. Trong trường hợp này, đầu tư thiếu thông tin có thể dẫn đến một sự phân kỳ lớn giữa giá thị trường và giá trị cơ bản. Hơn nữa, các nhà đầu tư gây nhiễu có thể được bù đắp
cho v iệc gánh chịu rủi ro mà họ tự tạo ra và vì vậy có thể để kiếm được lợi nhuận cao hơn so với
các nhà đ ầu tư tinh vi ngay cả khi họ bóp méo giá cả.
Bài nghiên cứu này cũng cho rằng một số bất thường thị trường tài chính có thể được giải
thích bởi ý tưởng của rủi ro đầu tư thiếu thông tin. Những bất thường bao gồm các biến động
vượt quá và có nghĩa là trao giá cả thị trường chứng k hoán, sự thất bại của các giả thuyết mong
đợi của các cấu trúc kỳ hạn, phí bảo hiểm vốn chủ sở hữu Mehra-Prescott, sự định giá thấp của các
quỹ tương hỗ đ óng – mở và nhiều người khác. Các giả đị nh cần thiết chúng tôi sử dụng là các ý
kiến của các nhà đầu tư gây nhiễu k inh doanh là không thể đoán trước và kinh doa nh chênh lệch
giá đ òi hỏi phải chịu rủi ro mà nhận thức sai lầm của họ trở nên cực đoan hơn vào ngày mai hơn
ngày nay. Bởi vì "không thể tiên đoán" có vẻ là một tài sản chung của những hành vi của các nhà
đầu tư cảm tính, chúng tôi tin rằng kết luận của chúng tôi k hông chỉ đơn g iản là kết quả của một
tham số cụ thể của các hành động các nhà đầu tư gây nhiễu.
Mô hình của chúng tôi cho thấy rằng có rất nhiều hành vi của những người kinh doanh
chênh lệch giá chuy ên nghiệp có thể được xem như là một phản ứng đối với đầu tư thiếu thông tin
hơn là kinh doanh trên nguy ên tắc cơ bản. Nhiều người kinh doanh chênh lệch giá chuyên nghiệp
dành nguồn lực của họ để xem xét và dự đoán các nhà đầu tư gây nhiễu có dấu hiệu giả theo để
đặt cược chống lại họ thành công hơn. Những tín hiệu giả bao gồm mô hình khối lượng và giá cả,
các chỉ số cảm tính, và những dự báo đầy kinh nghiệm của Wall Street. Cũng giống như nó trả tiền
nhà doanh nghiệp để xây dựng sòng bạc để khai thác bạc, nó trả tiền nhà đầu tư hợp lý để dành
nguồn lực đáng kể để khai thác các nhà đầu tư gây nhiễu. Trong cả hai trường hợp, lợi nhuận riêng
đối với hoạt động này có thể vượt quá lợi ích xã hội.
Tập trung củ a chúng tôi về bất hợp lý trong thị trường tài chính xuất phát từ các nghiên
cứu duy lý trước đây của các nhà đầu tư được cho là không đồng nhất (Grossman và Stiglitz 1980,
Townsend 1983, Varian năm 1987, và Stein 1987). Nhiều kết quả trong bài viết này có lẽ có thể