LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán
trung và dài hạn. Trong đó các chứng khoán được chào bán lần đầu trên thị
trường chứng khoán sơ cấp và được giao dịch qua lại giữa các nhà đầu tư trên
thị trường thứ cấp. Thị trường chứng khoán với vai trò là kênh dẫn vốn của nền
kinh tế, tạo tính thanh khoản cho các tài sản, tập trung và phân phối lại nguồn
vốn, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế. Xu thế
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới cùng với thị trường chứng khoán
của các nước phát triển càng khẳng định lại vai trò của nó và sự phát triển của
thị trường chứng khoán là tất yếu.
Thị trường chứng khoán ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà
đầu tư, sự đầu tư này tuy là rất hấp dẫn song cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do
vậy, việc tìm hiểu, phân tích nhằm giảm thiểu rủi ro đầu tư là rất cần thiết. Trên
thế giới đặc biệt là ở các thị trường tài chính hiệu quả có những vấn đề mà các
nhà đầu tư tìm hiểu rất kĩ trước khi tham gia đầu tư. Người ta thường đặt câu hỏi
“ một cổ phiếu có rủi ro không?” hay “hệ số beta của cổ phiếu là bao nhiêu?”.
Rất nhiều người đều biết rằng beta là một thước đo khả năng biến động của một
cổ phiếu ( hay một danh mục) trong mối quan hệ với phần còn lại của thị trường.
Tuy nhiên, làm thế nào để lượng hoá rủi ro, tại sao lại dùng beta để đo lường rủi
ro, ý nghĩa của hệ số beta như thế nào và các ứng dụng của nó trên thị trường
chứng khoán thì chưa thật nhiều người biết đến.
Từ lí do đó em xin lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Ước lượng hệ số rủi ro β
của danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để qua đó đóng
góp một phần nhỏ làm rõ thêm về vấn đề này.
Trong chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót do thời gian tìm hiểu
về đề tài có hạn nên em rất mong được sự giúp đỡ chỉ bảo của các thầy cô và các
bạn.
1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
II. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử
dụng. Như vậy, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối
quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá trị của chứng khoán chứa
đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng
khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Với những đặc điểm đó, thị trường chứng khoán đã trở thành một kênh
huy động vốn quan trọng và hiệu quả, một thực thể không thể thiếu được đối với
nền kinh tế hiện đại.
3
2. Chức năng của thị trường chứng khoán
2.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và
chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích
sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã
hội.
2.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư
lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị
trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư
có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của
mình.
2.3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các
chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ
muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng
khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của
vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả
thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
Nhà đầu tư là người kinh doanh chứng khoán thông qua các công ty môi
giới chứng khoán mua bán chứng khoán. Nhà đầu tư có thể chia thành 2 loại:
nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
- Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích kiếm lời.
- Các nhà đầu tư có tổ chức hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường
xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp
chính là các công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu lương và các quỹ
5
bảo hiểm xã hội khác. Điểm nổi bật của các tổ chức này là nó có thể đa dạng hoá
danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có
kinh nghiệm.
Các nhà đầu tư tham gia với mục đích lớn nhất là kiếm lời nhưng hiếm khi
thấy các nhà đầu tư tập trung toàn bộ của cải vào một loại chứng khoán. Thay vì
làm như vậy họ thường đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau. Lý do là
tất cả các nhà đầu tư đều thích đạt được lợi nhuận cao từ đầu tư chứng khoán
nhưng hầu hết không thích các rủi ro lớn thường đi kèm với chứng khoán có lợi
nhuận kỳ vọng cao. Hay nói cách khác: Hầu hết các nhà đầu tư đều e ngại rủi ro.
Ta có thể phân chia thành 3 dạng nhà đầu tư. Nhà đầu tư e ngại rủi ro là nhà
đầu tư mà cùng một mức lợi nhuận kỳ vọng họ sẽ chọn danh mục có mức độ rủi
ro nhỏ hơn. Nhà đầu tư thờ ơ với rủi ro là không quan tâm đến rủi ro. Nhà đầu tư
thích rủi ro là nhà đầu tư thích chọn một danh mục có rủi ro cao hơn để kì vọng
vào tỉ suất lợi nhuận lớn hơn có thể đạt được.
Đứng trên quan điểm là người phân tích và tư vấn chứng khoán, việc xác
định thái độ đối với rủi ro của nhà đầu tư là rất quan trọng, từ đó để xây dựng và
tư vấn cho nhà đầu tư chọn lựa một danh mục tốt nhất. Mặt khác, môi trường
kinh tế là bất định, luôn có sự biến động về giá trị của các tài sản trên thị trường,
do vậy các nhà đầu tư luôn phải điều chỉnh danh mục đầu tư của mình, không
những giảm thiểu rủi ro cho mình mà còn có thể tận dụng được các cơ hội xuất
hiện trên thị trường.
3.5. Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán
Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán có chức năng xây dựng kế hoạch
và chính sách phát triển thị trường chứng khoán, quản lý và giám sát hoạt động
của thị trường, hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường bảo đảm
cho hoạt động của thị trường hoạt động an toàn, công bằng và công khai; cấp,
gia hạn, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến hoạt động về chứng
khoán và thị trường chứng khoán; thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong
lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
7
Hầu hết các nước thành lập cơ quan quản lý thị trường có tên gọi chung là
Ủy ban Chứng khoán, cơ quan này có thể là một cơ quan độc lập trực thuộc
Chính phủ, Quốc hội hay trực thuộc một Bộ hoặc là một cơ quan quản lý đa
ngành. Ở Việt Nam cơ quan quản lý thị trường là Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước, trực thuộc Bộ tài chính, chịu tránh nhiệm quản lý, giám sát đối với toàn bộ
hoạt động thị trường chứng khoán.
4. Hàng hoá trên thị trường chứng khoán
Chứng khoán là hàng hoá của thị trường chứng khoán. Theo Markowitz: tài
sản tài chính là các chứng từ thể hiện quyền của người sở hữu các tài sản đó đối
với các nguồn thu nhập tương lai của chủ thể phát sinh. Như vậy chứng khoán
được coi là một tài sản tài chính.
Trong quá trình phát triển của thị trường, hàng hoá ngày càng đa dạng,
phong phú, và người ta chia chứng khoán thành 4 loại chính: cổ phiếu, trái
phiếu, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh.
Cổ phiếu là một chứng khoán vốn xác nhận các quyền sở hữu và lợi ích
hợp pháp của một cổ đông đối với một công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài
chính có thời hạn thanh toán vô hạn. Có thể chia thành các loại cổ phiếu sau:
- Cổ phiếu thường: Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham gia
kiểm soát, theo dõi, quản lý công việc của công ty thông qua cơ chế đại diện và
biểu quyết.
- Cổ phiếu ưu đãi: Cổ đông nắm giữ không được tham gia vào bán bầu
nước bộc lộ nhiều bất cập, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ cần
phải sắp xếp đổi mới. Ỏ thời điểm này còn nhiều quan điểm không đồng ý tư
nhân hóa và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước- thành phần chủ đạo trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhưng trước yêu cầu đổi mới do phát triển kinh tế, chiến lược công nghiệp
hóa, chủ trương cổ phần hóa đã được đưa ra với văn bản pháp quy đầu tiên là
nghị định 28/CP ngày 7/5/96 của chính phủ về chuyển đổi một số doanh nghiệp
nhà nước thành công ty cổ phần. Sau hơn 2 năm thực hiện chỉ có hơn 10 doanh
nghiệp được cổ phần. Để thúc đầy quá trình này, ngày 29/6/98 chính phủ ban
9
hành nghị định 44/1998/NĐ-CP thay thế NĐ 28/CP với mục tiêu từ 5-10 năm cổ
phần hóa phần lớn các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong những ngành
nghề không phải ngành kinh tế trọng điểm. Cùng chung với nỗ lực này, ý tưởng
hình thành thị trường chứng khoán để tạo ra môi trường thuận lợi giúp cho quá
trình cổ phần hóa nhanh hơn.
Mặt khác, giai đoạn này nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Nam rất lớn. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế là 7-7.5% hằng năm. Cùng thời điểm
này, hệ thống ngân hàng vừa trải qua cú sốc năm 1989 và bắt đầu chuyển sang
kinh tế thị trường nên chưa phát huy được vai trò. Tín dụng cung cho nền kinh
tế chỉ chiếm trên 10%. Trước yêu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển cần
phát triển một kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế.
Và thị trường chứng khoán ra đời giải quyết được hai yêu cầu trên: Vừa thúc
đẩy cổ phần hóa, vừa tạo một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế.
Trước yêu cầu đó, ngày 28/11/96 chính phủ ban hành nghị định 75/CP về
thành lập UBCK. Ngày 4/7/1998 chính phủ ban hành nghị định 48/1998/NĐ-CP
về chứng khoán và thị trường chứng khoán...Và ngày 20/07/2000 trung tâm giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đi vào hoạt động đánh dấu sự phát
triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam.
2. Thị trường chứng khoán Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam có thể
thành viên của SGDCK TP.HCM cũng không ngừng tăng về số lượng, quy mô
và chất lượng dịch vụ. Tính đến hết ngày 31/12/2007, toàn thị trường đã có 62
công ty chứng khoán đăng ký làm thành viên của Sở với tổng số vốn đăng ký là
9.960 tỷ đồng. Các thành viên hầu hết được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh
với các nghiệp vụ gồm: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư.
Sự gia tăng nhanh chóng lượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường đã thu hút
được thêm nhiều nhà đầu tư, trong cũng như ngoài nước, cá nhân cũng như có tổ
chức. Đến cuối năm 2006, số lượng tài khoản của nhà đầu tư mở tại các công ty
chứng khoán thành viên lên tới trên 106 ngàn tài khoản, thì cho đến hết năm
2007 số lượng tài khoản của nhà đầu tư mở tại các CTCK đã lên tới gần 298
ngàn tài khoản trong đó có trên 7 ngàn tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài. Đối
11
với hoạt động giao dịch, SGDCK TP.HCM đã thực hiện giao dịch khớp lệnh
liên tục từ ngày 30/07/2007 và từng bước triển khai giao dịch nhập lệnh từ xa để
đáp ứng với tình hình thị trường đang phát triển. Tính đến ngày 31/12/2007,
SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 1699 phiên giao dịch với khối lượng
khoảng 4.225 triệu chứng khoán và gía trị khoảng 384.452 tỷ đồng. Riêng trong
năm 2007, khối lượng giao dịch đạt khoảng gần 2.390 triệu chứng khoán với
tổng giá trị giao dịch là 245.651 tỷ đồng.
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
Tháng 6/2004, Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận
của Lãnh đạo Bộ về mô hình tổ chức và xây dựng thị trường giao dịch chứng
khoán Việt Nam. Trong đó, định hướng xây dựng Trung tâm GDCK Hà Nội
thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản, gọn nhẹ. Ngày
8/3/2005 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh dấu một
bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chức năng của trung tâm là :
- Tổ chức đấu giá cổ phần cho các doanh nghiệp.
- Tổ chức đấu thầu trái phiếu.
- Tổ chức giao dịch theo cơ chế đăng kí giao dịch.
quan hành chính): tham gia hội đồng là các thành viên đại diện cho bộ, ngành
tổng hợp; bên dưới là các cơ quan quản lý hàng ngày. Theo kinh nghiệm quốc
tế, hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán đều có tính
độc lập tương đối cao, có thẩm quyền quản lý được quy định trong luật. Ở Việt
Nam Bộ tài chính là cơ quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực của Chính phủ,
có chức năng, quyền hạn rất rộng liên quan đến lĩnh vực kinh tế, tài chính.
Nhưng với tính đặc thù của lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán,
Bộ tài chính cần có một cơ quan chuyên trách trực tiếp thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán – là Ủy ban chứng
khoán nhà nước. Dù Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là một cơ quan trực thuộc
bộ tài chính như hiện nay nhưng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban có
tính độc lập tương đối, khác với các quan khác trong Bộ - điều này thể hiện tính
13
đặc thù của quản lý lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán và cũng
phù hợp với các kiến nghị có tính chất nguyên tắc của IOSCO (Tổ chức quốc tế
các Ủy ban chứng khoán), chẳng hạn như: trách nhiệm của cơ quan quản lý cần
được quy định rõ ràng và khách quan, cơ quan quản lý cần được được độc lập
trong hoạt động và chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các chức năng và thẩm
quyền của mình, cần có đủ thẩm quyền, nguồn lực phù hợp và khả năng thực
hiện chức năng và quyền lực của mình, cơ quan quản lý cần có thẩm quyền đầy
đủ trong việc thi hành giám sát, kiểm tra, thanh tra và trong hoạt động cưỡng chế
thực thi.
Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong chức năng, thẩm quyền của
mình có thể xử phạt hành chính các vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Các vi phạm này nếu
cấu thành tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy để duy trì một thị trường phát triển lành
mạnh, ổn định, hiệu quả, bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, các nước trên thế
giới trong quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán đều rất chú
lượng đo lường sự phản ứng của lợi suất kỳ vọng của một chứng khoán tài chính
riêng biệt, có liên quan tới những biến động trong lợi suất kỳ vọng trung bình
của các chứng khoán còn lại trong thị trường. Hệ số bêta được coi như một
thước đo rủi ro thị trường của một cổ phiếu. Hệ số bêta liên kết lợi suất của cổ
phiếu với lợi suất của cổ phiếu với lợi suất trung bình của thị trường. Rủi ro thị
trường bình quân của tất cả các cổ phiếu trên thị trường bằng 1, đó là, việc tăng
10% trong lợi nhuận thị trường được phản ánh như 10% tăng thêm trong lợi
nhuận một chứng khoán A. Nếu lợi suất của một chứng khoán B, là 20%, nhưng
chỉ có 10% tăng thêm trong lợi suất thị trường, thì chứng khoán này có β =2 chỉ
ra một rủi ro lớn hơn của thị trường. Nếu một chứng khoán C có β =0.5, điều đó
nói lên chứng khoán này ít rủi ro hơn thị trường chung”.
16
Hệ số beta cũng được xem như là một yếu tố “ đòn bẩy” đối với lợi nhuận
của tài sản tài chính. Khi phần bù rủi ro thị trường (R
m
-R
f
) thay đổi 1% thì lợi
nhuận kỳ vọng của tài sản tài chính thay đổi β %.
Trên thị trường đầu tư, hệ số bêta được tính toán và sử dụng rất rộng rãi
trong việc tạo ra các quyết định đầu tư và đánh giá hoạt động của các nhà quản
lý đầu tư, trong phân tích cũng như hoạch định chiến lược đầu tư.
Do hệ số bêta là hệ số đo lường mức độ rủi ro, khi xác định được hệ số đo
lường mức độ rủi ro, khi xác định được hệ số bêta của công ty mình, các nhà
quản lý đồng thời ước lượng được rủi ro mà công ty mình đang gánh chịu, trên
cơ sở đó họ có thể đưa ra những đối sách hợp lý trong chiến lược phát triển của
công ty.
Trên một thị trường tài chính chuyên nghiệp, nơi mà việc đầu tư vào các
tài sản tài chính được thực hiện theo các danh mục và được quản lý bởi các nhà
quản lý đầu tư, hệ số bêta sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để các nhà
−
)(
*
i
β
(13)
Trong đó:
E(r
i
) : Là lợi suất kỳ vọng của cổ phiếu i.
R
f
: Là lợi suất phi rủi ro trên thị trường.
E(r
m
): Là lợi suất kỳ vọng của thị trường.
i
β
: Là thước đo về mức độ rủi ro của tài sản.
i
β
=
2
),(
m
mi
rrCov
σ
Hệ số bêta của một chứng khoán xác định theo mô hình CAPM là thước đo rủi
là tỉ trọng của chứng khoán i trong danh mục
2. Danh mục đầu tư và sự phòng hộ rủi ro cua danh mục đầu tư
2.1. Lý thuyết danh mục đầu tư
2.1.1. Khái niệm về danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư là một nhóm các tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc
một số tài sản khác như bất động sản, quyền chọn,.. do một nhà đầu tư hoặc một
tổ chức nắm giữ. Trên thị trường chứng khoán thì danh mục đầu tư ở đây nghĩa
là việc nắm giữ các tài sản là các chứng khoán.
Hay có thể nói danh mục đầu tư là việc một nhà đầu tư thực hiện việc đầu
tư bằng cách chọn lựa vị thế đối với các tài sản, và tập hợp các vị thế này gọi là
một danh mục đầu tư.
Có nhiều cách để thể hiện một danh mục đầu tư nhưng cách thuận lợi nhất
là thể hiện dưới dạng tỉ trọng các tài sản đầu tư trong danh mục. Ví dụ có danh
mục P:
1 2 N
(w , w ,..., w )
với
n
i
1
w 1
i
=
=
∑
,
i
w
là tỉ trọng của tài sản thứ i.
Phân tích và quản lý danh mục đầu tư là dựa vào thái độ đối với rủi ro
Nội dung chính của lý thuyết cho rằng thị trường hiệu quả là thị trường
trong đó giá cả của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ, tức thời tất cả các thông
tin hiện có trên thị trường. Điều này có nghĩa là giá cả được xác định ở mức
công bằng và phản ánh đầy đủ thông tin hiện có trên thị trường. Giá cả chứng
khoán thay đổi một cách ngẫu nhiên do ảnh hưởng của những thông tin không
thể dự đoán được.
Có 3 hình thái của thị trường có hiệu quả, đó là hình thái yếu, hình thái
trung bình và hình thái mạnh.
• EMH cấp thấp - hình thái yếu của thị trường: Trong hình thái này, giá cả
của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ và kịp thời những thông tin trong quá khứ
về giao dịch của thị trường như giá cả giao dịch, khối lượng, động thái,... Khi
hình thái yếu của thị trường tồn tại thì các nhà phân tích kỹ thuật sẽ bị “vô hiệu
hoá”.
20
• EMH cấp trung - hình thái trung bình của thị trường: Trong hình thái này
giá cả của chứng khoán đã phản ánh tất cả các thông tin liên quan đến công ty đã
được công bố công khai bên cạnh các thông tin trong quá khứ. Khi hình thái
trung bình tồn tại thì không có hình thức phân tích nào kể cả phân tích cơ bản và
phân tích kỹ thuật có thể đem lại lợi nhuận siêu ngạch cho nhà đầu tư nếu việc
phân tích chỉ dựa trên các thông tin trên thị trường.
• EMH cấp cao - hình thái mạnh của thị trường: Trong hình thái này giá cả
của chứng khoán phản ánh tất cả những thông tin cần thiết liên quan đến tổ chức
phát hành thậm chí đó là những thông tin nội gián, thông tin mật. Điều này có
nghĩa là thị trường sẽ phản ánh hết sức nhanh trước những thông tin. Và vì vậy,
trong hình thái này không thể thực hiện bất kỳ một hình thức phân tích nào.
2.1.3. Lý thuyết về đa dạng hoá rủi ro
Để đạt được mục tiêu tối đa hoá danh mục, nhà đầu tư phải đánh giá hai
thành phần quan trọng của danh mục đó là rủi ro và tỉ suất lợi nhuận. Tất cả các
quyết định điều chỉnh danh mục đều được cân nhắc dưới góc độ rủi ro và tỉ suất
lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đó. Các nhà đầu tư đều muốn cùng một mức độ
tài sản trên thị trường. Vì thế người ta gọi nó là rủi ro thị trường. Một số nguyên
nhân có thể dẫn đến rủi ro hệ thống như là thay đổi trong lãi suất, thay đổi trong
sức mua, thay đổi trong kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh tế...
- Rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hoặc
một nhóm nhỏ các tài sản, nghĩa là loại rủi ro này chỉ liên quan đến từng doanh
nghiệp cụ thể. Một số nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro phi hệ thống này như
năng lực và quyết định quản trị, đình công, nguồn cung ứng nguyên vật liệu,
những tác động về cạnh tranh của nước ngoài, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính
và đòn bẩy kinh doanh...
Tổng rủi ro = Rủi ro hệ thống + Rủi ro phi hệ thống
Tổng rủi ro của danh mục P:
2
2 2 2
*
P M P
PM
ε
β
σ σ σ
= +
22
Trong đó:
2 2 2
1
*
w
N
P i i
i
- Khái niệm: Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được
mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng
Rủi ro hệ thống
Rủi ro phi
hệ thống
N
23
nhất định hàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất
định.Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ
số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.
- Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn
+ Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền.
+ Loại quyền (chọn mua hay chọn bán).
+ Thời hạn của quyền.
+ Mức giá thực hiện theo quyền.
- Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn là:
+ Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở.
+ Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền.
+ Giá quyền lựa chọn.
Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của
chứng khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the money), tức
là người có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền đó. Nếu giá thực hiện
bằng với giá thị trường, quyền đang ở trạng thái hoà vốn (at the money), và nếu
cao hơn, gọi là đang mất tiền (out of money).
Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá
bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền
nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở mà họ muốn
cung cấp.
Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện
quyền được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value). Nếu quyền ở trạng thái bị mất
một cổ phiếu mới.
Vậy, giá quyền ở đây là Vr = (1.000.000 – 800.000)/10 = 20.000 đồng.
Nếu không muốn thực hiện quyền, cổ đông thường có thể bán quyền trên thị
trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá quyền có thể lên xuống trong
khoảng thời gian chào bán, tuỳ thuộc biến động giá thị trường của cổ phiếu.
2.3.1.3. Chứng quyền (warrants)
Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổ
phiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định. Quyền này được phát
hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khích
các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng có
những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có
được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường.
25