quỹ tín thác đầu tư bất động sản - Pdf 13

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ
QUỸ TÍN THÁC ĐẦU TƯ
BẤT ĐỘNG SẢN
(REAL ESTATE INVESTMENT
TRUST – REIT)

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2010

Trong bài viết, tác giả có trích dẫn nguồn thông tin tài liệu ở phần
footnote tuy nhiên có thể vẫn chưa đầy đủ, rất mong các tác giả của

2.4. Phân biệt giữa REITs và Cty kinh doanh/ phát triển BĐS 18
2.4.1. Hoạt động kinh doanh chủ yếu: 18
2.4.2. Về bản chất chứng chỉ REITs 19
2.4.3. Thuế 19
PHẦN 3: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA REITS 21
3.1. REITs Anh 21
3.2. REITs Nhật 23
Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department -
CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 2

3.3. REITs Singapore 25
3.4. REITs Hoa Kỳ 28
PHẦN 4. REITs TẠI VIỆT NAM 35
4.1. Tính tất yếu của REIT tại Việt Nam 35
4.2. Các hình thức sơ khởi và hoạt động của REIT tại Việt Nam 37
4.2.1. REIT trong nước 37
4.2.2. REIT nước ngoài 38
4.3. Cơ sở phát triển REIT tại Việt Nam 39
4.3.1. Cơ sở kinh tế 39
4.3.2. Cơ sở luật pháp 39
PHẦN 5: REITs VÀ TẬP ĐOÀN CÔNG TY 41
5.1. Sự tương thích giữa REIT và Công ty 41
5.2. Phương án đề xuất 42
5.2.1. Phương thức đầu tư, triển khai, và hoạt động: 42
a/ Như vậy về tổng quát, CÔNG TY có thể tiến hành tổ chức một REIT như sau: 44
b/ Một số nguyên tắc hoạt động của Công ty REIT 44
c/ Vận hành của Công ty REIT 45
5.2.2. Một số vấn đề cần lưu ý khi tiến hành hoạt động IPO REIT – Kinh nghiệm từ thị trường
Mỹ. 46

- Góc độ kinh doanh: Một loại hình kinh doanh mà nhà đầu tư mua cổ phiếu từ sự tín
nhiệm của mình vào khả năng chuyên nghiệp, kinh nghiệm, và uy tín của REITs, và ủy
thác cho REITs này đầu tư vào BĐS để kiếm lời.
- Góc độ pháp lý: Quy định pháp luật áp dụng cho loại hình tổ chức ở mục trên gọi là quy
chế về REITs. Ngày nay khi đề cập đến Quy chế về REITs thì REITs thường được hiểu là
một định chế được pháp luật điều chỉnh, có chức năng huy động vốn dài hạn cho thị
trường BĐS thông qua các ưu đãi có điều kiện về thuế. 1
Investopedia
Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department -
CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 3

1.2. Sự hình thành và phát triển của REITs
REITs lần đầu được định nghĩa, và chính thức luật hóa tại Mỹ (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) vào
năm 1963 bằng đạo luật Quỹ đầu tư tín thác BĐS (Real Estate Investment Trust Act 1960). Tuy
nhiên cho đến thập niên 90s, số lượng của REITs mới được gấp đôi so với khi vừa ra đời, và
được giới đầu tư để mắt đến. Kể từ đó REITs bắt đầu phát triển, và ngày càng mạnh hơn khi Luật
thuế điều chỉnh 1986 cho phép các REITs được điều hành nội bộ (self management) được thông
qua.
Ngày nay, REITs đã có mặt ở tất các loại hình BĐS bao quát tất cả hoạt động, nhu cầu của người
dân, từ cơ bản (khu mua sắm bán lẻ) đến cao cấp (đánh golf), từ lúc sinh ra (bệnh viện), lớn lên
(căn hộ, trường học, bệnh viện) cho đến lúc mất đi (nghĩa trang – cemetery). Nó làm phong phú
thêm danh mục cho nhà đầu tư đối với loại hình kinh doanh BĐS sinh lợi cao, nhưng khác với
loại hình đầu tư BĐS truyền thống ở chính tính thanh khoản. Hơn nữa do phủ khắp mọi hoạt
động của đời sống, và hoạt động ở nhiều nơi2, nên khi thị trường BĐS đi xuống thì việc đa dạng
hóa danh mục các REITs khác nhau cũng mang độ an toàn cao cho nhà đầu tư.
Hiện tại, có khoảng 30 quốc gia trên thế giới có luật quy định điều chỉnh về REITs trải dài từ Âu
5
Tara kalwarski, Bloomberg News, Bloomberg Business Week.
6
Chủ yếu là thị trường Nhật Bản, trong khi đó thị trường Malaysia, South Korea, và Hongkong có tỷ suất lợi nhuận
dương do ít sử dụng đòn bẩy nợ, và tập trung đầu tư vào lĩnh vực chủ chốt chứ không dàn trải, và sát nhập nhiều
(nguồn 3: đã dẫn)
Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department - CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 5

23 Nov. 2010 (updated) – Return based on USD
Global Americas Asia/Pacifc Europe Middle East/Africa
Return Components Dividend Return Components Dividend Return Components Dividend Return Components Dividend Return Components Dividend
Period Total Price Income Yield Total Price Income Yield Total Price Income Yield Total Price Income Yield Total Price Income Yield
Annual (including current year to date)
2006 43.72 38.55 5.18 NA 36.63 31.06 5.57 NA 39.72 34.92 4.81 NA 69.69 65.28 4.41 NA 13.20 4.78 8.42 NA
2007 -4.65 -7.87 3.21 NA -13.98 -17.64 3.66 NA 18.60 15.41 3.19 NA -24.46 -26.54 2.08 NA 33.35 26.36 6.99 NA
2008 -48.90 -51.28 2.39 6.70 -42.37 -45.48 3.11 7.57 -53.99 -55.81 1.82 5.59 -51.18 -53.31 2.13 7.09 -34.48 -39.37 4.89 7.89
2009 41.25 34.76 6.50 3.79 37.31 30.33 6.98 3.60 44.91 39.45 5.46 3.58 40.94 33.53 7.41 4.44 43.30 31.35 11.96 7.83
2010 13.57 9.85 3.72 3.67 20.87 16.94 3.92 3.64 10.99 7.82 3.17 3.30 1.14 -3.10 4.24 4.47 30.32 21.14 9.18 6.23
Quarter (including current quarter to date)
2009: Q3 25.23 24.06 1.17 4.29 36.05 34.67 1.38 3.85 13.95 13.02 0.93 4.34 35.02 33.73 1.28 4.81 13.88 10.25 3.64 8.25
Q4 4.02 3.16 0.85 3.79 8.83 7.75 1.08 3.60 0.33 -0.52 0.85 3.58 1.89 1.51 0.37 4.44 6.59 5.72 0.87 7.83
2010: Q1 3.51 2.57 0.94 3.82 8.50 7.44 1.06 3.75 0.75 -0.11 0.86 3.54 -2.25 -2.90 0.65 4.42 11.22 7.90 3.32 7.47
Q2 -7.80 -8.93 1.14 4.04 -4.31 -5.24 0.93 4.01 -8.52 -9.39 0.87 3.65 -15.45 -17.88 2.43 4.89 -4.92 -5.80 0.88 7.16
Q3 19.11 18.18 0.93 3.62 15.19 14.17 1.02 3.61 20.24 19.36 0.88 3.28 28.09 27.56 0.54 4.21 21.81 18.52 3.29 6.22
Q4 -0.10 -0.49 0.39 3.67 1.07 0.61 0.46 3.64 0.15 -0.20 0.35 3.30 -4.46 -4.72 0.26 4.47 1.18 0.57 0.61 6.23
Month (including current month to date)
June -1.63 -2.06 0.43 4.04 -4.59 -4.98 0.39 4.01 0.69 0.22 0.47 3.65 1.38 0.90 0.48 4.89 1.15 1.15 0.00 7.16


1.3. Sự cần thiết của REITs
REITs có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư, cũng như đối với cả nền
kinh tế.
1.3.1. Lợi ích đối với nhà đầu tư:
Khi đầu tư, nhà đầu tư luôn mong đợi chứng khoán kinh doanh sẽ có mức lợi tức cao,
cũng như mức rủi ro đi kèm. Và do vậy họ luôn so sánh lợi ích – chi phí trước khi lựa
chọn đầu tư. Trước tiên cần phải hiểu, việc đầu tư REITs phù hợp với mẫu hình nhà đầu
tư thận trọng (risk averse) vì về đặc điểm chứng khoán REITs có nhiều nét tương đồng
với cổ phiếu các cty dịch vụ công, cổ phiếu ưu đãi, chứng khoán chuyển đổi, hay trái
phiếu trung-dài hạn (bond). Do vậy sẽ chính xác hơn nếu đặt REITs trong mối tương
quan so sánh với các sản phẩm chứng khoán đầu tư kể trên.
Với cổ phiếu các công ty dịch vụ công (Utility stock). REITs cung cấp một nơi trú ẩn an
toàn cho nhà đầu tư hướng đến thu nhập (income-oriented investor) trong điều kiện lạm
phát giảm ( gây áp lực giảm lợi tức cổ phiếu ~ stock yield), hoặc rủi ro do các động
thái nới lỏng luật lệ của chính sách. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh của cty dịch vụ
công còn phải gặp rủi ro từ cạnh tranh trong khi cổ phiếu REITs có thể khắc phục điều
này do đặc thù của ngành kinh doanh BĐS.
Nếu trong trường hợp trên, REITs cạnh tranh trực tiếp, thì trong trường hợp bond việc
cạnh tranh không trực tiếp như vậy (analogous). Chứng khoán REITs mang hình thức cổ
phiếu do vậy nó tồn tại mãi mãi trong khi bond lại là một hình thức chứng khoán có thời
hạn. Lợi tức sinh được trên bond là cố định, trong khi nếu điều kiện thị trường bình
thường lợi tức sinh ra bởi cổ phiếu REITs sẽ cao hơn do có thể kết hợp cả mức chia lời
cao, cộng với khả năng tăng giá của chính cổ phiếu đó. Mặc dù bond có lợi thế về sự đảm
bảo của thu nhập, nhưng lại không thể bảo vệ nhà đầu tư trước rủi ro lạm phát trong khi
đó chứng khoán REITs nhờ vào bản chất hoạt động của mình tỏ ra là một công cụ hiệu
quả bảo vệ đồng tiền trước rủi ro lạm phát tăng.
Đối thủ mạnh nhất, cạnh tranh trực tiếp với cổ phiếu REITs là chứng khoán chuyển đổi
do các đặc điểm: vừa là trái phiếu, và cổ phiếu (trái phiếu đến hạn chuyển đổi)  đảm
bảo về cả thu nhập (cho đến khi đáo hạn trái phiếu), và cơ hội tăng giá khi được chuyển

cạnh tranh .
REITs tạo động lực phát triển tính chuyên nghiệp và kinh nghiệm trong dịch vụ quản lý
tài sản.
Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department -
CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 8

REITs có thể hỗ trợ phát triển một số chương trình nhà ở xã hội với nguồn vốn dài hạn
của mình. Trong điều kiện không bị gánh nặng tiền vay NH, REITs có thể giữ giá bán,
hoặc cho thuê ở mức hợp lý.
Nhờ đầu tư vào tài sản cho thuê, REIT có thể mang lại một số lợi thế cho nhiều doanh
nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp tăng hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp mà không chịu áp lực từ các khoản đầu tư tài sản cần thiết cho hoạt động của
doanh nghiệp.

Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department -
CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 9
PHẦN 2: CẤU TRÚC, TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA REITS
2.1. Phân loại REITs theo đối tượng đầu tư
8

2.1.1. Equity REITs
Phần lớn các REITs thuộc về loại này. Các REITs này đầu tư trực tiếp vào BĐS. REITs
nhận được lợi tức cho thuê BĐS và đôi khi là bán tài sản. REITs phát hành cổ phiếu tạo
lập quỹ vốn chung (blind-pool) ) nhằm mục đích đầu tư nhiều lĩnh vực không nhất
định và hình thành các bất động sản trong khoảng thời gian không xác định.

(mortgage-backed pass-through certificates). Đòn cân nợ của REITs mortgage cao hơn
nhiều so với equity REITs.
Các REIT này rất nhạy cảm với chất lượng tín dụng của những người vay. Một số REIT
cho vay hạn chế các khoản đầu tư của REIT vào xây dựng và các tài sản đảm bảo ngắn
hạn; một số khác chỉ đầu tư vào tài sản đảm bảo dài hạn hoặc vĩnh viễn, và một số REIT
cho vay đầu tư vào cả hai loại tài sản đảm bảo này.
Một dạng quỹ cho vay khác – quỹ cho vay chuyên dụng – được tổ chức để cung cấp cho
các đơn vị chuyên phát triển dự án bất động sản các khoản vay có đảm bảo đối với một
dự án được xác định trước.
Tóm lại, mortgage REIT cho chủ sở hữu bất động sản hoặc những người khai
thác bất động sản vay tiền, ví dụ REIT cho vay để mua lại quyền khai thác một khách sạn
trong vòng một số năm nhất định.
Trong những năm gần đây, nhiều quỹ REIT cho vay đã bắt đầu phát hành loại trái phiếu
đảm bảo bằng các khoản vay có cầm cố thế chấp bất động sản (Collateralized Mortgage
Obligations - CMOs)
10
với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay có tài sản đảm bảo hoặc
chứng thư chuyển quyền sở hữu và nghĩa vụ thanh toán do REIT yêu cầu phát hành để
đảm bảo cho CMOs tương ứng.
2.1.3. Hybrid REITs
Các REIT hỗn hợp được thành lập để đầu tư vào bất động sản sở hữu và tài sản đảm bảo.
Các REIT loại này có thể được phân biệt bởi các đặc điểm khác, như REIT đóng hay
REIT mở. Đối với REIT đóng, số cổ phần phát hành ra công chúng lần chào bán đầu tiên
được giới hạn nhằm bảo vệ các cổ đông không bị sụt giảm cổ tức của cổ phiếu phổ thông
và giá trị cổ phiếu trong tương lai. Thực tế đưa lại kết quả là các phương án thu lợi nhuận

10
Là một nhánh phát triển của loại hình sản phẩm chứng khoán hóa truyền thống liên quan đến các khoản vay thế
chấp mua nhà gọi là MBS (Mortgage Backed Security) gồm CMO và MPT. CMO ra đời nhằm giải quyết rủi ro
thanh toán sớm. Xem thêm về CMO (Cẩm nang ngân hàng đầu tư, Mạc Quang Huy, tr.414, 2009, NXB Thống kê)

hoặc Người được ủy quyền (Trustees) do cổ đông bầu ra. Cổ phiếu của REIT có thể mua
bán trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn, cả trường sơ cấp và thứ cấp. Theo mục đích
quản lý, REIT dạng này có thể chia thành hai phân nhóm sau:
Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department -
CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 12

- Phân nhóm 1: REIT tự quản (REIT self-managed). Dạng này được áp dụng ở Mỹ, các
nước Tây Âu và Nhật. REIT loại này thường tự quản lý tài sản của REIT để thu lợi. Quy
định pháp luật có liên quan ở những quốc gia này rất chặt chẽ đối với tiêu chuẩn của Ban
Giám đốc và nhân viên điều hành của các REIT này. Đó là những người phải có chuyên
môn phù hợp, kinh nghiệm và uy tín trong lĩnh vực tài chính và bất động sản; không được
phép có những quan hệ cá nhân hoặc quan hệ đầu tư có thể mang lại những quyết định
kinh doanh không vô tư.
- Phân nhóm 2: REIT được quản lý bởi công ty quản lý bất động sản (REIT managed by
a hired Properties Management Company. Dạng này khá phổ biến ở nhiều quốc gia
khác. REIT giao phó hoặc ủy thác một công ty quản lý bất động sản chuyên nghiệp (sau
đây gọi là công ty quản lý) để tiến hành các hoạt động đầu tư. Ban giám đốc/ Những
người nhận ủy thác hạn chế phạm vi hoạt động theo theo hợp đồng với công ty quản lý và
ngân hàng giám hộ và cả trong việc quyết định chiến lược đầu tư, kế hoạch kinh doanh,
chính sách cổ tức…
Trong trường hợp này, lợi tức thu được từ việc bán cổ phần của REIT phải được chia
thành 2 phần. Một phần dành cho khoản đầu tư đưa vào ngân hàng giám hộ đã được
chọn; phần rất nhỏ còn lại được sử dụng để thanh toán các chi phí quản lý.
Giống như ngân hàng, các công ty quản lý bất động sản được thành lập theo một trình tự
thủ tục chặt chẽ đảm bảo các tiêu chuẩn và điều kiện đặc biệt. Hoạt động của các công ty
quản lý này được kiểm soát và giám sát bởi cả những người được ủy thác hoặc đại diện
cổ đông và cơ quan giám hộ có thẩm quyền (thường là một ngân hàng được chọn và chỉ
định bởi chính phủ) với hỗ trợ từ các cơ quan tổ chức có liên quan như công ty kiểm toán,
tổ chức định giá tài sản.

 Nhà tài trợ, hỗ trợ: thông thường, các công ty quản lý cũng đồng thời là các nhà
tài trợ hoặc hỗ trợ thành lập các REIT.
 Quỹ: khoản tiền đóng góp bởi các nhà đầu tư và ủy thác cho công ty
quản lý để thực hiện việc đầu tư kiếm lời. Khoản tiền tổng cộng này là thu nhập
phát sinh từ việc bán cổ phần của REIT cho các nhà đầu tư.
 Người nhận ủy thác và giám hộ: có thể là một người, hoặc một nhóm người đáp
ứng được yêu cầu, hay một tổ chức đáp ứng được điều kiện (ngân hàng hoặc công
ty ủy thác). Đây là các đại diện chịu tráchô nhiệm trông nom, giám sát và bảo vệ
tài sản, lợi ích của các nhà đầu tư.
 Kiểm toán, định giá hay thẩm định viên.
 Công ty đặc biệt (Special Purpose Vehicle – SPV)
11
giống loại hình cty con
(taxable subsidiary) phổ biến tại VN. SPV này được REITs đầu tư thành lập hoặc
REITs cùng với các nhà đầu tư khác đầu tư riêng rẻ vào tài sản đặc biệt. Tình
trạng của các SPV này không thể trong bản cân đối kế toán của REITs, vì vậy
SPV thường được gọi là “Công ty ngoại bảng cân đối” (Off-balance-sheet
companies). Tuy nhiên những công ty này phải chịu luật REITs modernization
Act (1999).
12

 Các tổ chức tư vấn trên thị trường BĐS và quản lý tài sản.
2.3. Phân loại REITs theo cấu trúc vận hành
13

2.3.1. REITs truyền thống (Traditional REITs)
REITs truyền thống trực tiếp nắm giữ tài sản của mình, trong khi UPREITs và
DOWNREITs (sẽ được đề cập sau) nắm giữ tài của REITs thông qua các đối tác.
Mô hình REITs truyền thống.


Nov.2010 Internal Circular Page 16

tức (gọi là Operating Partnership Units – OP Units) trong giai đoạn chuyển tiếp. Sau một
khoảng thời gian, thường là 1 năm, những chứng chỉ OP này có thể được bán hoặc
trao đổi lấy cổ phần của REIT. Các chứng chỉ OP thường được định giá ở mức tương
đương cổ phần của REIT và OP cũng có thể được trao đổi trên thị trường chứng khoán,
ngoại trừ khi UPREIT là một REIT thành viên.
Đối với UPREIT, tất cả đối tác đều có trách nhiệm giới hạn tương ứng với vốn đóng góp.
REIT đối tác luôn là đối tác chính với phần vốn góp chi phối.
Tổ chức hợp tác hiện hữu có thể được hưởng lợi từ việc trao đổi tài sản lấy các chứng chỉ
OP vì : nếu bán tài sản cho UPREIT thì có thể hoãn được các khoản thuế (tax shelter) cho
đến khi các chứng chỉ OP này được đổi thành tiền mặt hoặc cổ phiếu.
Dạng REIT này cũng là một giải pháp mà một số công ty muốn tham gia để được áp
dụng quy chế dành cho REIT, sử dụng để thực hiện việc mua bán, sáp nhập các tài sản
hiện hữu để chuyển tài sản nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư mà không phát hành cổ
phiếu hoặc vay, hoặc thực hiện khoản thanh toán với quy mô lớn một lúc.
UPREITs được vận hành như mô hình dưới đây:
Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department -
CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 17

2.3.3. DownREITs
Về cơ bản, việc thành lập và hoạt động của DOWNREITs tương tự với
UPREITs. Tuy nhiên chúng thường được thành lập khi REITs trở thành một công ty công
chúng, và không bao gồm đối tác quản lý trong ban đối tác hiện hữu. DOWNREITs là
một công cụ được REITs sử dụng để mở rộng quy mô mà không làm ảnh hưởng đến
tài sản hiện hữu. Nhờ những ưu thế về cấu trúc của UPREITs, một số “phi UPREITs”

trên từng lãnh vực mà REITs thực hiện.
2.4.2. Về bản chất chứng chỉ REITs
Các chứng chỉ quỹ tín thác REIT thực sự là cổ phiếu mà người nắm giữ có thể hưởng lợi từ
tiềm năng gia tăng giá trị cổ phiếu nhờ vào những chuyển biến tích cực trong thị trường cho
thuê bất động sản, thay đổi lãi suất hay cầu về cổ phiếu REIT gia tăng.
Trong thực tiễn gần đây, các REIT thường tạo ra hiệu suất cổ tức cao bởi và đa số REIT chi
trả phần lớn thu nhập của REIT cho cổ đông dưới dạng cổ tức. Cổ tức này thường khá ổn
định và trong thực tế thường cao hơn trái phiếu chính phủ cũng như tín phiếu ngân
hàng. Cổ đông của REIT có thế nhận cổ tức đều đặn mà không phải can dự vào việc phản
lý REIT vốn được ủy thác cho công ty ty quản lý chuyên nghiệp dưới sự giám sát của
chính phủ. Kết quả là, nhiều nhà đầu tư đã xem chứng chỉ đầu tư của REIT đơn giản là một
loại trái phiếu có tỉ suất sinh lời cao.
2.4.3. Thuế
Mỗi quốc gia có chính sách thuế và quy định pháp luật riêng để điều chỉnh hoạt động kinh
doanh của REIT. Trong thực tế, REIT hầu như không phải chịu thuế ở hầu hết các quốc gia.
Nghĩa vụ thuế liên quan đến hoạt động kinh doanh của REIT được chuyển sang cho các nhà
đầu tư/ cổ đông của REIT, theo đó, các nhà đầu tư/ cổ đông của REIT phải trả thuế
đánh vào cổ tức hoặc lợi nhuận mà nhà đầu tư/cổ đông thu được từ cổ phần của REIT.
Mỗi quốc gia có một số quy định chặt chẽ mà bất kỳ REIT nào cũng phải tuân thủ nhằm
đạt được các lợi thế từ việc trở thành một “định chế được miễn thuế” đối với thuế thu
nhập công ty.
Chẳng hạn như, ở Mỹ, để đạt được tiêu chuẩn áp dụng miễn thuế thu nhập công ty, một REIT
phải đáp ứng:
 Có cơ cấu như một công ty, quỹ tín thác, hoặc một hiệp hội
 Được quản lý bởi một Ban giám đốc hoặc những người được ủy thác
 Có cổ phần có thể chuyển nhượng được hoặc chứng chỉ đầu tư có thể chuyển nhượng
được
Dương Khánh Toàn Study of REITs R&D Department -
CÔNG TY
Nov.2010 Internal Circular Page 20

2007) và có hiệu lực từ 01/01/2007. Vào ngày 01/04/2008, 18 tập đoàn bất động sản Anh quốc
được chọn chuyển thành REIT. Hiện có 22 REITs đang niêm yết tại thị trường CK của UK14 với
giá trị vốn hóa tính đến cuối 2009 là 37 tỷ USD15.
Điều kiện để một công ty chuyển sang REIT 16
Tọa lạc tại Anh;
Cổ phiếu được niêm yết trên sở giao dịch có uy tín;
Chỉ phát hành một loại cổ phiếu thường và có thể có cổ phần ưu đãi không có quyền
biểu quyết (có lãi suất cố định);
Công ty chuyển đổi không phải là một Công ty đầu tư dạng mở (OEIC)17 nhưng cũng không
phải là công ty dạng kinh doanh nhỏ (close company); 18

14
Xem thêm thông tin tại
15
www.reit.com
16
Xem thêm phụ lục tham khảo (điều kiện để là một UK REIT)
17
Open Ended Investment Company – OEIC (Source: Investopedia): What Does Open Ended Investment
Company - OEIC MeanA type of company or fund in the UK that is structured to invest in other companies with
the ability to adjust constantly its investment criteria and fund size. The company's shares are listed on the London
Stock Exchange, and the price of the shares are based largely on the underlying assets of the fund. There are no bid
and ask quotes on the OEIC shares; buyers and sellers receive the same price.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status