Tiểu luận: Exchange rate pass - through in emerging markets - Pdf 13



Tiểu luận EXCHANGE RATE PASS-THROUGH IN
EMERGING MARKETS

Tóm tắt
Mục đích của bài nghiên cứu này là xem xét mức độ tác động của sự chuyển dịch tỷ giá
(ERPT) tới giá cả tại 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu. Theo
kết quả của tác giả, dựa trên 3 mô hình vector tự hồi quy (VAR), phần nào trái ngược với
các nghiên cứu trước đây rằng ERPT tác động vào cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các
nước mới nổi luôn cao hơn ở các nước phát triển.
Các thị trường mới nổi với mức lạm phát 1 con số (hầu hết là các nước Châu Á), sự chuyển
dịch đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp và không quá khác biệt so
với những nền kinh tế phát triển. Bài nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về sự tương
quan dương giữa mức độ ERPT và lạm phát, giống với giả thuyết của Taylor khi loại trừ 2
nước (Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ) ra khỏi phân tích. Cuối cùng, về mặt lý thuyết thì có sự
tương quan dương giữa mở cửa nhập khẩu và ERPT, nhưng trên thực tế, tác giả chưa tìm
thấy những bằng chứng thực nghiệm vững chắc về vấn đề này.


Phân tích của tác giả phần nào trái ngược với các thông lệ trước đây là ERPT của "các nền
kinh tế mới nổi" luôn luôn cao hơn "các nền kinh tế phát triển". Đối với các nền kinh tế
mới nổi có mức lạm phát là một con số (nhất là các nước châu Á trong mẫu của tác giả),
ERPT thấp và không mấy khác biệt so với mức độ hiện tại của các nền kinh tế phát triển.
Nói chung, nghiên cứu thừa nhận sự tương quan dương giữa mức độ ERPT và lạm phát,
phù hợp với giả thuyết của Taylor. Kết quả này chỉ trở nên rõ ràng sau khi loại trừ 2 nước
(Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ), vì những khó khăn áp dụng trong thực nghiệm liên quan đến
sự bất ổn nghiêm trọng kinh tế vĩ mô ở hai nước này. Cuối cùng, về mặt lý thuyết thì có
tương quan dương giữa mở cửa nhập khẩu và ERPT, nhưng trên thực tế, tác giả chưa tìm
thấy những bằng chứng thực nghiệm vững chắc về vấn đề này.

2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây:
Hai thập kỷ qua, một lượng lớn tài liệu kinh tế về ERPT đã được nghiên cứu. Bắt đầu từ
những quan điểm khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra vai trò của ERPT ở các nền
kinh tế nhỏ và lớn. Các nghiên cứu đã được tiến hành ở các nước phát triển bao gồm:
Anderton (2003): “Extra-Euro Area Manufacturing Import Prices and Exchange Rate
Pass-Through”
 Sự dịch chuyển trong việc thay đổi tỷ giá có ảnh hưởng đến tỷ giá
đồng euro tới giá sản phẩm nhập khẩu trong khu vực ngoài châu Âu thì dao động
khoảng 50%-70%. Trong khi giá thị trường thì ước tính dao động từ 30%-50%.
 Các quốc gia thành viên châu âu nhưng không phải trong khu vực
chung châu âu áp một mức lớn hơn lên giá thị trường trong khi khu vực chung châu âu
nhập khẩu từ Mỹ chịu mức độ ảnh hưởng lớn của ERPT.
Campa và Goldberg (2004): “Exchange Rate Pass-Through into Import Prices”
 Đánh giá mức độ chuyển dịch tỷ giá vào giá nhập khẩu của 23 nước
OECD.
 Các nước có tỷ giá hối đoái và lạm phát biến động ít hơn có thể sẽ có

trong nước ở một số nền kinh tế công nghiệp hóa.
 TGHĐ có ảnh hưởng không đáng kể đến lạm phát giá cả trong nước
trong khi giá nhập khẩu có tác động mạnh mẽ hơn.
 Sự chuyển dịch có mức độ lớn hơn ở những nước có nhập khẩu lớn và
phụ thuộc nhiều vào tỷ giá và giá nhập khẩu.
Ngoài ra còn có một nguồn tài liệu áp dụng cho các nền kinh tế mới nổi bao gồm:
Choudri và Hakura (2006): “Exchange Rate Pass-Through to Domestic Prices: Does
the Inflationary Environment Matter?”
 Sử dụng số liệu của 71 nước phát triển và mới nổi trong giai đoạn
1979 – 2000 để kiểm chứng mức độ của sự phá giá lên lạm phát.
 Mức độ chuyển dịch mạnh hay yếu phụ thuộc vào mức độ lạm phát
ban đầu của nước phá giá. Sự chuyển dịch yếu đối với nước có mức lạm phát ban đầu
thấp và cao đối với nước có mức lạm phát ban đầu cao.
Frankel và cộng sự (2005): “Slow Pass-Through Around the World: A New Import for
Developing Countries?”
 ERPT ở các nước đang phát triển là cao hơn và ở các nước phát triển
là thấp hơn.
 Trong thập niên 90, sự ảnh hưởng bởi ERPT này yếu đi đối với các
nước đang phát triển và được giải thích bởi những thay đổi trong môi trường tiền tệ.
Mihaljek và cộng sự (2000): “A Note On The Pass-Through From Exchange Rate And
Foreign Price Changes To Inflation In Selected Emerging Market Economies”
Nguyên cứu sự dịch chuyển thông qua các thay đổi của tỷ giá hối đoái và thay đổi giá
nhập khẩu (tính bằng ngoại tệ) vào lạm phát trong nước của nhóm 13 nước có nền kinh
tế thị trường mới nổi và đưa ra các nhận định sau:
 Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái mạnh mẽ và cũng tương quan đồng
thời với lạm phát nhiều hơn là với sự thay đổi của giá nhập khẩu.
 Giá nhập khẩu và độ co giãn tỷ giá của lạm phát là như nhau ở 4 quốc

tỷ giá hối đoái trong tương lai.
Burstein và cộng sự (2003): “Distribution Costs And Real Exchange Rate Dynamics
During Exchange-Rate-Based-Stabilizations”
 Nghiên cứu vai trò của các lĩnh vực phân phối trong việc hình thành
hành vi của tỷ giá hối đoái thực tế trong quá trình thay đổi tỷ giá.
 Chi phí phân phối là một trong những lý do tại sao PPP thất bại vì chi
phí phân phối thường không được coi là yếu tố quyết định quan trọng của RER.
Burstein và cộng sự (2005): “
Large Devaluations and the Real Exchange Rate”

 Nguyên nhân chính đằng sau sự sụp đổ lớn trong tỷ
giá
hối đoái thực
xảy ra sau khi phá giá lớn là sự điều chỉnh giảm trong giá hàng hóa phi mậu dịch và
dịch vụ chứ không phải là sự thất bại của tương quan PPP đối với hàng hoá mậu dịch.
 Việc sử dụng giá bán lẻ hàng hoá mậu dịch dẫn đến sự phóng đại các
phần nhỏ của sự suy giảm trong RER mà điều này là do sự thay đổi trong giá cả hàng
hoá mậu dịch qua các nước.
Một hướng khác của lập luận nhấn mạnh hơn vai trò của chính sách tiền tệ, bằng cách bù
đắp một phần những tác động của thay đổi tỷ giá lên giá (Gagnon và Ihrig, 2004).
Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và Van Wincoop (2003) đã khám phá vai
trò của giá cả nội tệ trong việc giảm mức độ ERPT như sau:
Gagnon và Ihrig (2004): “Monetary Policy And Exchange Rate Pass-Through”
 Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến tỷ giá kỳ vọng và sự chuyển dịch
của tỷ giá. Khi doanh nghiệp tín nhiệm và tin vào việc ổn định lạm phát của ngân hàng
trung ương thì ít có sự biến động sẽ làm giảm sự chuyển dịch của tỷ giá vào giá trong
nước.

tỷ giá hối đoái càng ít biến động được hiểu là tạm thời và các công ty càng có thể đối phó
thông qua điều chỉnh giá.
Bằng chứng qua các nghiên cứu khác nhau đã ủng hộ toàn bộ giả thuyết của Taylor. SỰ
tương quan dương giữa mức độ chuyển dịch và lạm phát mạnh mẽ hơn, tuy nhiên, khi các
thị trường mới nổi được bao gồm trong mẫu được xem xét (xem riêng bảng dữ liệu bằng
chứng trong Choudhri và Hakura, 2006). Điều này có thể không ngạc nhiên, khi các tranh
luận của Taylor trở nên có ý nghĩa hơn cho tỷ lệ lạm phát cao.
Taylor (2000): “Low Inflation, Pass-Through, and the Pricing Power of Firms”
 Phá giá đồng tiền không phải lúc nào cũng gây ra lạm phát. Những
nước có tỷ lệ lạm phát thấp sẽ ít bị lạm phát sau khi phá giá.
 Với lạm phát ổn định ở mức thấp,
khi
doanh nghiệp định giá sản phẩm
trước một thời hạn nào đó sẽ định giá theo kỳ vọng là giá sẽ không biến đổi nhiều.
Trong môi trường lạm phát cao thì sự chuyển dịch này sẽ từ thấp thành cao vì doanh
nghiệp biết rằng lạm phát sẽ lên cao, do đó cũng sẽ định giá trước cho sản phẩm cao
theo.
Yếu tố quyết định quan trọng khác của ERPT từ một quan điểm lý thuyết là mức độ mở
cửa thương mại của một quốc gia. Hầu hết các kết nối tức thì giữa 2 biến là dương: Quốc
gia càng mở cửa giao thương, sự biến động tỷ giá hối đoái chuyển dịch vào CPI thông qua
giá nhập khẩu càng nhiều. Tuy nhiên, bức tranh trở nên phức tạp hơn khi tác giả đưa vào
nghiên cứu rằng lạm phát có thể tương quan âm với sự mở cửa, như thực nghiệm phát hiện
bởi Romer (1993).
Romer (1993): “Openness and Inflation: Theory and Evidence”
 Mối quan hệ giữa mở cửa và lạm phát sẽ mạnh hơn trong các quốc gia
có chính trị bất ổn và ngân hàng trung ương ít độc lập.
 Việc mở rộng chính sách tiền tệ không được dự đoán trước sẽ làm cho

pháp nghiên cứu dựa trên số lượng biến tương đối cao để cho phép xem xét động lực đủ
phong phú và để tránh sự thiên lệch biến bị bỏ sót.
Sau khi tác giả sử dụng những kết quả của các quốc gia tác giả xem xét để nghiên cứu các
thông lệ trước đây rằng ERPT ở thị trường mới nổi cao hơn trong nền kinh tế công nghiệp
hóa và nghiên cứu các mô hình sự chuyển dịch tỷ giá trong mối tương quan của chúng,
trích dẫn theo McCarthy (2000) và Choudhri và Hakura (2006). Dù ERPT cao hay không
cao ở thị trường mới nổi có đặt thành vấn đề để xác định cán cân thương mại cũng như sự
lựa chọn chế độ tỷ giá của một quốc gia. Mức độ tương đối cao của sự chuyển dịch cho các
nước đang phát triển cũng đã được xem như là một nhân tố cơ bản chứng minh rõ ràng
"khuynh hướng tránh dao động tỷ giá" của các nước đang phát triển. Nó cũng có ý nghĩa
bởi vì sự chuyển dịch thấp ở thị trường mới nổi có thể khiến năng lực thị trường của các
công ty ở những quốc gia này gia tăng không ngừng, như là xu hướng toàn cầu hoá. Tuy
nhiên, những quốc gia thị trường mới nổi bộc lộ những nét đặc trưng quan trọng gây khó
khăn trong việc ước lượng ERPT. Một số nước châu Á thường xuyên theo đuổi các chính
sách tích cực nhằm kiểm soát tỷ giá hối đoái. Các quốc gia Trung và Đông Âu đã trải qua
một sự chuyển biến căn bản nền kinh tế của họ trong những năm 1990. Cuối cùng, Thổ Nhĩ
Kỳ và các nước Mỹ Latinh đã trải qua những bất ổn kinh tế vĩ mô mạnh được đặc trưng bởi
tỷ lệ lạm phát rất cao và / hoặc biến động tỷ giá và lãi suất mạnh.
Kết quả của tác giả chỉ hỗ trợ một phần quan điểm phổ biến rằng mức độ ERPT ở thị
trường mới nổi cao hơn ở các nước phát triển (sử dụng như một chuẩn mực của Mỹ, khu
vực sử dụng đồng Euro và Nhật Bản). Cụ thể hơn, tác giả thấy rằng nền kinh tế mới nổi
lạm phát thấp (đặc biệt là nền kinh tế của các nước châu Á) sự chuyển dịch đến giá tiêu
dùng khá thấp. Liên quan đến vấn đề này, bài nghiên cứu ủng hộ toàn bộ giả thuyết của
Taylor, việc tìm kiếm bằng chứng về tương quan dương giữa sự chuyển dịch và lạm phát ở
những thị trường mới nổi. Mối liên kết này có ý nghĩa mang tính thống kê trên tất cả các
phương pháp xác định khác nhau đang được xem xét khi loại trừ 2 nước. Như trong các
nghiên cứu liên quan, thông thường, vai trò của sự mở cửa được tìm thấy là yếu, thậm chí
sau khi kiểm soát được mức độ tỷ lệ lạm phát.
t
: biến đầu ra.
- e
t
: tỷ giá hối đoái.
- pim
t
: chỉ số giá nhập khẩu.
- cpi
t
: Chỉ số giá tiêu dùng.
- i
t
: lãi suất ngắn hạn.
Trong đó, tỷ giá hối đoái và 2 biến chỉ số giá sẽ là những biến chính trong phân tích này.
Biến đầu ra và giá dầu được dùng để nhận diện được những tác động lên nền kinh tế. Biến
lãi suất dùng để mô tả sự tác động của chính sách tiền tệ lên sự chuyển giá
Trong mô hình đường cơ sở thì các biến được sắp xếp theo thứ tự như trên. Việc sử dụng
một tiến trình được lặp đi lặp lại để nhận diện ra những cú shock tác động đồng thời đến
những biến tương ứng và những biến xếp sau cùng, nhưng lại không có tác động gì đến
những biến đứng trước. Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả xếp biến giá dầu đứng đầu.
Vì những cú shock về giá dầu có thể ảnh hưởng đến những biến còn lại trong hệ thống một
cách đồng thời những giá dầu lại không hề bị ảnh hưởng bởi những cú shock do những
biến khác mang lại. Biến tiếp theo là biến sản lượng và tỷ giá hối đoái. Với sự sắp xếp này
thì các tác giả giả định rằng sự ảnh hưởng cùng lúc của những cú shock về cầu lên tỷ giá
hối đoái cùng lúc đó chỉ ra rằng có một độ trễ trong việc tỷ giá hối đoái tác động ngược lại
lên sản lượng. Những biến về giá được sắp xếp tiếp theo và vì thế bị ảnh hưởng bởi cú

hối đoái ngoại sinh khỏi những chi phí thế giới. Một luận chứng tương tự được áp dụng
cho sự tăng trưởng của giá nội địa. Tác giả thay thế giá dầu bằng giá sản xuất nội địa ppi
t
.
Một biến khác được sử dụng cho mục đích này là biến về tiền lương. Tuy nhiên, biến này
lại không thể tìm được cho một vài nước. Đối với sự thay đổi thứ tự các biến, trong mô
hình thay thế thứ 2 này, tác giả dựa trên quan điểm rằng tỷ giá không bị ảnh hưởng đồng
thời bởi những cú sốc do những biến khác trong hệ thống mang lại, ví dụ đầu tiên nó được
thay thế theo thứ tự như sau: e
t
, pimp
t
, y
t
, ppi
t
, cpi
t
, i
t
. Đã có rất nhiều những bài nghiên
cứu thảo luận về ERPT dựa trên nền tảng của một vài mô hình cấu trúc, đã đưa đến những
kết luận khác nhau liên quan đến việc xác định tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào những giả
thiết ẩn ý của mô hình (Marston,1990 và Devereu at al, 2006). Trong những mô hình này,
vai trò đặc biệt quan trọng là giả định rằng có hay không việc các công ty tự định giá bằng
đồng nội tệ ở nơi họ bán sản phẩm hoặc là định giá bằng đồng tiền nơi mà sản phẩm được
sản xuất ra. Trong khi những mô hình này cung cấp những khái niệm chặt chẽ về ERPT

trường đã phát triển.
- Tìm thấy những bằng chứng cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ của ERPT
và làm phát.
- Có sự tồn tại của một mối quan hệ cùng chiều giữa độ mở trong nhập khẩu của nền kinh
tế và ERPT
Cụ thể như sau:
Ở mô hình baseline: Những ước lượng ERPT lên giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở tất cả
các nước thị trường mới nổi trong mẫu được tóm tắt ở bảng 3 và 4 cho 2 mốc thời gian, cụ
thể là sau 4 quý và 8 quý. Đối với hầu hết các nước thì kết quả của tác giả nhìn chung hợp
lý cho cả chỉ số CPI và giá nhập khẩu. ERPT sụt giảm theo chuỗi giá cả, tức là ERPT lên
giá nhập khẩu cao hơn giá tiêu dùng. Đặc biệt, 1 năm sau cú sốc, sự chuyển dịch lên giá
nhập khẩu cao hơn và không có sự khác biệt ở các nước Argentina, Chile, Hungary,
Mexico, Ba Lan và Thổ Nhĩ kỳ, hơi thấp hơn tại Cộng hòa Séc và Hàn Quốc, và khá thấp
ở hầu hết những nước Châu Á khác. ERPT đến CPI cao nhất tại Hungary và Mexico. Ở
Châu Á, sự chuyển dịch tỷ giá lên CPI thấp cả sau 4 quý và 8 quý. Đối với Singapore,
trong khi các ước lượng điểm của hệ số là âm, sự chuyển dịch đến CPI không đáng kể.
Sau đó, tác giả áp dụng cùng 1 phương pháp với các nước khu vực đồng euro, Mỹ và Nhật
Bản để đánh giá mức độ chuyển dịch cao hay không ở thị trường mới nổi. Bảng 5 cho thấy
các bằng chứng ở khu vực đồng euro trùng khớp với những ước lượng được tìm thấy trong
những nghiên cứu khác sử dụng những phương pháp tương tự (xem Hahn, 2003) hoặc
phương pháp thay thế (ví dụ Anderton, 2003 và Campa et all. 2005 cho giá nhập khẩu). Ở
Mỹ, những ước đoán trùng khớp với quan niệm rằng ERPT rất thấp ở Mỹ, cả trong giá
nhập khẩu và giá tiêu dùng (Ví dụ Gagnon và Ihrig, 2004, cho giá tiêu dùng). Ở Nhật Bản,
ERPT lên CPI rất nhỏ cả sau 4 quý và 8 quý. Đối với giá nhập khẩu, dự đoán tại thị trường
Nhật là cao hơn so với khu vực đồng euro và Mỹ, và điều này phù hợp theo thống kê với
sự chuyển dịch toàn bộ sau 1 năm. So sánh những dự đoán sự chuyển dịch của nền kinh tế
đã và đang phát triển, kết quả của tác giả một phần trái ngược với những lý lẽ trước đây

(TW), Singapore (SG).
TK

HK

TW

HN

KR

CN

SG

CL
MX

AG

70

60

40

50

20


phát trung bình cao hơn - từ 10 đến 20%, mức độ ERPT lên giá tiêu dùng cao hơn (khoảng
40%). Những nhóm nước này góp phần ủng hộ các giả thuyết của Taylor. Hai nước khác
trong mẫu, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ, là ngoại lệ, bởi vì chúng có tỷ lệ lạm phát trung bình
rất cao (trên 60%) và sự chuyển dịch lên giá tiêu dùng thấp. Kiểm tra đơn giản hình ảnh
của biểu đồ trên cho thấy nếu hai nước này được lấy vào phân tích thì giả thuyết của
Taylor sẽ bị bác bỏ. Tuy nhiên, các phương pháp VAR có thể không thỏa đáng đối với các
nước đã từng có sự bất ổn kinh tế vĩ mô được phản ánh trong siêu lạm phát hay tỷ lệ lạm
phát rất cao. Lấy ví dụ của Argentina, các biến tài chính biến đổi quá nhiều (đi theo tốc độ
khác nhau của việc điều chỉnh hơn mức "bình thường"). Bằng cách hạn chế giai đoạn mẫu
để loại trừ lạm phát cao, thay vào đó, không chỉ giới hạn số lượng dữ liệu mà còn làm cho
mẫu không hoàn chỉnh ở giai đoạn lạm phát cao, có thể dẫn đến sai lệch. Ví dụ khi rơi vào
thời kỳ lạm phát cao, trong lúc chính sách ổn định kinh tế vĩ mô vẫn được thực hiện, làm
cho đồng tiền được định giá cao (bật lại từ sự định giá quá thấp trong thời kỳ siêu lạm
phát). Trong những trường hợp này, rất khó để phục hồi lại mối quan hệ cơ bản giữa biến
động tỷ giá và giá làm cho các mẫu biến động bất thường phát sinh theo một môi trường
kinh tế bất ổn. Phương pháp VAR và tất cả các ước lượng kinh tế nói chung không thể
phản ánh được sự chuyển dịch nếu giá, tỷ giá và lãi suất biến động quá mức. Ngược lại
những cái nhìn sâu sắc về kinh tế được đề xuất bởi Taylor để tìm sự hỗ trợ nếu nghiên cứu
này loại trừ Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina.
Nhấn mạnh tương quan dương giữa sự chuyển dịch và lạm phát được xác nhận bởi hai tiêu
chuẩn của sự tương quan - các sản phẩm thời điểm Pearson và xếp hạng hệ số tương quan
Spearman - giữa hệ số chuyển dịch và một số yếu tố quyết định chính đáng. Các kết quả
xuất hiện trong Bảng 6. Những đo lường này xác nhận rằng có mối tương quan dương giữa
sự chuyển dịch và lạm phát ở cả 4 quý và 8 quý. Hệ số tương quan có ý nghĩa cả trong
trường hợp hệ số tương quan của Pearson và Spearman ở cả 4 quý và 8 quý với mức ý
nghĩa 1%. Các đo lường khác của sự bất ổn kinh tế vĩ mô cũng tương quan dương với
ERPT, mặc dù nói chung mức độ có ý nghĩa là hơi nhỏ hơn. Tương tự như nghiên cứu của
Choudhri và Hakura (2006) và McCarthy (2000), tác giả tìm thấy rất ít bằng chứng của
Ở mô hình thay thế thứ 2 : với mô hình tương đối khác biệt này, kết quả có được rất tương
đồng với những thảo luận của những phần trước (bảng 10 và 11). Sự chuyển dịch đến giá
nhập khẩu rất gần với 1, ở cả giai đoạn sau 1 và 2 năm, ở Argentina, Chile, Hungary,
Poland, Mexico và Turkey, trong khi những tính toán lại cho thấy kết quả thấp hơn nhiều ở
những nước Châu Á và ở CH Séc. Sự chuyển dịch lên giá tiêu dùng nhìn chung là thấp hơn
sự chuyển dịch lên giá nhập khẩu đối với tất cả các quốc gia và một vài trường hợp ở các
nước châu á thì lại gần bằng 0 sau cả giai đoạn 1 và 2 năm. Lặp lại phân tích tương quan,
tác giả tìm ra được những bằng chứng của sự tương quan dương giữa chuyển dịch lên giá
CPI và lạm phát (ở mức ý nghĩa 1%) sau khi loại bỏ Argentina và Turkey khỏi mẫu (xem
bảng 12). Tham số tương quan giữa sự chuyển dịch lên giá CPI và những phương pháp đo
lường tính bất ổn kinh tế vĩ mô cũng là tương quan cùng chiều và có ý nghĩa cho tất cả
những giai đoạn nghiên cứu. Mối quan hệ giữa sự chuyển dịch CPI và độ mở của nền kinh
tế cũng có mối quan hệ cùng chiều sau khi điều chỉnh tỷ lệ lạm phát nhưng lại không có ý
nghĩa thống kê.
6. Nhận xét cuối cùng:
Bài viết này cung cấp bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mô hình ERPT lên giá nội
địa dựa trên mô hình vector tự hồi quy được xem xét ở một số quốc gia, bao gồm một số
lượng lớn các nước thị trường mới nổi từ ba khu vực chính mới nổi trên thế giới và nhóm
các nước công nghiệp hóa. Qua kết quả của các quốc gia chỉ ra một sự sụt giảm trong
ERPT theo chuỗi giá cả. Phân tích phần nào trái ngược với các nghiên cứu trước đây rằng
ERPT ở "các nước mới nổi" luôn cao hơn so với "các nền kinh tế phát triển". Đối với thị
trường mới nổi có tỷ lệ lạm phát chỉ một con số (nhất là các nước châu Á) ERPT là rất thấp
và không quá khác biệt so với mức độ ERPT ở các nền kinh tế phát triển. Để tổng quát
hơn, tác giả thấy rằng mối quan hệ giữa sự dịch chuyển và lạm phát có ý nghĩa thống kê
khi loại trừ 2 nước (Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ). Hơn nữa, các bằng chứng về một mối
tương quan dương giữa sự chuyển dịch và mức độ mở cửa thấp hơn mối tương quan giữa
sự chuyển dịch và lạm phát, ngay cả sau khi kiểm soát lạm phát.

Séc (OECD OEO), và đơn vị IFS giá trị nhập khẩu (dòng 75) cho Hồng Kông và Thổ Nhĩ
Kỳ. Tác giả không truy cập được dữ liệu liên quan đến giá nhập khẩu cho các mẫu đầy đủ
trong trường hợp của Trung Quốc.
Chỉ số giá tiêu dùng: Tác giả sử dụng dữ liệu CPI từ IFS (dòng 64) cho tất cả các nước trừ
khu vực đồng Euro (dữ liệu HICP từ AWM), Hồng Kông (BIS), Trung Quốc và Đài Loan
(nguồn quốc gia).
Chỉ số giá sản xuất: Tác giả sử dụng dữ liệu PPI từ IFS (dòng 62) cho tất cả các nước, trừ
Hồng Kông, Đài Loan, Argentina và Trung Quốc (nguồn quốc gia).
Lãi suất ngắn hạn: Tác giả sử dụng tỷ giá hối đoái đối với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, (từ IFS, đường 60B), khu vực đồng euro
(AWM), Hồng Kông (từ BIS), và Đài Loan (từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc). Tác
giả sử dụng lãi suất hối phiếu kho bạc cho Hungary và Mexico (từ IFS, đường 60C), và lãi
suất tiền gửi ngân hàng đối với Trung Quốc, Cộng hoà Séc và Chile (từ IFS, dòng
60L).
Xem từ điển chi tiết

Nhập khẩu/GDP: Để tính toán tỷ lệ này, tác giả sử dụng hàng loạt chỉ số nhập khẩu danh
nghĩa (của hàng hoá và dịch vụ, ngoại lệ với Trung Quốc, nơi chỉ bao gồm hàng hoá) và
GDP. Tác giả sử dụng dữ liệu nhập khẩu danh nghĩa từ IFS (đường 99B) cho tất cả các
nước ngoại trừ khu vực đồng Euro (ECB), Trung Quốc, Singapore, và Đài Loan (nguồn
quốc gia). Tác giả sử dụng dữ liệu GDP danh nghĩa từ IFS (dòng 98c) cho tất cả các nước
ngoại trừ khu vực đồng Euro (Eurostat), Trung Quốc, Singapore, và Đài Loan (nguồn quốc
gia).
Bảng 1

14.1
19.1
86Q1 04Q1
4.5
1.3
6.2

5.9
10.8
3.1
4.8
132.2
76Q4 04Q1
7.0
4.6
12.3

8.1
34.6
5.2
5.5
34.0
75Q1 04Q1
2.1
-0.4
4.8

3.6
8.1
2.7

2.9
50.9
91Q1 03Q4
17.4
9.5
21.5

16.6
16.8
7.4
3.2
28.5
89Q1 03Q4
65.1
53.9
68.8

40.9
162.6
33.4
5.4
25.4
89Q104Q1
66.4
8.6
726742.7

25922.9
1135.8
5045048.5

Bảng 2: Nhập khẩu/GDP
Những chỉ số tổng hợp tại Mỹ, Nhật và khu vực đồng euro
(các tỷ lệ được tính hằng năm- trừ khi có những ghi chú khác)
Mỹ Nhật Khu vực đồng euro
Giai đoạn nghiên cứu mẫu 83Q1 04Q1 83Q1 04Q1 83Q1 03Q4
Lạm phát trung bình
Sụt giảm neer trung bình
Lạm phát chuẩn
Tỷ giá neer chuẩn
Tăng trưởng sản lượng trung bình
Tăng trưởng sản lượng chuẩn
Nhập khẩu/GDP (%)
3.1

1.6

1.6

14.0

3.4

2.4

9.0

0.9
-3.2
2.6
18.2

Hungary Ba Lan TN Kỳ Argentina Chile Mexico
4 quý
8 quý
0.43

0.93

0.78

0.57

0.13

0.76

0.12

-0.12

0.72

0.48

1.26

1.77


Quốc
Hồng
Kông
Hàn
Quốc
Singapore Đài
Loan
CH
Se c
Hungary Ba Lan TN Kỳ Argentina Chile

Mexico
4 quý
8 quý
0.88

0.77

0.07

037

0.19

0.13

-0.15

-0.06


1.39

Ghi chú: xem nội dung chính để biết về mô tả mô hình cơ bản. Kích thước mẫu như dòng đầu tiên của bảng 1.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status