Tiểu luận: Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá trong các thị trường mới nổi - Pdf 13

GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 1
Tiểu luận HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ
TRONG CÁC THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI

GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 2
Tóm tắt (Abstract)
Bài viết này nghiên cứu mức độ của hiệu ứng truyền dẫn Tỷ giá (ERPT) đến giá cả
trong 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ LaTinh, và Trung và Đông Âu. Kết quả của
chúng tôi, dựa trên ba mô hình tự hồi quy khác nhau, nó đã đánh đổ một phần sự hiều
biết thông thường cho rằng ERPT ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá
tiêu dùng luôn luôn là cao hơn trong các quốc gia “mới nổi” hơn là những quốc gia đã
phát triển. Đối với các thị trường mới nổi với lạm phát chỉ có một con số (đặc biệt là
các nước châu Á), ảnh hưởng của sự truyền dẫn tới chỉ số giá cả nhập khẩu và chỉ số

trên cho ba nền kinh tế công nghiệp chính, để bảo đảm các kết quả giữa các quốc gia
có thể so sánh được. Bằng cách ước lượng cho mỗi quốc gia một mô hình với giới hạn
thời gian dài nhất có thể, hơn nữa, chúng tôi tập trung vào mức độ chính xác cao nhất
có thể của hiệu ứng truyền dẫn để ước lượng cho mỗi quốc gia. Ở khía cạnh này, một
thành phần quan trọng cho việc phân tích được tiến hành đó là việc tạo một cơ sở dữ
liệu phù hợp và có thể so sánh được cho mỗi quốc gia ở tần số quý, và đây là thử thách
chính để mang lại giá trị cho bộ dữ liệu và chất lượng nghiên cứu cho các quốc gia mới
nổi. Điều này cũng đã giúp cho chúng tôi đáp ứng được các yêu cầu của phương pháp
hệ thống, đó là dựa trên số lượng các biến cao vừa phải, theo đó để cho phép một cách
đầy đủ sự phong phú của các biến và để tránh bỏ sót biến.
Sau đó chúng tôi sử dụng các kết quả để kiểm tra sự hiểu biết thông thường cho rằng
ERPT ở các thị trường mới nổi thì cao hơn ở các nền kinh tế đã công nghiệp hóa và để
điều tra các mẫu của hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá giữa chúng trong giới hạn của sự tương
quan, theo McCarthy (2000) và Choudhri và Hakura (2006). Có hay không việc ERPT
thì cao hơn ở các thị trường mới nổi, và điều này thì rất quan trọng cho việc xác định
cân bằng thương mại và nó cũng rất quan trọng cho sự lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái
của các quốc gia. Một mức độ cao vừa phải, của hiệu ứng truyền dẫn ở các quốc gia
đang phát triển, cũng được viện dẫn như là một nguyên nhân căn bản cho việc “lo sợ
thả nổi” đã được chứng minh của các nước đang phát triển. Việc có hay không ERPT
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 4

thì cao hơn ở các thị trường mới nổi cũng rất quan trọng, nó có thể ám chỉ như là
những xu hướng toàn cầu hóa, bởi vì hiệu ứng truyền dẫn thấp trong thị trường mới nổi
có thể được hiểu rằng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp trong các quốc gia
này thì tăng lên và không giảm. Tuy nhiên, những quốc gia mới nối thể hiện một số nét
đặc trưng quan trọng mà làm cho nó thật khó để đạt được những ước lượng đáng tin
cậy của ERPT. Nhiều quốc gia Châu Á đã thường xuyên theo đuổi chính sách linh hoạt

ứng truyền dẫn tỷ giá tới chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng thì không hoàn
toàn. Phân tích thực nghiệm cũng cung cấp bằng chứng về sự khác biệt đáng kể giữa
các quốc gia trong hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá. Một tranh luận lớn trong mối quan hệ
này được đề nghị bởi Taylor (2000), người mà đưa ra giả thuyết cho rằng sự phản ứng
lại của giá cả tới sự biến động của tỷ giá hối đoái phụ thuộc một cách hoàn toàn vào
lạm phát.
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây (Literature review)
Qua hai thập kỷ một lượng lý thuyết lớn kinh tế về hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá (ERPT)
đã trình bày. Bắt đầu từ những điểm khác nhau, những lý thuyết thực nghiệm nghiên
cứu vai trò của ERPT trong các nền kinh tế nhỏ và lớn. Những nghiên cứu tiến hành
cho trường hợp của các quốc gia đã phát triển bao gồm Anderton (2003), Campa và
Goldberg (2004), Campa et al. (2005), Gagnon và Ihrig (2004), Hahn (2003), Ihrig et
al. (2006) và McCarthy (2000). Ngoài ra cũng có một lý thuyết mầm đã áp dụng vào
các nền kinh tế mới nổi, bao gồm nhiều so sánh giữa các quốc gia như trong Choudhri
và Hakura (2006), Frankel et al. (2005) và Mihaljek et al. (2000).
Nhà kinh tế đã làm giả định đơn giản một cách truyền thống rằng giá cả của hàng hóa
mậu dịch- được niêm yết cùng lọai tiền tệ - thì được cân bằng giữa các quốc gia, tức là
giữ vững điều kiện ngang giá sức mua (PPP). Theo kinh nghiệm, tuy nhiên, giả định
này đã tìm thấy rất ít sự ủng hộ, ít nhất trong trường hợp mẫu nhỏ và trong ngắn và
trung hạn. Phù hợp với bằng chứng này, các tài liệu lý thuyết đã trình bày trong hai
thập niên vừa qua đã cung cấp những lý giải khác nhau tại sao hiệu ứng truyền dẫn tỷ
giá (ERPT) là không hoàn toàn. Trong bài nghiên cứu của Dornbusch (1987), ông đã lý
giải nguyên nhân bất hoàn hảo của hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá, là xuất phát từ phía các
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 6

doanh nghiệp mà hoạt động trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và điều chỉnh
sự tăng giá (và không chỉ có giá) nhằm phản ứng lại với thay đổi trong tỷ giá hối đoái.


là không quá ngạc nhiên, bởi vì tranh luận lý thuyết của Taylor trở nên có ý nghĩa hơn
cho tỷ lệ lạm phát cao hơn.
3

Một nhân tố quan trọng khác của ERPT, từ một quan điểm lý thuyết đó là mức độ mở
cửa thương mại của một quốc gia. Sự kết nối trực tiếp giữa hai biến là cùng chiều: khi
một quốc gia càng mở cửa, thì sự biến động trong tỷ giá hối đoái càng lớn, và nó được
truyền qua chỉ số giá nhập khẩu vào trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và làm nó thay
đổi. Tuy nhiên, bức tranh ngày càng trở nên phức tạp hơn khi chúng tôi xem xét thêm
tác động của lạm phát, và nó có thể có tương quan âm với độ mở cửa của nền kinh tế,
như đã được tìm thấy theo kinh nghiệm bởi Romer (1993).
4
Điều này mang đến một
nguyên nhân xâu xa cho kênh gián tiếp mức độ của hiệu ứng truyền dẫn, nhờ đó mà
mối quan hệ nghịch biến giữa độ mở cửa của nền kinh tế và lạm phát được xem xét
trong giả thiết của Taylor. Hai kênh trực tiếp và gián tiếp đi theo hai hướng trái ngược
nhau và nhìn chung thì dấu hiệu của mối tương quan giữa hiệu ứng truyền dẫn và độ
mở cửa của nền kinh tế thì có thể là đồng biến hoặc nghịch biến.
3. Phương pháp nghiên cứu (Methodology and data)
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết này nghiên cứu mức độ của hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến giá cả trong 12 thị
trường mới nổi ở Châu Á, Mỹ Latin, Trung và Đông Âu. Để đạt được điều này, chúng
tôi sử dụng một chiến lược mẫu đã được trình bày bởi McCarthy (2000) cho các quốc
gia phát triển, và được ứng dụng bởi Hahn (2003) tới khu vực Châu Âu.
3


(1)
trong đó Yt là vector của các biến nội sinh, c là một vector của các hằng số, Φ
i

hiệu các ma trận các hệ số tự hồi qui và ε
t
là một vector của các biến ngoại sinh. Việc
xác định các cú sốc cấu trúc được đạt được bằng cách sắp xếp một cách thích hợp các
biến mà chúng ta quan tâm và áp dụng ma trận phân rã phương sai của Cholesky tới
ma trận hiệp phương sai để giảm phần dư ε
t
.
Như một điểm khởi đầu của việc phân tích, mô hình VAR gồm sáu biến tương tự như
của McCarthy, 2000 và Hahn, 2003, được trình bày. Mô hình VAR cơ bản đã áp dụng
cho các quốc gia khác nhau, bao gồm một chỉ số giá dầu oil
t
, một biến đầu ra y
t
, một tỷ
giá hối đoái e
t
, chỉ số giá nhập khẩu pimp
t
, chỉ số giá tiêu dùng CPI
t
và lãi suất ngắn
hạn i
t
. Tỷ giá hối đoái và hai biến giá cả là những biến số chính trong phân tích của
chúng tôi. Các biến đầu ra và giá dầu được bao gồm để đạt được các kết quả trên khía

Mỹ La Tinh ( Argentina, Chile và Mexico). Nghiên cứu đã lựa chọn một số quốc gia
bao gồm các nước lớn mới nổi trong từng khu vực
5
. 5
Những nước có diện tích lớn được loại trừ khỏi bài phân tích là Brazil bởi vì kết quả chứa đựng không hợp lý,
mức độ biến động của dữ liệu và lạm ph át hàng năm cao trên 1000 % trong suốt khoảng thời gian từ quý 1năm
1992 đến quý 4 năm 1994.
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 10

Với mỗi quốc gia, chúng tôi lấy dữ liệu quý và dữ liệu được tổng hợp trong thời gian
dài nhất có thể. Giá dầu được đại diện bởi một chỉ số giá dầu thô tính bằng đô la Mỹ.
Biến đầu ra hay được sử dụng là GDP, nhưng trong một vài trường hợp chúng tôi đã sử
dụng chỉ số sản xuất công nghiệp để có được một khoảng thời gian mẫu dài hơn. Đối
với tất cả các nước, tỷ giá chúng tôi sử dụng một loạt hiệu quả đáng kể.
Hơn nữa, giá nhập khẩu tính bằng nội tệ và giá tiêu dùng cũng được tính toán, ngoại
trừ Trung Quốc, chúng tôi hạn chế phân tích đến giá tiêu dùng bởi vì chuỗi giá nhập
khẩu thì không có sẵn. Cuối cùng, các công cụ chính sách tiền tệ được đại diện bởi một
mức lãi suất ngắn hạn. Bởi vì thời kỳ mẫu được xác định bằng dữ liệu sẵn có
6
nên nó
thay đổi theo từng nước (xem phụ lục để có mô tả chi tiết nguồn dữ liệu, và các hàng
đầu tiên trong Bảng 1 và 2 để biết thời gian mẫu được sử dụng).
Một bản tóm tắt các điều kiện kinh tế vĩ mô trung bình tại các thị trường mới nổi trong
thời gian mẫu được cung cấp trong Bảng 1.

bất ổn. Trung và Đông Âu đã đạt được tỷ lệ tăng trưởng sản lượng khoảng 2 và 3% với
tỷ lệ lạm phát khá cao nhưng giảm dần. Đặc biệt hơn, trong bối cảnh ảnh hưởng suy
thoái vẫn tiếp tục tồn tại những năm sau cuộc khủng hoảng ngân hang năm 1997, quá
trình thiểu phát vẫn đạt được thành công sớm ở Cộng hòa Czech. Qua giai đoạn được
xem xét, lại trùng hợp với sự hồi phục của hệ thống kinh tế thị trường, Cộng hòa Séc,
Hungary và Ba Lan đều phải chịu một quá trình đánh giá thực tế khá lớn, một phần liên
quan đến ảnh hưởng Balassa-Samuelson, đồng thời cũng để kéo giãn những đánh giá
thấp của giai đoạn đầu của tái cơ cấu.
Một số quốc gia đã trải qua áp lực do lạm phát gây ra trong thời gian nghiên cứu. Cụ
thể có hai nước nổi bật. Những điều kiện kinh tế tài chính vĩ mô không ổn định xảy ra
nhiều lần trong lịch sử của Argentina đã kéo dài tầm ảnh hưởng của sự hỗn loạn của
tình hình tài chính và đã dẫn đến tình trạng siêu lạm phát.
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 12

Những áp lực do lạm phát gây ra và biến động tỷ giá hối đoái cao cũng xảy ra ở Thổ
Nhĩ Kỳ với những khó khăn tài chính nghiêm trọng nổ ra nhiều hơn một lần. Mexico
cũng có kinh nghiệm đáng kể, mặc dù bất ổn thị trường nhiều hơn bởi sự biến động tỷ
giá hối đoái danh nghĩa cao. Chile thành công trong việc giữ được mức lạm phát trung
bình thấp hơn 13% như ghi nhận vào năm 1980. Cuối cùng, nhiều thị trường mới nổi
trong bài nghiên cứu của chúng tôi có thể được mô tả như các nền kinh tế mở lien quan
đến cấu trúc thương mại của họ. Dùng như một điểm chuẩn, tỷ lệ nhập khẩu theo phần
trăm GDP, chúng tôi thấy rằng mức độ mở cửa các nền kinh tế trong nghiên cứu của
chúng tôi, theo thứ tự giảm dần, Hồng Kông, Singapore tiếp theo là Cộng hòa Séc và
Hungary. Các nền kinh tế lớn hơn, Trung Quốc và Argentina được nhận thấy là tương
đối khép kín so với các thị trường mới nổi khác trong nghiên cứu này.
Bảng 2: Bảng tóm tắt các chỉ số cho Mỹ, Nhật Bản, và Châu Âu


không được xem xét (xem, ví dụ, Favero, 2001). Trong sự hiện diện của tương quan,
các phương pháp cũ sẽ bị vô hiệu. VECM cũng mang lại ước tính không phù hợp nếu
vector tương quan sai bị lạm dụng trong mô hình
7
.
Cụ thể hơn, mô hình VAR của chúng tôi, sự khác biệt đầu tiên đến từ những biến
không ổn định gồm Δoil
t
, Δy
t
, Δe
t
, Δpimp
t
, Δcpi
t
và cuối cùng tùy thuộc vào kết quả
của kiểm tra nghiệm đơn vị (unit-root) i
t
hay Δi
t
. Tất cả các mô hình đều được ước
lượng bởi biến dummy mùa và hằng số. Sự chậm trễ trong chiều dài của VAR với mỗi
nước được xác định bằng tiêu chí thông tin cũng như phân tích kĩ thuật. Tiêu chí thông
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 14

tin được dung để xác định chiều dài tối ưu của độ trễ nhưng quyết định cuối cùng lại
HVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 15

Bảng 3, 4: Phản ứng tích lũy của giá nhập khẩu và giá tiêu dùng tới cú sốc 1% tỷ giá
hối đoái trong mô hình cơ sở cho các quốc gia mới nổi

Ở hầu hết các Quốc Gia thì kết quả của chúng ta xuất hiện nói chung là hợp lý ở cả hai
thành phần là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giá nhập khẩu (IMP). Hiệu ứng
truyền dẫn tỷ giả được tìm thấy giảm dần theo chuỗi giá cả, hiệu ứng này ở chỉ số giá
nhập khẩu cao hơn ở chỉ số giá tieu dùng. Đặc biệt, một năm sau sau khi cú sốc đi qua,
hiệu ứng này đến giá nhập khẩu thì được nhận thấy là cao hơn, và về mặt thống kê thì
nó không khác gì một trong các trường hợp của Argentina, Chile, Hungary, Mexico,
Poland, và Turkey, thấp hơn ở một mức nào đó tại Cộng Hòa Séc và Hàn Quốc và
thấp hơn ở hầu hết các Quốc Gia khác của Châu Á
9
.
9
Hai năm sau cú sốc giá trị ước lượng thì cao h ơn nhưng nó lại mang đến một sự không chắc chắn, do vậy ở
những quốc gia này thì nó vẫn không có ý nghĩa thống kê khác 1.
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 16

Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được nhận thấy là cao nhất ở
Hungary và Mexico. Ở Châu Á, hiệu ứng truyền dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thì

đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thì thấp hơn.
Bước tiếp theo trong phép phân tích của chúng tôi là để đạt được một vài sự thấu hiểu
những điều bí ẩn về những yếu tố quyết định vĩ mô của hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá.
Chúng ta bắt đầu bằng việc khảo sát có hay không, bằng chứng cho rằng có sự tương
quan thuận giữa hiệu ứng truyền dẫn và lạm phát ở trong giả thuyết nghiên cứu của
Taylor. Với mục đích minh họa, chúng ta bắt đầu phép phân tích bằng việc xem xét
một cách trực quan mối quan hệ giữa mức độ của hiệu ứng truyền dẫn và lạm phát sau
một năm kể từ khi cú sốc xảy ra, cho các thị trường mới nổi trong mẫu của chúng tôi
(xem hình số 1).
11
10
Khác biệt với phân tích của chúng tôi, Hahn (2003) sử dụng giá nhập khẩu phi dầu mỏ. Bởi vì ERPT đến hàng
hóa như dầu được tìm thấy là đặc biệt cao, việc tìm thấy một mức cao hơn của hiệu ứng truyền d ẫn lên tổng giá
nhập khẩu so với hiệu ứng truyền dẫn lên giá nhập khẩu phi dầu mỏ dường như là chắc chắn.
11
Biểu đồ tương tự cũng có sẵn theo yêu cầu của tác giả trong 8 quý theo mô hình cơ sở cũng như cho hai sự lựa
chọn được xem xét trong phần 4 cả 4 và 8 quý.
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổi

Turkey là hai trường hợp ngoại lệ, bởi vì chúng kết hợp một tỷ lệ lạm phát cực kỳ cao
(vào khoảng 60%) và mức thấp của hiệu ứng truyền dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Việc xem xét trực quan đơn giản của biểu đồ ở trên, đã chỉ ra rằng nếu hai Quốc gia đó
được bao gồm trong phép phân tích thì giả thiết của Taylor sẽ bị phá bỏ. Phương pháp
VAR thì có thể không phù hợp cho các Quốc gia, mà ở đó theo kinh nghiệm cho thấy
thiếu sự ổn định vĩ mô, như đã phản ánh thì đó là siêu lạm phát hay tỷ lệ lạm phát rất
cao. Lấy ví dụ của Argentina, việc mở rộng cỡ mẫu quá lớn thì nó tượng trưng cho việc
sẽ bao gồm một khối lượng lớn các phép phân tích và số lượng các biến tài chính tăng
vọt (theo đó sự điều chỉnh các tốc độ khác nhau của các biến sẽ hơn mức bình thường).
Bằng việc giới hạn giai đoạn mẫu để loại trừ các phần tử có tỷ lệ lạm phát cao, không
chỉ làm cho chiều dài của mẫu trở nên ngắn lại mà còn giúp cho mẫu không bị lừa dối
bởi những tác động do phần tử có lạm phát cao gây ra. Ví dụ, nếu chúng ta vẫn bao
gồm trong mẫu một giai đoạn của lạm phát cao, sự ổn định vĩ mô vẫn tiếp diễn, tương
xứng với sự bao gồm ấy là sự tăng giá mạnh của hệ thống tiền tệ (sự bật lên lại từ việc
đánh giá quá thấp đã kết hợp một cách đặc biệt đến các phần tử siêu lạm phát). Trong
hoàn cảnh đó, nó trở nên rất khó khăn để khôi phục mối quan hệ tiềm ẩn giữa sự biến
động của tỷ giá hối đoái và giá cả, được cho rằng đó là sự kết hợp hài hòa mạnh mẽ phi
thường, và được mong đợi để hồi sinh dưới một môi trường kinh tế không ổn định.
Phương pháp VAR và những ước lượng thuộc toán kinh tế phổ biến khác thì không
chắc có thể nắm bắt được bất kỳ những đo lường mang tính logic của hiệu ứng truyền
dẫn nếu như giá cả, tỷ giá, và lãi suất thì thay đổi một cách quá lớn. Do sự khác nhau
về quan niệm kinh tế đã được đề nghị bởi Taylor, dường như sẽ tìm được sự ủng hộ
nếu chúng tôi loại trừ ra khỏi mẫu Argentina và Turkey.
Dấu hiệu trực quan của sự tương quan thuận giữa hiệu ứng truyền dẫn và lạm phát thì
được xác nhận bởi hai đo lường chuẩn của sự tương quan - đó là hệ số tương quan
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 20


cầu của sự sắp xếp các biến (mô hình lựa chọn thứ nhất) , oil
t
, i
t
, y
t
, e
t
, pimp
t
, cpi
t
,
đặc biệt là lãi suất thì được di chuyển đến trước tỷ giá, như đã đề nghị trong ví dụ bởi
Choudhri … (2002). Yêu cầu này cho phép có một sự phản ứng đồng thời của tỷ giá
hối đoái đến những thay đổi trong công cụ chính sách tiền tệ. Điều này có thể được giải
thích trên cơ sở của việc xem xét tiêu chuẩn kinh doanh chênh lệch giá, bằng cách gì
mà lãi suất cao có thể làm cân bằng mọi thứ và làm cho tiền tệ trở nên hấp dẫn hơn,
bằng việc khai thác những thất bại của phương trình kinh doanh chênh lệch giá. Tức là
sự hấp dẫn của lãi suất sẽ được bù bởi sự thất bại của việc kinh doanh chênh lệch giá.
Những ước lượng của hiệu ứng truyền dẫn, dưới sự lựa chọn cấu trúc sắp xếp các biến
này thì hầu như cũng giống với những nội dung đã thảo luận ở phần trước (xem bảng
7, 8).
Bảng 7,8: Phản ứng lại của MPI, CPI tới cú sốc 1% tỷ giá hối đoái trong mô hình số 1
cho các quốc gia mới nổi
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 22


số 1

Những đo lường khác của sự bất ổn kinh tế vĩ mô thì cũng là tương quan thuận với
mức độ của hiệu ứng truyền dẫn tại nhiều loại mức ý nghĩa khác nhau ở cả 4 quí và 8
quí. Cuối cùng, chúng tôi lại không tìm được bất kỳ bằng chứng nào cho mối tương
quan thuận giữa hiệu ứng truyền dẫn và độ mở cửa của nền kinh tế có ý nghĩa về mặt
thống kê, mặc dù đã kiểm soát lạm phát.
Thứ hai xem xét mô hình khác (mô hình lựa chọn thứ hai) tới trường hợp bao gồm cả
việc thay đổi những biến đã có sẵn trong mô hình và bổ sung những biến khác theo yêu
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo ERPT trong các thị trường mới nổiHVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 24

cầu trong ma trận phân rã phương sai Cholesky. Trong mô hình trước chúng ta đã bao
gồm biến giá dầu, nó có thể được hiểu như là mặt cung cấp đang rất thu hút, nó tác
động đến cả chi phí ngoài nước và vì thế, nên gỡ rối một cách phù hợp hơn những tác
động của tỷ giá hối đoái ngoại sinh từ những chi phí nước ngoài đó. Một luận chứng
tương tự để ứng dụng cho sự phát triển của giá cả trong nước. Vì vậy chúng tôi sẽ thay
thế biến giá dầu bởi biến giá cả sản xuất trong nước ppi
t
trong mô hình này, và điều
này cũng cần thiết cho một mô hình phù hợp. Việc lựa chọn biến để dùng cho mục đích
này thì có thể được tiến hành. Biến này, tuy nhiên thì nó không có sẵn cho một lượng
lớn các Quốc gia đang xem xét. Liên quan đến việc thay đổi yêu cầu của các biến ở mô
hình 2, chúng tôi sẽ trích quan điểm lý thuyết khá mạnh về việc thừa nhận rằng tỷ giá
hối đoái thì không bị ảnh hưởng một cách đồng thời bởi cú sốc, và nó đang tác động
vào bất cứ biến nào khác trong hệ thống, cụ thể là nó được đặt lên dẫn đầu các biến: e
t
,


HVTH: NH đêm 2 – Nhóm 7 Trang 25

(như là: giao dịch gây nhiễu hay sự xem xét thông tin sai sót – cả hai rất quan trọng
trong khung cảnh thị trường mới nổi) có xu hướng trội hơn.
Tuy nhiên liên quan với mô hình trước, kết quả mà chúng tôi đạt được là đáng chú ý,
nó tương tự với những điều đã thảo luận ở các phần trước (bảng 10 và 11).
Bảng 10,11: Phản ứng tích lũy của MPI, CPI tới cú sốc 1% tỷ giá hối đoái ở mô hình 2
cho các quốc gia mới nổi

Hiệu ứng truyền dẫn tới chỉ số giá nhập khẩu (IMP) thì được tìm thấy là gần bằng 1, tại
cả hai hai mốc thời gian, ở Argentina, Chile, Hungary, Poland, Mexico và Turkey,
trong khi được ước lượng thấp hơn ở các quốc gia Châu Á và Cộng Hòa Séc.
12
Việc khả năng giải thích yếu của các biến vĩ mô cho việc xác định tỷ giá hối đoái, xem lý thuyết mở rộng bắt
nguồn từ Meese và Rogoff (1983). Một nỗ lực để dung hòa quan điểm chính thống về cấu trúc đơn giản và biến
động cao trong tỷ giá hối đoái , xem ví dụ trong Devereux và Engel (2001).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status