tiểu luận hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá có phản ứng lại với sự đo lường bất ổn định nền kinh tế vĩ mô - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC


TIỂU LUẬN: MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

NGHIÊN CỨU PAPER:

HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN
ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN ĐỊNH NỀN
KINH TẾ VĨ MÔ?
Reginaldo P. Nogueira, Jr.*
IBMEC-MG
Miguel A. León-Ledesma
University of Kent at Canterbury

GVHD:GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ
Nhóm 10- Lớp Ngân Hàng Đêm 1 – K22
Danh sách nhóm
1. Nguyễn Thị Dung
2. Bùi Thị Thu Thủy
3. Nguyễn Thị Hoài Thương
4. Nguyễn Phạm Nhã Trúc

TPHCM THÁNG 8/2013

GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang2
MỤC LỤC

I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Giới thiệu 3
1.2. Vấn đề nghiên cứu 4
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.5 Phạm vi nghiên cứu 5
1.6 Phương pháp nghiên cứu 5
II. LÝ THUYẾT 5
2.1. Cơ sở lý thuyết 5
2.2.Review lý thuyết 6
III. MÔ HÌNH THỰC NGHỊÊM 10
IV. KẾT QUẢ 12
V. KẾT LUẬN 17
HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ?

HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ? GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang4

trọng, là một trong những nền kinh tế thị trường mới nổi lớn nhất, và đã phải đối mặt với
cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong những thập kỷ qua.
Có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề phi tuyến tính và bất đối xứng trong
ERPT. Ngoài ra, các tài liệu hiện có cung cấp bằng chứng hỗn hợp về vấn đề này: trong
khi các nghiên cứu như Herzberg, Kapetanios and Price (2003) and Marazzi et al. (2005)
đã không tìm thấy bằng chứng về hành vi phi tuyến hoặc không đối xứng, còn những
người khác như Gil-Pareja (2000) và Mahdavi (2002) đã tìm thấy hỗ trợ cho ERPT phi
tuyến tính. Hơn nữa, phần lớn các tài liệu đã tập trung hoàn toàn vào bất đối xứng liên
quan đến quy mô và xu hướng của thay đổi tỷ giá hối đoái. Do đó, đóng góp thêm của
bài viết này là nghiên cứu của một nguồn tiềm năng của phi tuyến tính trong ERPT.
Kết quả của chúng tôi đưa ra một số bằng chứng nghiêng về phi tuyến tính trong
ERPT với sự đo lường của chúng ta về sự bất ổn kinh tế vĩ mô (EMBI + chênh lệch trái
phiếu định giá bằng đồng USD và chênh lệch lãi suất thực tế với Hoa Kỳ). Phát hiện này
cho thấy sự tin tưởng của thị trường trong một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định đóng
một vai trò quan trọng trong việc giảm ERPT. Điều này đặc biệt thú vị trong trường hợp
của Mexico vì ERPT dường như đã quá thấp sau từ sau năm 2000, sau khi thông qua mục
tiêu lạm phát ở nước này. Điều này phù hợp với các tài liệu ở các nền kinh tế thị trường
mới nổi khác (xem ví dụ, Nogueira Jr và LeónLedesma 2009), và ủng hộ lập luận rằng sự
ra đời của một tập hợp các chính sách thúc đẩy niềm tin thị trường trong nền kinh tế thực
sự có thể dẫn đến việc giảm ERPT , và do đó chi phí thấp hơn cho việc giữ lạm phát ở
mức thấp nên sẽ xuất hiện một phần khấu hao. Rõ ràng, kết luận này không loại trừ có
một nguyên nhân khác về giả thuyết phi tuyến tính, nhưng nó bổ sung cho sự hiểu biết
của chúng ta về động lực ERPT trong nền kinh tế thị trường mới nổi.
1.2. Vấn đề nghiên cứu:

Tác động của ERPT lên giá hàng nhập khẩu và lạm phát là không toàn phần.
Ngoài ra, tác động của ERPT đến giá hàng nhập khẩu nhiều hơn giá tiêu dùng (lạm phát).
Vì giá nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp với sự biến động của tỷ giá còn giá tiêu dùng
phải chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố khác như giá cả của các mặt hàng phi thương mại, độ
co giãn của cung, cầu hàng hóa nhập khẩu; định hướng kinh doanh của doanh nghiệp;
chi phí vận chuyển, phân phối.
HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ? GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang6

Mức độ tác động của ERPT đến giá tiêu dùng thường cao hơn ở các nước đang
phát triển so với các nước phát triển. Nói cách khác, tác động của ERPT đến giá tiêu
dùng ở các nước có tỷ lệ lạm phát cao thì cao hơn so với các nước có tỷ lệ lạm phát thấp.
Vì nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát thường xuyên ở mức cao, các công ty trong
nước có xu hướng điều chỉnh giá thường xuyên để theo kịp mức biến động của giá. Và có
thể các doanh nghiệp này sẽ thiết lập các mức giá cả trước cho nhiều thời kỳ dẫn đến việc
họ sẽ nhanh nhạy hơn với sự gia tăng chi phí xuất phát từ biến động tỷ giá nếu như sự
biến động chi phí này được dự báo là liên tục và kéo dài dai dẳng.
Bên cạnh đó, Chính phủ các nước phát triển có khả năng theo đuổi một chính sách
nhằm giữ lạm phát thấp và ổn định, từ đó làm giảm tác động của ERPT đến giá tiêu dùng.
Đồng thời cú sốc giá tại các nước này thường thấp, nghĩa là sự tăng giá của một mặt hàng
nào đó ít dẫn đến sự tăng dây chuyền của các mặt hàng khác trên thị trường, cũng là một
nguyên nhân giải thích tác động thấp của ERPT lên giá hàng tiêu dùng tại các nước phát
triển so với các nước phát triển nơi có cú sốc về giá khá cao.
2.2 Review lý thuyết:
Một mô hình lý thuyết đơn giản sẽ giúp minh họa những lý do cho sự tồn tại tiềm
năng của một ERPT phi tuyến phụ thuộc vào môi trường kinh tế vĩ mô. Mô hình chúng
tôi trình bày ở đây là cơ bản nhưng nó cũng đủ để minh họa cho lập luận. Chúng tôi xây

kinh tế vĩ mô của các nước nhập khẩu. Trong giai đoạn môi trường kinh tế vĩ mô xấu
trong nước nhập khẩu, nhà xuất khẩu có thể quyết định bỏ qua một phần lớn hơn của
những thay đổi chi phí của nó để tránh khả năng vỡ nợ xảy ra tăng lên từ nhà nhập khẩu.
Trong giai đoạn của những điều kiện kinh tế vĩ mô tốt, nhà xuất khẩu có lẽ sẳn sàng giảm
sự tăng giá để giữ lòng trung thành của một thị trường xuất khầu ổn định. Do đó, sự tăng
giá có dạng như sau:
(2)
Y được giải thích cho những nhu cầu cấp bách ở nước đang nhập khẩu và có thề vì
vậy được xem là toàn bộ sản lượng, và thành phần Z mô tả cho sự phản ứng phi tuyến
tính đối với điều kiện chung của nền kinh tế vĩ mô. Chúng ta hiểu Z theo một cách mà
những giá trị cao ngụ ý một môi trường kinh tế vĩ mô xấu. Theo một cách khác, Z sẽ thực
sự là một đơn vị đo lường sự bất ổn định của nền kinh tế vĩ mô không ổn định. Hàm
có thể được xem như là sự tăng lên theo cấp số nhân, nơi mà các công ty phản
ứng nhiều hơn đối với sự thay đổi tỷ giá hối đoái nếu niềm tin của họ vào nền kinh tế là
thấp. Do đó, cuộc khủng hoàng ERPT sẽ tăng lên,
Từ (1) và (2), đơn giản log tuyến tính thành phương trình của giá là
(3)
HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ? GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang8

Phương trình (3) chỉ rõ rằng có 2 kênh của ERPT. Kênh đầu tiên được xác định
bởi α và được giới hạn giữa 0 và 1. Kênh thứ 2 được xác định bởi hàm ,và phụ
thuộc vào môi trường của nền kinh tế vĩ mô. Chúng ta sẽ dựa vào Korhonen và Juntilla
(2010) và những giả định xa hơn để thấy rằng có một vài ngưỡng Z cái mà phân chia
những trường hợp đặc biệt của giá trị tốt ( thấp) của Z và xấu ( cao) những giá trị của Z (
môi trưởng nền kinh tế vĩ mô)
(4)

khu vực trong thành phần của CPI
Từ phương trình (6), chúng ta có thể tìm thấy phương trình lạm phát của nền kinh
tế, nơi mà π là log khác nhau của mức giá:
(7)
Theo như tài liệu của cuộc lạm phát kéo dài và điều quan trọng đem lại của tác
động quán tính, và cho rằng cùng giai đoạn trễ cho khu vực thương mại và phi thương
mại, chúng ta có:

Phương trình (8) chỉ rõ rằng giá nhà phụ thuộc vào sự thâm hụt sản lượng và lạm
phát trong quá khứ. Phương trình (9) chỉ ra giá khu vực thương mại, cơ bản theo phương
trình (5) nhưng cho phép vài giá trì trệ. Thay (8) và (9) vào (7) được:

Cuối cùng, sắp xếp lại phương trình (10), ta có:

Phương trình (11) mang lại mô hình cơ bản để ước lượng ERPT tại các mức giá
tiêu dung, và có thể được diễn tả như là đường cong phi tuyến tính Phillips trong phần
tiếp theo chúng ta phát triển mô hình này thành thuộc toán kinh tế chi tiết thích hợp
HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ? GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang10

III. MÔ HÌNH THỰC NGHIÊM:
Theo như Clifton, Leon và Wong (2011),những hồi quy chuyển đồi dễ dàng (STR)
là một loại của những mô hình phi tuyến tính mà có thể giải thích những thay đổi có tính
quyết định trong thông số theo thời gian, liên kết với chế độ chuyển mạch tự động. Mô
hình STR mang lại dạng chung:

Nơi S

kiểm tra tính chất tuyến tính bằng không của mô hình tuyến tính đường gốc, nếu 0 bị bác
bỏ, chấp nhận mô hình tuyến tính, nếu không thì ước lượng mô hình cái mà sự bác bỏ cao
nhất, sau đó, định giá mô hình ước lượng cho sai số ( bao gồm sự duy trì phi tuyến tính),
nếu mô hình thiếu những phân tích này, mô hình mở rông thì được phân tích. Chúng ta
gán vào LM, những cái phân tích với tuyến tính bằng không dựa vào phi tuyến tính
LSTR. Sau đó kiểm tra tuyến tính, chúng tôi đã sử dụng phương pháp bình phương nhỏ
nhất để ước lượng cho những thông số trong công thức này:
HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ? GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang11 Trong đó, π là tỷ lệ lạm phát, Δ
imp
là biến thiến trong giá hàng nhập khẩu, và vì
vậy có thể được xem như lạm phát nhập khẩu Δy là sự tăng trưởng trong sản lượng thực
Δe là sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái, và ε là sai số thống kê.
Biến chuyển đổi mà được sử dụng như 1 công cụ để đo lường tính ổn định của
kinh tế vĩ mô là sự khác nhau về lãi suất thực (real interest rate differential ( rids)), Việc
sử dụng rids này để đo lường tính ổn định của kinh tế vĩ mô, đặc biệt là 1 công cụ dẫn
đầu về khủng hoảng niềm tin, được ủng hộ bởi nhiều người, trong đo có Kamin, Lizondo
and Reinhart (1998). Đối với phương pháp EMBI+, họ theo dõi tổng các khoảng sinh lời
trong giao dịch các công cụ nợ nước ngoài bằng USD trên các thị trường mới nổi. Một
khi các khoản nợ này bằng đô la, không có 1 rủi ro nào về tỷ giá, vì vậy nó đại diện cho
công cụ đo lường “ rủi ro quốc gia thuẩn khiết”,
Dữ liệu hàng tháng được thu thập ở Mexico từ dữ liệu IFS của IMF. Giai đoạn thu
thập từ tháng 1 1992 đến tháng 12 2005.Lạm phát là sự thay đổi trong chỉ số giá tiêu
dung. Dữ liệu tỷ giá hối đoái là sự thay đổi của đồng nội tệ trên 1 đơn vi đồng ngoại tệ. 1

Bảng 2 chỉ ra các kiểm tra tuyến tính sử dụng lên đến 3 độ trễ của rid và EMBI +
mở rộng như là 1 biến chuyển đổi. Chúng tôi tìm thấy bằng chứng của phản ứng phi tính
của ERPT với cả 2 biến, phù hợp với gỉa thiết ban đầu

HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ? GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang13

Ghi chú: Những con số p-giá trị của F biến thể của một bài kiểm tra LM3 tuyến
tính với LSTR phi tuyến.
Dưới đây chúng tôi trình bày kết quả ước lượng của mô hình phi tuyến. Liên quan
đến kết quả, * biểu thị mức ý nghĩa ở mức 10%, và ** biểu thị ý ở mức 5% ; Sigma là sai
số chuẩn của hồi quy; AIC là các tiêu chuẩn thông tin Akaike (là thước đo chất lượng
tương đối của một mô hình thống kê, cho một tập hợp các dữ liệu). Tiêu chí; AR (4) là
một bài kiểm tra tương quan thống kê với 4 độ trễ và RNL là một LM-thử nghiệm phi
tuyến tính trong mô hình (với null phi tuyến tính còn lại). Chúng tôi cũng trình bày đồ
thị của các hàm chuyển đổi và chuyển biến theo thời gian.
Kết quả sử dụng rids như biến chuyển đổi là:

Kết quả sử dụng EMBI + như biến chuyển đổi là:

HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ CÓ PHẢN ỨNG LẠI VỚI SỰ ĐO LƯỜNG BẤT ỔN
ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ? GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang14 GVHD: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ Trang16

Chuyển sang phần khác , cả hai thông số kỹ thuật nói về 1 vấn: hàm chuyển đổi đề
tương tự: hàm chuyển đổi cao hơn, tức là, gần 1, về cơ bản sau khi sự sụp đổ của đồng
peso trong năm 1995, và xung quanh các cuộc khủng hoảng của Nga và Brazil, vào cuối
năm 1998 và đầu năm 1999, phù hợp với giả thuyết ban đầu của chúng tôi ERPT phải cao
trong thời kỳ khủng hoảng niềm tin. Đó là giá trị, lưu ý rằng các giá trị ngưỡng là khá cao
(6,9% cho rids và 761 điểm cơ bản cho EMBI + mở rộng), đó là một dấu hiệu sự yếu kém
chung của nguyên tắc cơ bản kinh tế vĩ mô ở Mexico trong thời gian những năm 1990.
Tuy nhiên, phân tích đồ thị của các biến chuyển tiếp chúng ta có thể nhận thấy rằng cả
hai rids và EMBI + mở rộng đã giảm trong vài năm qua, đặc biệt là sau năm 1999, khi
Mexico đã thông qua một khung lạm phát mục tiêu.
Sau năm 2000, với sự phù hợp về những biến chuyển đổi, hàm chuyển đổi đã tiên
gần đến 0, và về thực chất ERPT thấp hơn.
Do vậy, từ đầu những năm 90, ERPt của Mexico cao hơn nhiều so với các nước có
nền kinh tế mới nổi, , nhưng trog thời kỳ sau đó, tình huống đã thay đổi hoàn toàn. Các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chính sách của Mexico đã đóng 1 vai trò quan trọng trong
việc giảm ERPT, do đó giảm chi phí duy trì cân bằng lạm phát sau sự sụt giảm. Đặc biệt,
sự tín nhiệm thu được từ việc thông qua muc tiêu lạm phát, có thể chịu trách nhiệm cho 1
vài sự sụt giảm trong ERPT. Kết quả tương tự đã được tìm thấy ở những nền kinh tế mới
nổi khác như brazil (xem ví dụ Nogueira Jr. and León-Ledesma, 2009 ) Mặc dù, chúng
tôi không muốn nói rằng,tất cả những lợi ích thu được trong thời kỳ tỷ lệ ERPT thấp là
bởi vì sự quản lý vĩ mô tốt hơn. Chúng tôi tin rằng, đây là 1 khám phá quan trọng đối với
những nước có lịch sử dòng vốn nước ngoài giảm mạnh và áp lực lạm phát cao.
Nói tóm lại, sự kết hợp giũa việc sử dụng 2 phương pháp EMBI và rids đã cung
cấp 1 vài bắng chứng nghiên về lý lẽ đối với Mishkin và Savastano (2001), Choudhri và
Hakura (2006), Gagnon và Ihrig (2004) và những người khác, niềm tin về chính sách đó
có thể ảnh hưởng đến ERPT. Điều này đã từng xuất hiện ở Mexico.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status