i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
4.1. Câu hỏi nghiên cứu 3
4.2. Các phương pháp nghiên cứu 3
4.3. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 7
5. Kết cấu của luận văn 8
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 9
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 9
1.1.1. Quan niệm về đói nghèo 9
1.1.2. Quan điểm nghèo đói của Việt Nam 10
1.1.3. Tiêu chí đánh giá nghèo đói 11
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
1.2.1. Tình hình nghèo đói trên thế giới 13
1.2.2. Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc 14
1.2.3. Kinh nghiệp xóa đói giảm nghèo của Hàn Quốc 15
1.2.4. Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia 16
1.2.5. Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 18
1.2.6. Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam 24
3.2.1. Phương hướng phát triển ngành nông - lâm - thủy sản 76
3.2.2. Phương hướng phát triển ngành công nghiệp - xây dựng 76
3.2.3. Phương hướng phát triển ngành dịch vụ 76
3.3. Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân 76 iii
3.3.1. Giải pháp về vốn 77
3.3.2. Giải pháp về vấn đề đất đai, nhà ở 77
3.3.3. Tổ chức tập huấn khoa học kỹ thuật cho người dân 78
3.3.4. Phát triển các ngành nghề phụ trong nông thôn 79
3.3.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn 79
3.3.6. Bài trừ các tệ nạn xã hội 80
3.3.7. Phát triển sản xuất trồng trọt 81
3.3.8. Phát triển chăn nuôi 81
3.3.9. Phát triển nghề rừng 82
3.3.10. Giải pháp về thị trường 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88 iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TT
Nội dung
Ký hiệu, viết tắt
1
Đồng Đô la Mỹ
NXB
12
Doanh nghiệp
DN
13
Nông nghiệp
NN
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo qua các giai đoạn 13
Bảng 1.2. Tỷ lệ nghèo đói bình quân các vùng của Việt nam qua các năm 19
Bảng 2.1. Tình hình sử sụng quỹ đất của huyện Sơn Độngnăm 2010 31
Bảng 2.2. Nhân khẩu và lao động của huyện Sơn Động, 2010 33
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất lương thực của huyện, 2009 - 2010 37
Bảng 2.4. Cơ cấu kinh tế huyện Sơn Động, 2008 - 2010 38
Bảng 2.5. Thực trạng nghèo đói của huyện Sơn Động 40
Bảng 2.6. Thông tin chung về chủ hộ điều tra, Sơn Động năm 2010 45
Bảng 2.7. Tình hình dân tộc của nhóm hộ điều tra,Sơn Động 2010 46
Bảng 2.8. Tình hình nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra, 2010 47
Bảng 2.9. Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra, 2010 48
Bảng 2.10. Tình hình trang bị tài sản phục vụ đời sống của hộ, 2010 49
Bảng 2.11. Tình hình trang bị tài sản phục vụ sản xuất của hộ, 2010 50
Bảng 2.12. Phân tổ thu nhập theo nhóm hộ điều tra, 2010 52
những năm của thập niên 2000; công cuộc giảm nghèo triển khai mạnh mẽ từ
những năm 1993 đã đem đến kết quả rất tốt về giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm
mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 38% năm 1998; 18,1% năm 2004; 15,5%
năm 2006, 14,87% năm 2007 và 11% năm 2009. Trong vòng 15 năm qua Việt
Nam đã giảm 3/4 số người nghèo, bước vào năm 2009 thu nhập bình quân theo
đầu người vượt mức 1000USD; đời sống của đại đa số người dân được cải thiện
đáng kể, nhất là nhóm hộ nghèo.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này các huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số
sinh sống có tỷ lệ nghèo cao, tốc độ giảm nghèo vẫn diễn ra chậm. Tình trạng nghèo
khổ, tuổi thọ, tình trạng dinh dưỡng và những chỉ số đo lường mức sống khác ở
vùng đồng bào dân tộc vẫn còn ở mức thấp mặc dù có rất nhiều chính sách, chương
trình đã được đưa vào thực hiện nhằm hỗ trợ các huyện này và đồng bào dân tộc
thiểu số. Tình trạng nghèo của nhóm dân tộc thiểu số cao gấp 4,5 lần so với người
Kinh và người Hoa, trong khi đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm tới 14% dân số
cả nước nhưng số người nghèo lại chiếm 36% tổng số người nghèo vào năm 2005.
Sự giảm nghèo của các huyện vùng cao, đồng bào dân tộc thiểu số diễn ra chậm hơn
các huyện trung du, đồng bằng. Tính đến cuối năm 2006 cả nước có 58 huyện có tỷ
lệ nghèo cao gấp 3,5 lần tỷ lệ nghèo chung của cả nước, thu nhập bình quân đầu
người ở các huyện này đạt từ 2,3-4,3 triệu đồng/năm chỉ bằng 1/3 mức bình quân
đầu người chung của cả nước. Đầu năm 2007 bổ sung thêm 03 huyện do mới chia
tách và tái nghèo, nâng tổng số lên 61 huyện có tỷ lệ nghèo cao trong cả nước. Và
tới năm 2009 con số huyện nghèo cả nước đã tăng lên 62 huyện. Vấn đề đặt ra là
cần phải có giải pháp gì hỗ trợ các huyện nghèo để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội, về thu nhập, mức sống giữa các huyện này với các địa phương khác
trong nước. 2
Xóa đói giảm nghèo cũng giống như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra
được đâu là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo đói, trong đó nguyên nhân
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại huyện nghèo Sơn Động của tỉnh Bắc Giang.
3.2.2.Thời gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những số liệu sơ cấp năm 2010 và số liệu thứ cấp
thứ cấp kỳ 2008 - 2010, một số số liệu đầu năm 2011.
3.2.3. Nội dung nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong phân tích nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng
đến thu nhập và nghèo đói của hộ nông dân, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
Một là, tại sao phải nghiên cứu đói nghèo ở huyện Sơn Động? Sơn Động là
huyện nghèo nhất của Bắc Giang, mặc dù trong những năm qua số hộ nghèo liên tục
giảm. Tuy nhiên, chất lượng xóa đói giảm nghèo chưa mang tính bền vững. Chính
vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu XĐGN cho huyện, từ đó đề xuất được một số giải
pháp cho hộ nông dân phát triển sản xuất và thoát nghèo.
Hai là, nguyên nhân nào dẫn tới đói nghèo của hộ, đâu là tác động chính, đâu
là tác động phụ? Để làm được điề này, chúng ta cần phải ứng dụng phần mềm tin
học vào ước lượng để tránh những kết luận mang tính chủ quan của người nghiên
cứu. Trong đề tài này, tôi ứng dụng hàm Cobb - Douglas vào phân tích.
Ba là, giải pháp xoá đói giảm nghèo nào phù hợp với điều kiện thực tế của
hộ nông dân ? Vì vậy, khi nghiên cứu XĐGN, chúng ta phải đi tìm và phân tích
những nguyên nhân thực tế dẫn tới nghèo đói.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Cơ sở phương pháp luận
Đề tài lấy quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp
luận của mình.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ta phương pháp nhìn nhận sự vật, hiện
tượng trong trạng thái vận động và phát triển và trong mối quan hệ biện chứng với
các sự vật, hiện tượng khác.
2
: Phương sai của tổng thể chung.
Để ước lượng
2
ta dung phương sai chọn mẫu (S
2
được tính cho 30 hộ điều
tra thử) và ước lượng theo công thức sau:
1
2
2
2
2
)1()1(
U
sn
U
sn
Trong đó:
S
2
: phương sai mẫu
n: dung lượng mẫu
U
Đại diện cho các xã SX công nghiệp và thủy sản
4
Giáo Liêm
45
Đại diện cho các xã phát triển nông lâm nghiệp
Tổng
180
Đại diện cho toàn huyện
- Sau khi tiến hành xác định được số lượng mẫu cần điều tra và địa điểm điều
tra, bước tiếp theo là xây dựng phiếu điều tra tình hình kinh tế và đói nghèo của hộ.
- Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước. Qua phiếu
điều tra này sẽ cho phép thu thập được các thông tin định tính và định lượng về vấn
đề liên quan đến sản xuất và nguyên nhân nghèo đói của hộ.
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Thu thập thông tin qua các cán bộ
địa phương, người lãnh đạo trong cộng đồng và những người dân có uy tín trong
cộng đồng. Phương pháp này đặc biệt cho phép khai thác được những kiến thức bản
địa của người dân địa phương.
4.2.3. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
a. Đối với thông tin thứ cấp
Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp
thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin. Đối với các thông tin là
số liệu thì tiến hành lập lên các bảng biểu.
b. Đối với thông tin sơ cấp
Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính
bằng phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý. 6
4.2.4. Phương pháp phân tích thông tin
là các biến độc lập thuộc tính (
___
,1 mj
)
Hàm sản xuất CD được giải bằng phương pháp logarit hoá hai vế và giải trên
phầm mềm EXCEL.
c. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được dùng để so sánh các chỉ tiêu giữa các nhóm hộ
nghèo, hộ trung bình và hộ khá, giữa khu vực thuận lợi và khu vực khó khăn.
d. Phương pháp đồ thị
Để xác định sự bất bình đẳng trong thu nhập, đề tài sử dụng đường cong
Lorenz và hệ số Gini làm cơ sở cho phân tích so sánh đói nghèo. 7
Đường cong Lorenz có dạng:
Đường cong
Lorenz càng
cách xa đường
45
0
càng chứng
tỏ sự bất bình
đẳng trong thu
nhập càng lớn.
Hệ số Gini được đo bằng cách chia diện tích của hình nằm giữa đường 45
o
và
Tỷ lệ % thu
nhập
Cộng dồn
100 80
Đường
cong
Lorenz
60
40
20
i
: Tỷ lệ % dân số
F
i
: Tỷ lệ thu nhập cộng dồn
Hệ số Gini nhận giá trị từ 0 đến 1
4.3.2. Các chỉ tiêu bình quân
Công thức tính số bình quân:
n
X
n
i
i
X
1
Các số bình quân như: thu nhập bình quân, diện tích bình quân, nhân khẩu
bình quân, độ tuổi bình quân …
4.3.3 Chỉ tiêu hiệu suất biên một đơn vị của biến độc lập
(1) Đối với biến định lượng:
_
_
X
Y
bY
i
Trong cuộc sống hàng ngày của con người, để tồn tại được thì cần phải giải
quyết được những nhu cầu cơ bản nhất. Những nhu cầu này được chia ra làm hai
dạng, đó là những nh cầu về vật chất và những nhu cầu về tinh thần hay còn gọi là
những giá trị của cuộc sống.
Nhu cầu vật chất thiết yếu như: ăn, mặc, ở, đi lại.
Nhu cầu tinh thần thiết yếu như: giáo dục, y tế, giao tiếp.
Những nhu cầu này cần được đáp ứng ở một mức độ nhất định nào đó, mà
người ta goi là mức sống tối thiểu của cộng đồng Nghĩa là nếu không đạt được đến
mưc này, con người không thể đảm bảo cuộc sống để phát triển một cách bình
thường được.
Do vậy, khi nghiên cứu đói nghèo chúng ta cần phải nghiên cứu tới nhu cầu,
hay còn gọi là mức sống tối thiểu của người dân.
Nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào
không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Tuỳ
thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu
khác nhau mà nghèo đói được phát biểu khác nhau. Sau đây là một số khái niệm cơ
bản về nghèo đói:
- Khái niệm nghèo đói của một số tổ chức quốc tế: nghèo là tình trạng một bộ
phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình
họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng [22].
- Khái niệm nghèo đói do Hội nghị chống Đói nghèo Khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan, 1993: Nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con 10
người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển
kinh tế xã hội và phong tục tập quán từng địa phương [8].
- Khái niệm nghèo đói của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
Ngân hàng phát triển Châu Á đã phát biểu nghèo đói dưới hai hình thức là
- Tiếp cận về dinh dưỡng: người nghèo là những người có mức tiêu thụ Calo
đạt dưới 2.100 kcalo/người/ngày [8]. Chỉ tiêu này do Tổ chức Y tế Thế giới xây
dựng cho mỗi thể trạng trung bình của con người. Chỉ tiêu này áp dụng cho những
nước phát triển cũng như những nước đang phát triển.
- Tiếp cận về thu nhập: người nghèo là những người có mức thu nhập không
đảm bảo cho cuộc sống và chi tiêu [8]. Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài những
nhu cầu về lương thực và thực phẩm, con người có nhiều những nhu cầu cần phải
đảm bảo khác như nhà ở, mặc, y tế, giáo dục Do vậy nếu thu nhập không đảm bảo
trang trải được cuộc sống và chi tiêu thì được coi là nghèo đói.
- Tiếp cận về xã hội: người nghèo là những người không được tiếp cận
những dịch vụ công cộng như: y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, pháp luật Kinh tế
ngày càng phát triển, đời sống của người dân không ngừng được nâng lên về mọi
mặt. Khi đó ngoài những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống, con người cần phải đáp
ứng nhiều những nhu cầu khác. Đánh giá về nghèo không đơn thuần chỉ về dinh
dưỡng mà phải bao gồm cả những yếu tố khác nữa.
- Người nghèo là những người dễ bị tổn thương. Người nghèo bị tổn thương
bởi những rủi ro trong sản xuất và đời sống. Khả năng hồi phục sau những rủi ro
của người nghèo là hạn chế hơn rất nhiều so với những người khá giả.
Trên đây là một số khái niệm về nghèo đói cũng như một số hướng tiếp cận
nghèo đói. Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như phương hướng nghiên
cứu khác nhau mà có cách tiếp cận cho phù hợp. Trong đề tài này, tác giả công nhận
khái niệm nghèo đói của Việt Nam, đồng thời hướng tiếp cận nghèo đói đối với
người dân là tiếp cận về khía cạnh kinh tế, có nghĩa là tiếp cận về thu nhập của
người dân.
1.1.3. Tiêu chí đánh giá nghèo đói
Đói nghèo là một phậm trù lịch sử gắn với điều kiện cụ thể và trình đọ phát
triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Vì vậy, khó có
thể đưa ra được những tiêu chí và chuẩn mực chung xác định để đánh giá đói nghèo
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo qua các giai đoạn
ĐVT: đồng
Địa bàn
Thu nhập bình quân/ ngƣời/tháng
1996-2000
2001-2005
2006-2010
2016-2020
- Nông thôn, miền núi,
hải đảo.
55.000
80.000
- Nông thôn, đồng bằng,
trung du.
70.000
100.000
200.000
400.000
- Vùng thành thị
90.000
150.000
260.000
500.000
(Nguồn: Bộ lao động Thương Binh Và Xã Hội)
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Tình hình nghèo đói trên thế giới
tế - xã hội tương đồng với Việt Nam. Trong những năm vừa qua, Trung Quốc đã
thu được những thành công vượt bậc trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo,
đặc biệt trong chương trình xoá đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu to lớn.
Là quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, từ 250 triệu hộ nghèo năm 1978 đến
năm 2003 còn 29 triệu hộ [5], đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung
và của đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ nét.
Giải pháp xoá đói, giảm nghèo mà Trung Quốc đưa ra rất thiết thực, cụ thể:
- Thực hiện theo hình thức cuốn chiếu, chẳng hạn giai đoạn đầu chọn 500
thôn nghèo nhất. Nhà nước tập trung đầu tư cho hai năm với nguồn lực đủ mạnh để
giải quyết những công trình bức xúc liên quan đến sản xuất, đời sống dân sinh. Sau
hai năm lại chuyển đầu tư cho các thôn tiếp theo.
- Đối với gia đình nghèo, trước hết giúp cho họ cách thức làm ăn, đi vào phát
triển sản xuất để đảm bảo cuộc sống, sức khoẻ, sau đó mới hỗ trợ đầu tư, cho vay
vốn để phát triển mạnh sản xuất để thoát nghèo bền vững, nhiều vùng hướng mạnh
vào chăn nuôi bò sữa.
- Thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với gia đình nghèo, địa phương
nghèo, có cơ chế động viên toàn xã hội tham gia vào chương trình giảm nghèo, 15
động viên các tổ chức phi chính phủ, các nhà máy, xí nghiệp tham gia đầu tư vào
các vùng nghèo, đẩy mạnh hợp tác quốc tế với nhiều hình thức thích hợp như liên
doanh đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất sữa quy mô lớn ở các khu tự trị, tỉnh
nghèo để thúc đẩy chăn nuôi bò sữa, tạo nhiều việc làm tăng thu nhập cho nông dân
để thoát nghèo bền vững.
- Coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ về kỹ năng
sản xuất, tạo việc làm cho nông dân, quan tâm đào tạo nghề cho con em nông dân
để hướng tới mỗi gia đình có một người vào làm việc ở thành phố góp phần giảm
nghèo nhanh.
- Thực hiện cho gia đình nghèo vay vốn ưu đãi, phân công trách nhiệm giúp
Tóm lại: Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng chính
phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông
nghiệp nông thôn nhằm xóa đói giảm nghèo dân chúng ở khu vực nông thôn, có
như vậy mới xóa đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền
kinh tế.
1.2.4. Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia
Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia chính thức được hình thành từ
năm 1971 gắn liền với việc ban hành chính sách kinh tế mới của Chính phủ. Kể từ
đó, nó luôn được bổ sung, sửa đổi để phù hợp với nội dung của các chính sách phát
triển kinh tế - xã hội của Đất nước, như chính sách kinh tế mới (1970 - 1990), chính
sách phát triển mới (1990 - 2000) và tầm nhìn 2020.
Mục tiêu tổng thể của Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia là xoá
bỏ hoàn toàn nghèo đói trên toàn quốc. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mục
tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói được đặt ra theo từng thời kỳ nhất định, từ 49,3% năm
1970 xuống còn 16,7% năm 1990 và 7,2% năm 2000 [6].
Để đạt được những mục tiêu trên, Chính phủ Malaysia đã lựa chọn các chiến
lược nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tham gia tự tạo việc làm và các hoạt động có
thu nhập cao hơn. Do đa số người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, nên Chính
phủ dành nhiều ưu tiên thực hiện các chương trình và dự án nhằm tạo điều kiện cho 17
người dân nông thôn hiện đại hoá phương thức canh tác, chuyển dịch cơ cấu sản
xuất và cơ cấu sản phẩm để nâng cao thu nhập.
- Chương trình tái định cư nhằm đưa những người không có ruộng đất hoặc
những người có ruộng đất nhưng sản xuất không có hiệu quả đến những vùng đất
mới, ở đó họ có thể làm việc trong các đồn điền cao su hoặc sản xuất dầu cọ. Tại
nơi ở mới, những người định cư được cung cấp nhà ở với kết cấu hạ tầng tốt về
điện, nước.
- Chương trình cải tạo đất nông nghiệp thông qua việc dồn điền đổi thửa,
còn 15% năm 1990 và trên 4% năm 2002, vượt mục tiêu đề ra. Cụ thể hơn, năm
1990, tỷ lệ người nghèo ở các vùng nông thôn và các vùng thành thị đã giảm xuống
tương ứng còn 19,3% và 7,3% (từ các mức tương ứng 58,7% và 21,9% của năm
1970); các con số tương ứng của năm 2010 là 7% và gần 2% [6]. Theo đánh giá của
Ngân hàng Thế giới, với tốc độ như trong thời gian vừa qua, chỉ trong một vài năm
nữa ở Malaysia sẽ không còn ai phải sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập dưới 2
USD mỗi ngày.
1.2.5. Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
a. Tình hình nghèo đói của Việt Nam
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển với hơn 80 triệu dân, trong
những năm vừa qua cùng với sự nỗ lực của Đảng, Chính phủ, các cấp chính quyền
và toàn thể nhân dân, công cuộc xoá đói giảm nghèo đã thu được những thành công
to lớn.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đạt tỷ lệ cao, đời sống của người
dân không ngừng được tăng lên, số hộ nghèo đói đã giảm xuống. Với việc áp dụng
chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 - 2010, tỷ lệ đói nghèo qua các vùng trong giai
đoạn 2006 - 2010 được thể hiện qua bảng số liệu sau:
19
Bảng 1.2. Tỷ lệ nghèo đói bình quân các vùng của Việt nam qua các năm
(theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010)
Chỉ tiêu
Tỷ lệ ngƣời nghèo (%)
2006
2007
19,84
19,94
14,04
5.Duyên hải Miền trung
22,24
19,85
17,46
17,07
12,68
6.Tây Nguyên
24,90
21,90
18,90
15,90
12,90
7.Đông Nam Bộ
8,88
7,88
6,88
5,88
4,88
8.Tây Nam bộ
14,18
12,93
11,68
10,43
9,13
Nguồn: Số liệu chuẩn nghèo quốc gia 2006 - 2010
Như vậy ta thấy kể từ đầu năm 2006 khi Việt Nam áp dụng chuẩn nghèo
mới, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đi nhiều từ 17,27% (đầu năm 2006) xuống còn 9,34%