Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 1
Bài thuyết trình
ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 2
Trong thời kỳ nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới trong xu
toàn cầu hóa, chúng ta được biết về thuật ngữ “Định chế tài chính quốc tế”. Việt Nam là
thành viên của các định chế tài chính quốc tế: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF
)
, ngân hang thế
giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
A. QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ (
International Monetary Fund, IMF)
1. Sơ lược hình thành:
Cuối chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đồng minh bắt đầu nghiên cứu việc trợ
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 3
Logo của IMF Trụ sở chính của IMF
Văn phòng đại diện thường trú của IMF tại Việt Nam đặt tại số 63 Lý Thái Tổ
Suite 601 Hà Nội, Việt Nam
(http://translate.googleusercontent.com/translate_c?hl=vi&langpair=en%7Cvi&u=http://
www.imf.org/external/country/VNM/rr/index.htm&prev=/translate_s%3Fhl%3Dvi%26q
%3Ddieu%2Ble%2BIMF%26tq%3DIMF%2Bcharter%26sl%3Dvi%26tl%3Den&rurl=tr
anslate.google.com.vn&usg=ALkJrhiqIPqxJY1VePQQixElLBDSpw9ToA).
2. Chức năng, Nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động:
1.Chức năng: Có ba chức năng chính là
giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và cho vay (tài
trợ)
(
http://mfo.mquiz.net/wto/?Function=NEF&file=1107)
Giám sát là hình thức cố vấn chính sách thường xuyên của IMF đối với các nước
thành viên. Mỗi năm, IMF đưa ra đánh giá chi tiết về tình hình kinh tế mỗi nước. Quỹ sau
đó bàn luận với chính phủ các nước về các chính sách có lợi nhất trong việc duy trì tỷ giá
ổn định và một nền kinh tế tăng trưởng và thịnh vượng. IMF cũng kết hợp thông tin từ
các cuộc hội đàm đơn lẻ để đưa ra đánh giá chung về sự phát triển và triển vọng của từng
khu vực cũng như của thế giới. Các báo cáo của IMF được xuất bản 2 năm một làn trong
2 tài liệu Tổng quan kinh tế thế giới (World Economic Outlook) và Báo cáo ổn định tài
chính toàn cầu (Global Financial Stability Report).
Việc giám sát bao quát một phạm vi chính sách kinh tế rộng lớn, tuy nhiên mỗi
nước có một trọng tâm riêng tuỳ vào hoàn cảnh hiện tại Tỷ giá hối đoái, tiền tệ và chính
sách tài khoá luôn là trọng tâm chính của hoạt động giám sát. Các nhà nghiên cứu kinh tế
Một nước thành viên có thể đề nghị hỗ trợ tài chính nếu không đủ khả năng tự tài
trợ cho cán cân thanh toán quốc tế. Khoản vay của IMF tạo điều kiện cho việc điều chỉnh
các chính sách và cải cách mà quốc gia đó cần phải làm để lành mạnh hoá cán cân thanh
toán và hồi phục nền kinh tế.
Khoản vay của IMF được thực hiện dưới hình thức dàn xếp (arrangement) nhằm
kiểm soát các chính sách và phương tiện mà nước đi vay đồng ý thực hiện để giải quyết
khó khăn trong cán cân thanh toán. Chương trình kinh tế theo sau sự dàn xếp đó được
nước sở tại xây dựng với sự tư vấn của IMF và trình cho Hội đồng thường trực của Quỹ
dưới dạng thư đề nghị (Letter of Intent). Khoản vay sẽ được giải ngân cho chương trình
nếu thư được Hội đồng điều hành thông qua.
Trong những năm qua, IMF đã phát triển được nhiều công cụ cho vay (facility)
phù hợp với từng tình trạng của mỗi quốc gia thành viên. Các nước nghèo có thể vay với
lãi suất ưu đãi hỗ trợ phát triển và xoá đói nghèo PRGF (Poverty Reduction and Growth
Facility). Trong những năm gần đây, các khoản vay lớn nhất của IMF được thực hiện qua
PRGF với lãi suất chỉ 0,5% và thời hạn từ 5,5 đến 10 năm.
Các khoản cho vay không ưu đãi được cung cấp thông qua 4 công cụ: Stand-By
Arrangements (SBA), Extended Fund Facility (EFF), Supplemental Reserve Facility
(SRF) và Compensatory Financing Facility (CFF).
- SBA được thiết lập để giúp giải quyết khó khăn về cán cân thanh toán trong ngắn hạn
và cung cấp nguồn lực lớn nhất của IMF. Độ dài của SBA thường từ 12 đến 18 tháng với
thời hạn hoàn trả từ 2 năm 3 tháng đến 4 năm.
- EFF ra đời năm 1974 nhằm giúp đỡ các kho khăn kéo dài về cán cân thanh toán đòi hỏi
cải cách cơ bản cơ cấu nền kinh tế. Các khoản dàn xếp thông qua EFF vì vậy kéo dài từ 3
năm trở lên với thời hạn hoàn trả từ 4 năm rưỡi đến 7 năm.
- SRF ra đời năm 1997 nhằm tài trợ ngắn hạn với quy mô lớn, xuất phát từ sự mất lòng
tin thị trường đột ngột do các nền kinh tế mới nổi những năm 90 làm các luồng vốn đầu
tư bị rút về hàng loạt, đòi hỏi sự hỗ trợ tài chính lớn hơn bất cứ hoạt động nào của IMF
trước đó. Thời hạn hoàn trả vốn từ 1 năm rưỡi đến 2 năm, có thể yêu cầu gia hạn 6 tháng.
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 5
Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc và các cán bộ Quỹ.
- Hội đồng Thống đốc: Bộ phận ra quyết định cao nhất tại IMF. Hội đồng Thống đốc bao
gồm các Thống đốc (thường là Thống đốc Ngân hàng Trung ương hoặc Bộ trưởng Tài
chính) và một Thống đốc phụ khuyết do từng nước hội viên IMF bổ nhiệm. Hội đồng
thống đốc có một số các quyền hạn cụ thể, chẳng hạn như kết nạp hội viên mới, quyết
định cổ phần, và phân bổ đồng SDR cũng như các quyền hạn khác không phân cấp cho
Ban Giám đốc Điều hành hoặc Tổng Giám đốc.
- Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế: Trước đây gọi là Ủy ban Lâm thời, do Hội đồng
Thống đốc IMF thành lập vào tháng 10/1974 với chức năng là để tư vấn cho các Thống
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 6
đốc về các vấn đề tiền tệ quốc tế. Mỗi thành viên trong số 24 thành viên của Ủy ban Tài
chính Tiền tệ Quốc tế cũng là Thống đốc tại IMF, một Bộ trưởng hay một quan chức có
chức vụ tương đương.
- Ban Giám đốc Điều hành: gồm 1 Tổng Giám đốc điều hành và 24 Giám đốc điều hành,
trong đó 5 Giám đốc điều hành đại diện cho 5 nước có cổ phần lớn nhất tại Quỹ (Mỹ,
Nhật, Đức, Anh, Pháp) và 19 Giám đốc điều hành đại diện cho các nhóm nước có đặc
điểm giống nhau về kinh tế địa lý, văn hóa, trừ Nga và Trung quốc có Giám đốc điều
hành riêng.
- Tổng Giám đốc: do Ban Giám đốc Điều hành lựa chọn, với nhiệm kỳ đầu tiên là 5 năm.
Tổng Giám đốc tham gia vào các buổi họp của Hội đồng Thống đốc, Ủy ban Tài chính
Tiền tệ Quốc tế và Ủy ban Phát triển. Ngoài ra, Tổng Giám đốc còn phụ trách các cán bộ
IMF. Mỗi Phó Tổng Giám đốc, phụ trách một bộ phận dưới sự chỉ đạo của Tổng Giám
đốc, có nhiệm vụ chủ trì các buổi họp của Ban Giám đốc Điều hành và duy trì các mối
liên hệ với các quan chức chính phủ của nước hội viên, với các Giám đốc Điều hành, với
các cơ quan thông tin và các tổ chức khác.
- Cán bộ Quỹ: có khoảng 2600 cán bộ từ hơn 100 nước, được tổ chức thành 5 Vụ khu
vực (Vụ Châu Phi, Vụ Châu Âu, Vụ Trung đông và Trung Á, Vụ Châu Á Thái Bình
Dương và Vụ Tây Bán cầu); 9 Vụ chức năng và nghiệp vụ đặc biệt (Vụ Tài chính, Vụ
Các hoạt động của IMF gồm: giám sát các chính sách kinh tế vĩ mô của các nước
hội viên; cung cấp những hỗ trợ về tài chính ngắn và trung hạn cho các nước hội viên
hiện đang gặp phải những khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán và trợ giúp kỹ thuật.
Ngoài ra, IMF cũng hoạt động tích cực trong việc giảm đói nghèo cho các quốc
gia trên thế giới một cách độc lập hoặc trong sự hợp tác với Ngân hàng thế giới WB
(World Bank) và các tổ chức khác.
Vốn hoạt động:
Khi gia nhập IMF, mỗi nước thành viên đều phải đóng một khoản tiền nhất định
được coi là một khoản lệ phí hội viên. Tuy nhiên khoản đóng này chỉ thực hiện khi quỹ
có nhu cầu: khi có ai cần vay tiền của quốc gia đó thì quốc gia đó mới phải đóng. Chẳng
hạn, nếu một nước muốn vay Bảng Anh thì khi đó IMF mới yêu cầu Anh phải đóng. Số
tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
+ Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viên
vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính.
+ Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay
và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước
thành viên. Dĩ nhiên, nước thành viên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần nó
càng được vay nhiều.
+ Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước
thành viên.
Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ
sau khi phân tích đánh giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó. Nước càng
giàu, lệ phí càng cao (xem phụ lục 3). Mức đóng góp của mỗi nước thành viên vào IMF
rất khác nhau. Năm 1985, Mỹ đóng 20,l%, khối EEC đóng 27,9%, còn các nước đang
phát triển đóng 32,4%. Mức lệ phí này cứ 5 năm lại được xem xét lại, có thể tăng lên
hoặc giảm đi tùy theo nhu cầu của IMF và mức độ phát đạt của nước thành viên. Tuy
nhiên từ l/4/1978, với sự sửa đổi điều lệ lần thứ hai, việc xem xét và điều chỉnh phần
đóng góp của mỗi nước thành viên được quy định 3 năm một lần. Năm 1945, 35 thành
viên khi đó đóng góp vào IMF 7,6 tỷ USD, năm 1977 con số đó khoảng 200 tỷ USD.
Nguồn : Kinh tế đốí ngoại, Võ Thanh Thu, tr 289
Các nước thành lập IMF hồi 1944 lập luận rằng Quỹ sẽ hoạt động hiệu quả nhất và
các quyết định sẽ được đề ra một cách trách nhiệm nhất nếu gắn liền trực tiếp quyền bỏ
phiếu của các thành viên với số lượng tiền đóng vào Quỹ của họ (xem bảng l). Nước nào
đóng góp nhiều nhất đương nhiên tiếng nói sẽ có trọng lượng nhất khi quyết định chính
sách của Quỹ. Mỹ, Anh, Pháp là những nước khi mới thành lập đóng nhiều hơn hết và
cũng là những nước có ảnh hưởng nhiều hơn hết đối với các quyết định của IMF. Mỗi
nước có 250 phiếu và cộng thêm l phiếu cho mỗi 100.000 SDR của phần đóng góp. Bởi
vậy Mỹ hiện nay có 265.000 phiếu, hay 18% tổng số phiếu, Marshall Islands có 275
phiếu.
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 9
Quyền rút vốn đặc biệt (SDR):
- Ðó là loại tiền đặc biệt (SDR không phải là một loại tiền mà chỉ là một đơn vị
hạch toán) và IMF tạo ra để bổ sung vào tài sản dự trữ mà hầu hết các nước thành viên
dùng để đảm bảo nhu cầu thanh toán ngoại tệ và giao dịch với nước ngoài. Việc này đã
giải quyết được nguy cơ khan hiếm những phương tiện thanh toán quốc tế.
- Lịch sử hình thành SDR:
Do sức ép của Mỹ, Hội nghị Bretton Woods phải chấp nhận 1 tỷ lệ vàng USD là
35 USD – 1 ounce vàng. Cuối 1947 Bộ Trưởng Tài chính Mỹ, ông Johw Suyder đã tuyên
bố với Tổng giám đốc của IMF là Mỹ bán và mua vàng bằng USD với giá 35 USD/
ounce cho tất cả các NHTW nào có yêu cầu. Ðiều này biến hệ thống Bretton Woods
thành một hệ thống bản vị USD.
Để giải quyết vấn đề dự trữ của quỹ tháng 6-1967 Hội đồng Thống đốc IMF đã
nhóm họp ở Rio de Janeiro, thủ đô Brazil và đã chấp nhận nguyên tắc tạo ra một loại dự
trữ quốc tế mới là SDR (Special drawing right). Dự trữ SDR được thể hiện dưới hình
thức bút tệ, được ghi trong tài khoản đặc biệt của mỗi nước thành viên và có thể sử đụng
qua chuyển khoản. Giá trị của mỗi đơn vị SDR lúc ban đầu được ấn định là 0,888671
ngoài (16 ngân hàng) do ngân hàng BFCE (Pháp) và JEXIM (Nhật) đứng ra huy động với
tổng số 85 triệu USD, cộng thêm với viện trợ không hoàn lại của 9 nước bao gồm Nhật,
Pháp, Thuỵ điển, Thuỵ sỹ, úc, Bỉ, Canada, Phần Lan, Áo để trả hết nợ quá hạn cho IMF.
Tháng 10/1993, sau khi thanh toán nợ quá hạn, Việt Nam đã nối lại quan hệ tài chính với
IMF. Ngay trong tháng 10/1993, IMF đã cho Việt Nam vay hai khoản theo lãi suất thị
trường: (i) theo thể thức dự phòng (SBA) với số tiền tương đương 157 triệu USD và (ii)
theo thể thức chuyển đổi hệ thống (STF) trị giá khoảng 34 triệu USD để trả nợ cho khoản
vay bắc cầu.
Tháng 11/1994, IMF đã thông qua chương trình cho vay điều chỉnh cơ cấu mở rộng
(ESAF) 3 năm (1994-1997) với lãi suất ưu đãi hơn với tổng trị giá khoảng 535 triệu
USD. Sau khi hoàn thành các điều kiện của chương trình ESAF năm thứ nhất và thứ hai,
Việt Nam đã rút được tổng số tiền là 360 triệu USD. Đến tháng 10/1997, chương trình
ESAF 3 năm 1994-1997 kết thúc.
Ngày 13/4/2001 IMF thông qua chương trình PRGF cho Việt Nam với tổng số vốn cam
kết là 368 triệu USD chia làm 7 đợt rút vốn bằng nhau trong 3 năm (2001-2004). Tính
đến tháng 8/2002,Việt Nam đã thực hiện được 3 đợt rút vốn theo chương trình này với
tổng số tiền là 158,8 triệu USD. Sau 3 đợt rút vốn, do chính sách an toàn mà IMF đưa ra
làm điều kiện cho các khoản giải ngân tiếp theo không phù hợp với khuôn khổ luật pháp
hiện hành của Việt Nam nên chương trình PRGF của IMF với Việt Nam đã kết thúc vào
ngày đến hạn, ngày 12/4/2004 vừa qua.
2.2. Hỗ trợ kỹ thuật của IMF cho Việt Nam
Trước khi nối lại quan hệ tín dụng, IMF đã cử nhiều đoàn chuyên gia kinh tế vào giúp
Việt Nam xây dựng các chương trình kinh tế, trong đó có các biện pháp chống lạm phát.
IMF cũng đã nhận đào tạo một số cán bộ của các ngành kinh tế tổng hợp về kiến thức
kinh tế thị trường, thực hiện trợ giúp kỹ thuật cho NHNN và Bộ tài chính trị giá 1,9 triệu
Đôla Mỹ dưới hình thức cử các chuyên gia tư vấn ngắn, trung và dài hạn về nghiệp vụ
chính sách đồng thời tổ chức các khoá tập huấn, hội thảo trong nước cũng như các khảo
sát tại các nước có những kinh nghiệm về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ tương tự
như Việt Nam.
Dự án VIE/93/007 về “Tăng cường thể chế và chính sách tài chính” được hỗ trợ của
các nước đang trong quá trình chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, về quản lý kinh tế vĩ
mô và kinh nghiệm của Nhật Bản. Điều này đã góp phần cải thiện và mở rộng kiến thức
của các cán bộ quản lý kinh tế của Việtnam.
6. Tổng Kết:
IMF ra đời là một tất yếu khách quan của quá trình vận động các nền kinh tế trên
thế giới theo xu hướng hội nhập toàn cầu. Sự liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau của các nền
kinh tế ngày càng lớn. Ðể duy trì sự ổn định và phát triển, trước hết là ổn định về các
quan hệ tài chính tiền tệ trên phạm vi thế giới, cần một định chế tài chính chung có khả
năng điều tiết và phối hợp hành động của các quốc gia. Trong hơn 50 năm qua IMF đã
khẳng định được vai trò của mình trong việc duy trì ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế
thế giới.
Với tư cách là tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế có các thành viên là Chính phủ các
nước, tự điều này, đã tạo cho IMF uy tín và tính độc lập cao đối với cộng đồng tài chính
quốc tế. Ðối với các nước gặp khó khăn về tài chính để xử lý các món nợ Chính phủ hay
nợ thương mại nếu không có sự ủng hộ của IMF thì khó mà đạt được các thỏa ước giải
quyết nợ. Bên cạnh đó, với các nước đang phát triển, thiếu vốn vẫn là căn bệnh kinh niên.
Thực tế cho thấy dự trữ của IMF hầu như dồn hết toàn bộ vào các nhu cầu cần thiết của
các nước đang phát triển; năm 1980 là 90,2% và 1984 là 87,6% các loại tín dụng. IMF trở
thành người trong cuộc có ảnh hưởng lớn đến chính sách kinh tế vĩ mô của nhiều nước
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 12
này với 3 vai trò cơ bản : điều chỉnh thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ; cải cách kinh
tế trong giai đoạn chuyển đổi và thanh toán nợ quá hạn.
Về mặt tổ chức có thể nói IMF có một cơ cấu tổ chức khá hoàn hảo với đội ngũ
nhân viên là các chuyên gia giỏi thuộc nhiều lĩnh vực được tập hợp từ nhiều quốc gia, có
quan điểm chính trị độc lập. Trong hoạt động của IMF vừa có các nhân tố bảo vệ lợi ích
các nước phương Tây - nhiều cổ đông lớn nhất của quỹ, vừa có các nhân tố là công cụ để
các nước hợp tác với nhau nhằm duy tân sự ổn định nền tài chính toàn cầu, đồng thời
Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư (ICSID): thành lập năm 1966
như một diễn đàn phân xử hoặc trung gian hòa giải các mâu thuẫn giữa nhà đầu tư
nước ngoài với nước nhận đầu tư. Số quốc gia thành viên: 139.
Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA): thành lập năm 1988 nhằm thúc đẩy
FDI vào các nước đang phát triển. Số quốc gia thành viên: 162.
2. Chức năng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động
2.1. Chức năng nhiệm vụ
Chức năng của WB được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện.
IBRD và IDA đi vay (phát hành trái phiếu) và cho các nước thành viên vay
lại (hiện WB có 184 nước thành viên). Không phải nước thành viên nào cũng
được vay WB. Cá nhân và công ty không được WB cho vay. Chính phủ của
những nước đang phát triển nhưng có thu nhập quốc dân trên đầu người trên
1305 USD/năm được vay của IBRD. Các khoản vay này có lãi suất chỉ cao
hơn lãi suất mà WB đã đi vay một chút. Chính phủ của các nước nghèo, có
thu nhập quốc dân trên đầu người dưới 1305 USD/năm (trong thực tế là dưới
805USD/năm) được vay của IDA. Các khoản vay sẽ không đòi lãi suất và có
thời hạn lên tới 35-40 năm.
Trong hai thập kỷ đầu kể từ khi được thành lập, IBRD đã dành hơn 2/3 tổng
giá trị các khoản cho vay của mình cho các dự án phát triển năng lượng và
giao thông vận tải.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng vẫn
quan trọng nhất, song hoạt động của IBRD và IDA đã rất đa dạng, từ hỗ trợ
giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông
thôn và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Các hoạt động của IBRD và IDA đều trực
tiếp liên quan đến giúp đỡ người nghèo và mang hình thức hỗ trợ tài chính
lẫn kỹ thuật.
Từ thập niên 1980, ngoài đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người, IBRD và
IDA bắt đầu cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách ở
các nước đang phát triển.
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 15
Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ khác, các nhóm hỗ trợ, và các tổ chức xã hội dân
sự.
3. Cơ cấu tổ chức và các quốc gia thành viên
Cơ cấu hiện hành của Nhóm Ngân hàng Thế giới gồm có Hội đồng Thống đốc, Ban
Giám đốc điều hành, Chủ tịch, Tổng giám đốc và các cán bộ của WB.
Hội đồng Thống đốc: là cơ quan quyết định cao nhất tại WB. Mỗi nước hội viên
cử một đại diện của nước mình làm thành viên của Hội đồng Thống đốc.
Uỷ ban Phát triển: được thành lập vào năm 1974, có trách nhiệm tư vấn cho cả 2
Hội đồng Thống đốc của IMF và WB về các vấn đề liên quan đến cung cấp vốn
cho các nước đang phát triển.
Ban Giám đốc điều hành: gồm 24 Giám đốc điều hành (trong đó có 5 Giám đốc
điều hành (GĐĐH) được bổ nhiệm từ năm nước hội viên có số cổ phần lớn nhất
là Mỹ, Nhật, Đức, Pháp và Anh); và 19 GĐĐH được bầu chọn. Nhiệm kỳ của
GĐĐH là 2 năm. Ban GĐĐH chịu trách nhiệm điều hành mọi công việc hàng
ngày của WB, thực hiện nhiệm vụ theo các chức năng và quyền hạn được giao
phó theo Điều lệ và/hoặc được Hội đồng Thống đốc giao. Việt Nam thuộc Nhóm
Đông Nam Á gồm 11 nước là Brunây, Fiji, Inđônêxia, Lào, Malaysia, Myanma,
Nêpan, Singapore, Thái lan, Tông ga và Việt Nam.
Chủ tịch: do Ban GĐĐH lựa chọn với nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch tham gia vào các
cuộc họp của Hội đồng Thống đốc và Uỷ ban Phát triển. Ngoài ra, Chủ tịch còn
phụ trách về nhân sự của IBRD và IDA, chủ trì các buổi họp của Ban GĐĐH và
duy trì mối liên hệ với chính phủ các nước hội viên, các GĐĐH, với các cơ quan
thông tin và các tổ chức khác. Hiện nay, Chủ tịch Nhóm WB là ông James D.
Wolfensohn, người Mỹ, giữ cương vị này từ tháng 6/1995. Giúp việc cho Chủ
Hỗ trợ các chương trình phá mìn tại các nước Bosnia, Croatia, Ethiopia phù hợp
với những hướng dẫn đối với việc cấp tài chính cho công tác dò mìn.
53 tỷ USD trợ cấp không hoàn lại được cấp cho 48 nước từ năm 1997, bao gồm:
Tại Afghanistan, chiến lược tái thiết với người dân Afghan và sự tham gia của
người giữ tiền đặt cọc nhà đất khác, chương trình trao quyền cho cộng đồng, và
chương trình ưu tiên hỗ trợ ngành.
Phục hồi ngành y tế tại Somalia, được thực hiện với sự hỗ trợ của Hiệp hội chữ
thập đỏ quốc tế.
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 17
Hỗ trợ đối với chương trình sức khoẻ tinh thần Tranvnik tại Bosnia giải quyết
những hậu quả tâm lý xã hội của các mâu thuẫn.
Phục hồi các đường giao thông nông thôn tại nước cộng hoà Công gô.
5. Quan hệ với Việt Nam
Trong năm tổ chức thành viên, Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA và Công ty Tài chính
Quốc tế đang hoạt động cho tiến trình phát triển của Việt Nam.
Nhóm Ngân hàng Thế giới cung cấp tín dụng cho Việt Nam thông qua Hiệp hội Phát
triển Quốc tế IDA. Là một nước có thu nhập thấp, Việt Nam được hưởng những khoản
vay không tính lãi với thời gian ân hạn là mười năm, thời gian trả nợ trong vòng bốn
mươi năm và chi phí hành chính dưới một phần trăm.
Ngoài ra, Nhóm Ngân hàng Thế giới còn tài trợ cho Việt Nam thông qua tổ chức hỗ trợ
cho doanh nghiệp tư nhân của mình là Công ty Tài chính Quốc tế IFC. Công ty Tài chính
Quốc tế IFC trợ giúp phát triển khu vực tư nhân của Việt Nam thông qua tài chính của dự
án, bằng việc huy động vốn trên các thị trường tài chính quốc tế, và thông qua các hỗ trợ
kỹ thuật cho các doanh nghiệp và Chính phủ.
Việt Nam cũng được hỗ trợ thông qua hoạt động của Chương trình Phát triển Dự án Mê
kông MPDF, được thành lập vào năm 1996 để trợ giúp cho việc phát triển khu vực tư
phí cam kết 0 - 0,5%/năm, không lãi suất, 10 năm ân hạn). Ngoài ra, IFC cũng cho
vay các dự án thuộc khu vực tư nhân của Việt Nam với lãi suất thị trường. MIGA đã
ký kết một số hiệp định bảo lãnh cho các dự án đầu tư vào Việt nam.
Bên cạnh đó, có thể nêu một vài chương trình WB tài trợ Việt Nam trong lĩnh vực y tế
và giáo dục như: Dự án Phòng chống HIV/AIDS với thời gian dự kiến từ tháng
6/2005 đến tháng 12/2010; Khoản tín dụng trị giá 50 triệu USD được Ban giám đốc
Ngân hàng thế giới thông qua ngày 23/6/2009 dành cho Chương trình chính sách phát
triển giáo dục đại học lần thứ nhất của Việt nam, nhằm trợ giúp ngành giáo dục Việt
Nam mở rộng các cơ sở đào tạo, và cùng lúc đảm bảo tiếp cận công bằng đến những
chương trình học liên quan; Khoản vay trị giá 127 triệu USD cho Chương trình Đảm
bảo Chất lượng Giáo dục tại Việt Nam, chương trình này đặc biệt chú ý đến học sinh
thiệt thòi ở bậc tiểu học thông qua việc trợ giúp Chính Phủ triển khai chương trình cải
cách giáo dục 2 buổi một ngày.
Ngoài ra, cùng ngày 23/6/2009, Ngân hàng thế giới cũng thông qua hai dự án khác tại
Việt Nam: một dự án nhằm giảm thải ô nhiễm ra các dòng sông tại thành phố Quy
Nhơn và một dự án nhằm xây dựng năng lực quản lý việc xử lý khối lượng lớn chất
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 19
PCB (Polychlorinated biphenyls) tại Việt Nam. Hai dự án này nhận được một khoản
hỗ trợ trị giá 12 triệu USD từ Vốn uỷ thác của Quỹ Môi trường Toàn cầu do Ngân
hàng thế giới quản lý.
Kể từ năm 1993, khi WB trở lại Việt Nam, IDA đã cho vay không lãi suất và viện trợ
không hoàn lại tổng cộng khoảng 6 tỷ USD để hỗ trợ Việt Nam phát triển và xóa đói
nghèo.
6. Các tổng giám đốc
Như một thông lệ, các tổng giám đốc của WB đều do đương kim tổng thống Hoa Kỳ chỉ
định, ngược với các giám đốc của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) luôn là người Châu Âu.
Eugene Meyer (tháng 6 đến tháng 12 năm 1946)
Lawrence Summers - giai đoạn 1991 - 1993
Joseph E. Stiglitz - giai đoạn 1997 - 2000
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 20
Nicholas Stern - giai đoạn 2000 - 2003
François Bourguignon - giai đoạn 2003 – nay
C. NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á (ADB- ASIAN
DEVEPLOPMENT BANK
1. Sơ lược hình thành:
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) là một tổ chức tài chính phát triển Với tôn chỉ hoạt
động là giúp các nước đang phát triển giảm đói nghèo và tăng cường hợp tác trong khu
vực, ADB chính thức đi vào hoạt động từ 19/12/1966, với trụ sở chính đặt tại Manila,
Philipin. Ban đầu ADB chỉ có 31 quốc gia hội viên, đa dạng về tầm cỡ, đặc điểm, nhu
cầu và tiềm năng, trong đó có 19 nước trong khu vực (châu Á – Thái Bình Dương) và 12
nước ngoài khu vực. Hiện nay, Ngân hàng Phát triển Châu Á bao gồm 67 nước thành
viên (tính đến tháng 6 năm 2008) tham gia vào các hoạt động thúc đẩy tiến bộ kinh tế và
xã hội tại các nước thành viên đang phát triển trong khu vực Châu Á và Thái B.nh Dương
2. Chức năng, mục tiêu hoạt động:
2.1 Chức năng:
Chức năng của ADB là hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng, phát triển
xã hội, quản lý kinh tế tốt. Cụ thể:
- Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng: tăng trưởng kinh tế không
tự nhiên có tính bền vững và thường làm gia tăng mất công bằng. Để tăng
sách có hiệu quả; (iv) nâng cao vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển; (v) hợp tác
và hội nhập vùng và (vi) bền vững về môi trường. Như vậy, ngoài vai trò truyền thống là
người cung cấp tài chính cho các dự án phát triển ở các nước đang phát triển (DMC),
ADB đã đảm nhận nhiệm vụ mới đó là tham gia vào các vấn đề mang tính chính sách, tạo
sự phát triển bền vững và những vấn đề liên quan đến hợp tác khu vực.
3. Cơ cấu tổ chức, các quốc gia thành viên:
Về cơ cấu tổ chức, cơ quan ra quyết định cao nhất của ADB là Ban Thống đốc do mỗi
quốc gia thành viên đóng góp một đại diện. Đến lượt nó ban Thống đốc lại tự bầu ra
trong số họ 12 thành viên của Ban Giám đốc và các cấp phó của họ. 8 trong số 12 thành
viên này là đại diện của các quốc gia trong khu vực(các quốc gia châu Á - Thái Bình
Dương) và số còn lại là từ các quốc gia ngoài khu vực. - Ban Thống đốc còn bầu ra chủ
tịch Ngân hàng, là người đứng đầu Ban Giám đốc và điều hành ADB. Mỗi chủ tịch giữ
cương vị của mình trong một nhiệm kì kéo dài 5 năm và có thể được tái đắc cử. Theo
truyền thống và vì Nhật Bản là một trong những cổ đông lớn nhất của ADB, cho nên chủ
tịch của ADB đã luôn là người Nhật. Chủ tịch đương nhiệm của ADB là Haruhiko
Kuroda. - Trụ sở của ngân hàng ADB đặt tại 6 ADB Avenue, thành phố Mandaluyong,
Metro Manila, Philippine, và có văn phòng đại diện trên khắp thế giới. Hiện ADB có
khoảng 2400 nhân viên, đến từ 53 trên tổng số 67 quốc gia thành viên), và hơn một nửa
số nhân viên của họ là người Philippine. Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 22
Ông Haruhiko Kuroda - Chủ tịch hội đồng
quản trị Ngân hàng ADB
Ông Ayumi Konishi - Giám đốc Quốc gia
của ADB tại Việt Nam
triển …
(iv) Hoạt động khu vực tư nhân: bao gồm đầu tư cổ phần, cho vay trực tiếp để hỗ trợ khu
vực tư nhân phát triển và tham gia vào quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước hội viên
Thuyết trình Định chế tài chính quốc tế_Nhóm 1
Page 23
(v) Hoạt động đồng tài trợ và bảo lãnh: ADB phối hợp với các nhà tài trợ khác trong các
chương trình, dự án, xây dựng chiến lược phát triển và bảo lãnh cho các khoản vay khu
vực công cộng hoặc tư nhân của các nước hội viên.
5. Hoạt động của ADB tại Việt Nam:
5.1 Chiến lược hỗ trợ của ADB cho Việt Nam
Dựa vào nhu cầu, ưu tiên phát triển của quốc gia, chiến lược hỗ trợ Việt Nam của ADB
giai đoạn 2001 – 2005 đã đặt ra những ưu tiên về các lĩnh vực, ngành và địa lý để đảm
bảo tăng trưởng đến được với người nghèo, bao gồm (i) tăng trưởng bền vững thông qua
động lực chính là phát triển nông thôn và phát triển khu vực tư nhân trong nước; (ii) phát
triển toàn diện về xã hội trong đó ưu tiên là nâng cao chất lượng của lực lượng lao động
và giảm thiểu tác động ảnh hưởng đến sức khoẻ người nghèo; (iii) quản lý điều hành tốt
thông qua các hoạt động cải cách hành chính công, tăng cường năng lực địa phương, cải
cách về pháp lý và quản lý hành chính công; (iv) tập trung các hoạt động trợ giúp theo
khu vực địa lý cho miền Trung thông qua việc tập trung khoảng 1/3 các dự án cho vay
cho khu vực miền Trung
5.2 Hoạt động cho vay và Hỗ trợ kỹ thuật (HTKT) của ADB cho Việt Nam:
Trước năm 1978, ADB đã thông qua 7 khoản vay với tổng số vốn vay là 27,4 triệu USD
và 12 HTKT với tổng số vốn 1,1 triệu USD. Trong những năm 1980, ADB đã hỗ trợ Việt
nam thông qua các HTKT vùng (Regional Technical Assistance
và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn và (iii) dự án Tài chính nhà ở, trị
giá 30 triệu USD, thực hiện từ 2003 - 2008, nhằm cấp tín dụng nhà ở cho các hộ gia đình
có thu nhập thấp và trung bình ở cấp quốc gia.
Về HTKT, kể từ năm 1993, ADB đã tài trợ cho ngành ngân hàng 12 HTKT với
tổng trị giá 8,8 triệu USD, tập trung vào các hoạt động đào tạo, tăng cường năng lực về
nghiệp vụ ngân hàng thương mại, hỗ trợ và chuẩn bị thực hiện khoản vay, phát triển thị
trường tài chính, tín dụng nông thôn, hỗ trợ khuôn khổ pháp lý và chính sách cho lĩnh
vực ngân hàng
5.3 Một số hỗ trợ nổi bật:
ADB hỗ trợ 600 triệu USD cho chương trình giảm nghèo và khắc phục tác động
khủng hoảng:
Ngày 20/10/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam Nguyễn Văn
Giàu và Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam Ayumi
Konishi đã ký kết các Hiệp định cho Khoản vay Hỗ trợ thực hiện chương trình Giảm
nghèo V- Tiểu chương trình II và Khoản vay Hỗ trợ khắc phục tác động khủng hoảng với
tổng trị giá 600 triệu USD.
Khoản vay hỗ trợ khắc phục tác động khủng hoảng có trị giá 500 triệu USD trong 5 năm
từ nguồn Quỹ Hỗ trợ chống khủng hoảng theo chu kỳ (CSF) được ADB thiết lập nhằm
đáp ứng nhu cầu khẩn cấp về vốn do tác động của khủng hoảng. Đây là một trong những
hành động của ADB nằm trong chương trình hành động chung với các giải pháp cụ thể
hỗ trợ các quốc gia thành viên đang phát triển về an sinh xã hội, duy trì đầu tư vào cơ sở
hạ tầng kinh tế và xã hội.
Khoản vay cho chương trình Giảm nghèo V- Tiểu chương trình II trị giá 100 triệu USD
có thời hạn 24 năm, được lấy từ nguồn vốn vay ưu đãi của Quỹ Phát triển Châu Á (ADF).
Đây là khoản vay song song với Chương trình Tín dụng Hỗ trợ Giảm nghèo 8 (PRSC 8)
do Ngân hàng Thế giới điều phối. Mục tiêu của khoản tín dụng trên nhằm hỗ trợ Chính
phủ tiến hành cải cách chính sách trong các lĩnh vực phát triển doanh nghiệp, hòa nhập xã
Vay ADB 151 triệu USD phát triển điện năng
Chiều 17/09/2009, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chính phủ Việt Nam đã ký
hiệp định cho vay trị giá 151 triệu USD trong dự án nâng cao dịch vụ điện năng ở vùng
sâu, vùng xa.
Khoản vay dưới hình thức Quyền rút vốn đặc biệt từ Quỹ Phát triển Châu Á ưu đãi, tài
trợ 76% cho dự án nâng cao dịch vụ điện năng trị giá 197.6 triệu USD. Nguồn vốn 46,6
triệu USD còn lại được ba công ty điện lực của EVN cung cấp. Ba công ty này là cơ quan
điều hành dự án, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015.
Dự án gồm hai hợp phần. Hợp phần thứ nhất sẽ xây dựng 5 đến 10 các thủy điện nhỏ trên
sông, suối kết nối với lưới điện quốc gia ở Lai Châu, Điện Biên và nhiều tỉnh khác tại
miền bắc và miền trung. Các tuyến này sẽ cung cấp điện cho từ 25 đến 50 xã nghèo ở