KẾT HỢP PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dùng pháp luật hoặc đạo đức để cai trị đã trở thành thuật trị nước, an
dân từ ngàn xưa của các nhà nước. Dưới mỗi triều đại, tùy thuộc vào điều
kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù của mình mà các giai cấp cầm quyền lựa
chọn một phương thức quản lý nhà nước thích hợp, hiệu quả, đó có thể là đức
trị (quản lý xã hội bằng đạo đức), là pháp trị (quản lý xã hội bằng pháp luật)
hoặc kết hợp cả hai phương thức đó.
Ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của các triều
đại phong kiến, do chịu ảnh hưởng sâu sắc của các quan điểm Phật giáo, Nho
giáo nên phương thức cai trị xã hội bằng pháp luật và hoạt động xây dựng
pháp luật còn bị xem nhẹ. Chính vì vậy, đạo đức giữ vai trò to lớn trong điều
chỉnh các QHXH. Cùng với nền văn hóa lúa nước: tương thân, tương ái, đoàn
kết, nhân hòa, khoan dung, trọng nghĩa... hàng loạt QHXH đã được điều chỉnh
bằng hệ thống quy phạm đạo đức. Có thể nói, đạo đức đã len lỏi đến từng mối
QHXH, thấm đẫm trong tư tưởng đối nhân xử thế của người Phương Đông
nói chung và người Việt Nam nói riêng. Khi các QHXH ngày càng phát triển
đa dạng và phong phú thì bên cạnh việc sử dụng các chuẩn mực đạo đức để
điều chỉnh xã hội, các triều đại phong kiến đã từng bước để ý đến việc xây
dựng pháp luật nhằm thể chế hóa những chuẩn mực đạo đức làm công cụ để
điều chỉnh QHXH mang tính công quyền. Trong các triều đại phong kiến Việt
Nam, chúng ta đặc biệt ghi nhận vai trò của triều Lê (Tiền Lê) với đại biểu Lê
Thánh Tông (1442-1497) – Người đã kết hợp nhuần nhuyễn đạo đức với pháp
luật trong thuật trị nước của mình.
Bước sang thời kỳ Pháp thuộc, sự tàn bạo và hà khắc của pháp luật đô
hộ lại càng làm nhân dân có chung tâm lý xa luật, sợ luật bởi sự bóc lột và
2
của toàn bộ quốc gia. Đạo đức và các quy tắc xã hội khác sẽ bổ sung và lấp
vào các khoảng trống trong các QHXH mà pháp luật chưa vươn tới được. Ở
mối quan hệ này ta thấy, trong pháp luật phải có đạo đức, thiếu đạo đức, pháp
luật xơ cứng và khó có thể thực hiện trong đời sống thực tế bằng sự tự giác,
bằng niềm tin, khó có thể đạt tới chuẩn mực của "văn hóa pháp lý". Trong đạo
đức cũng phải có pháp luật, thiếu pháp luật đạo đức mất sự định hướng để
phát triển các giá trị bên trong của mình, mất đi sự bảo hộ cho các chuẩn mực
đạo đức tồn tại và phát triển lâu bền.
Những năm gần đây, hàng loạt các văn bản pháp luật của nhà nước đã
thể hiện sự pháp luật hóa những giá trị đạo đức thành chuẩn mực pháp luật để
điều chỉnh những quan hệ phát triển không ngừng của đời sống xã hội như
Luật Hôn nhân và gia đình (2000), Luật Lao động (2002), Pháp lệnh cán bộ
công chức (2003), Luật Dân sự (2005)... Bên cạnh đó, sự thừa nhận và
khuyến khích của nhà nước đối với xây dựng hương ước mới, xây dựng bảo
tồn những phong tục tập quán có ý nghĩa trong hình thành và phát triển nhân
cách con người mới lại một lần nữa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của nhà
nước về vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội. Có thể thấy giữa pháp luật
và đạo đức luôn có mối quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau.
Chỉ thị 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về "Đẩy mạnh nghiên cứu tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong
giai đoạn mới" là một bằng chứng hết sức sâu sắc và rõ ràng trong việc Đảng
và Nhà nước nhận định vai trò to lớn của sự kết hợp giữa pháp luật với đạo
đức khi xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
4
Tuy nhiên, việc xây dựng thành một hệ thống chuẩn mực các giá trị
đạo đức mới-đạo đức cách mạng còn là công việc phức tạp và nhạy cảm trong
đời sống chính trị hiện nay. Hiệu quả của sự kết hợp pháp luật và đạo đức trên
từng lĩnh vực của đời sống xã hội cũng là rất khác nhau, nó đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu một cách lâu dài, thống nhất cả về lý luận và thực tiễn để có thể