Bộ kế hoạch và đầu t
Viện khoa học thống kê
Báo cáo tổng kết đề tài cấp cơ sở
Nghiên cứu khả năng tính toán
chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Chủ nhiệm đề tài: ks . đinh thị thúy phơng
4.1. Tính chỉ tiêu GDP xanh của Nhật Bản 26
4.2. Tính chỉ tiêu GDP xanh của Trung Quốc 32
Phần 3. đề xuất khả năng tính chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam.
40
1. Thực trạng số liệu thống kê phục vụ tính chỉ tiêu GDP xanh 40
2. Những yêu cầu đặt ra đối với tính chỉ tiêu GDP xanh 41
3. Điều kiện và khả năng đảm bảo tính khả thi để tính chỉ tiêu GDP xanh 42
3.1. Phơng pháp luận tính chỉ tiêu GDP xanh 42
3.2. Đòi hỏi khách quan tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam trong tơng lai 42
3.3. Điều kiện và khả năng tính chi phí chi tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi
trờng do các hoạt động kinh tê gây ra.
43
3.4. Nâng cao năng lực trình độ cán bộ thực hiện tính GDP xanh 46
3.5. Đầu t tài chính và thời gian để tiến hành tính chỉ tiêu GDP xanh 46
4. Khả năng tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam 46
4.1. Xác định nguồn thông tin và tổ chức thu thập thông tin chủ yếu phục vụ tính chi
phí chi tiêu dùng tài nguyên
48
4.2. Xác định nguồn thông tin và tổ chức thu thập thông tin chủ yếu phục vụ tính mất
mát, thiệt hại về môi trờng do các hoạt động kinh tế gây ra.
49
5. Thử nghiệm xác định các nguồn thông tin để tính chi phí khắc phục hậu quả
môi trờng xấu đi do sản xuất Công nghiệp gây ra.
51
5.1. Các nguồn thông tin để tính VA ban đầu theo phơng pháp sản xuất. 51
5.2. Tính thử nghiệm giá trị tăng thêm xanh của ngành công nghiệp: 56
Kết luận và kiến nghị 59
Danh mục chuyên đề 61
Danh mục tài liệu tham khảo 62
Phụ lục
cập đến, do vậy đây là lý do tác giả lựa chọn đề tài Nghiên cứu khả năng tính toán
chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam để nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Đề xuất phơng pháp tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam và các điều kiện để
triển khai ứng dụng trong thực tế, trên cơ sở vận dụng cách tính của Thống kê Liên
hợp Quốc và tham khảo kinh nghiệm tính chỉ tiêu GDP xanh ở một số nớc.
2
Nội dung nghiên cứu.
- Thực trạng tính chỉ tiêu GDP hiện nay ở Việt Nam;
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và phơng pháp luận tính chỉ tiêu GDP xanh;
- Nghiên cứu kinh nghiệm tính chỉ tiêu GDP xanh Nhật Bản và Trung Quốc;
- Nghiên cứu và đề xuất một số điều kiện chủ yếu phục vụ tính chỉ tiêu GDP
xanh ở Việt Nam;
- Nghiên cứu nguồn thông tin và tính thử nghiệm chỉ tiêu giá trị tăng thêm (VA)
xanh trong ngành Công nghiệp ở Việt Nam.
Sau một năm nghiên cứu với sự phối hợp và giúp đỡ của một số Anh (Chị) Vụ
Hệ thống Tài khoản Quốc gia, Vụ Thống kê Công nghiệp và xây dựng và một số cán
bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Thống kê, đề tài đã hoàn thành năm báo cáo
chuyên đề khoa học
1
. Dựa vào kết quả nghiên cứu của các chuyên đề khoa học, Ban
chủ nhiệm đề tài đã tổng hợp và hệ thống hoá lại thành báo cáo tổng hợp và báo cáo
tóm tắt kết quả nghiên cứu. Bám sát mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề tài đa ra,
ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, kết cấu đề
tài gồm 3 phần:
Phần I. Thực tế áp dụng chỉ tiêu GDP và sự cần thiết tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt
Nam
Phần II. Những vấn đề lý luận chung về phơng pháp tính chỉ tiêu GDP xanh và kinh
Theo SNA, GDP là giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng đợc tạo ra của nền
kinh tế, trong một khoảng thời gian nhất định thờng là một năm. Thuật ngữ hàng
hoá cuối cùng đợc hiểu theo nghĩa rộng đó là không tính giá trị hàng hoá và dịch
vụ sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm.
1.2. Phơng pháp tính chỉ tiêu GDP.
Theo SNA 1993, có 3 cách tính GDP, gồm: phơng pháp sản xuất, phơng
pháp thu nhập và phơng pháp sử dụng.
- Phơng pháp sản xuất: GDP bằng (=) tổng giá trị tăng thêm (VA) của các
ngành kinh tế cộng (+) với thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
- Phơng pháp thu nhập: GDP bằng (=) tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố
tham gia vào quá trình sản xuất, gồm 4 yếu tố: Thu nhập của ngời lao động từ sản
xuất (bằng tiền và bằng hiện vật); khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất; thuế
sản xuất và thặng d sản xuất.
- Phơng pháp tiêu dùng: GDP bằng (=) tổng chi tiêu dùng cuối cùng (của
Chính Phủ và của dân c); tích luỹ tài sản (cố định, lu động và quý hiếm) và chênh
lệch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
4
Trong thực tế ở Việt Nam hiện nay, với 3 phơng pháp trên, tính GDP theo
phơng pháp sản xuất đợc áp dụng là chủ yếu. Các phơng pháp còn lại thờng
dùng để tham khảo, hoặc nếu có tính toán cũng chỉ mang tính chất bổ sung.
1.3. Đặc điểm và thực tế áp dụng chỉ tiêu GDP ở Việt Nam.
- Xuất phát từ phơng pháp tính chỉ tiêu GDP hiện nay ở Việt Nam là theo
phơng pháp sản xuất, ngoài phần thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, GDP sẽ
phụ thuộc vào kết quả VA trong phạm vi từng ngành kinh tế.
- Trong thực tế sự thay đổi VA của các ngành kinh tế sẽ không phụ thuộc vào
việc thay đổi tổ chức sản xuất, và thay đổi t liệu sản xuất nhng nó sẽ phụ thuộc
vào sự thay đổi chi phí trung gian. Với phơng châm khuyến khích thực hiện tiết kiệm
chi phí trung gian trong quá trình sản xuất sẽ dẫn đến tăng VA và VA sẽ phản ánh
hiệu quả hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế.
nguyên tắc Ngời gây ô nhiễm phải trả tiền. Những thiệt hại không tính đợc về tài
nguyên và môi trờng này không những gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế hiện
tại mà gây ra gánh nặng cho những thế hệ tơng lai.
Để đánh giá sự phát triển kinh tế của đất nớc, bên cạnh chỉ tiêu GDP nên bổ
sung thêm chỉ tiêu GDP xanh, chỉ tiêu GDP xanh không những phản ánh sự phát
triển kinh tế mà còn cho biết sự phát triển kinh tế có bền vững hay không ? Đây là
vấn đề đợc nhiều nớc trên thế giới quan tâm và tính chỉ tiêu GDP xanh là cần thiết.
2. Sự cần thiết tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam.
Theo các nhà kinh tế môi trờng và nhiều tổ chức quốc tế
2
, SNA với hệ thống
các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nh GDP, GNI; v.v và các tài khoản và các bảng cân
đối đang đợc sử dụng rộng rãi ở các nớc trên thế giới cha phản ánh đầy đủ
những chi phí xã hội của các hoạt động kinh tế. Cụ thể là SNA cha thể hiện đầy đủ
những chi phí liên quan tới bảo vệ môi trờng cũng nh cha phản ánh hết đợc sự
xuống cấp, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên do các hoạt động kinh tế, sinh
2
Ví dụ nh: Salah Serafy và Ernst Lutz, 1989; Cooray N.S, 2001; Bartelmus P. và Tongeren J., 1994; IUCN,
1989; UNEP, 2000.
6
hoạt của con ngời gây ra. Ví dụ nh các tài khoản của SNA truyền thống không thể
hiện riêng biệt các khoản chi để bảo vệ môi trờng hoặc giảm bớt sự xuống cấp của
môi trờng; môi trờng cung cấp cho con ngời nhiều loại sản phẩm, trong đó có
nhiều loại sản phẩm tuy có giá trị nhng không đợc trao đổi, mua bán trên thị
trờng nên giá trị của chúng không đợc biểu thị trong giá sản phẩm đợc đem bán
trên thị trờng
1
Bài 13: Môi trờng và phát triển; Munir Mahmud Webside kinhtehoc.com.
7
Do vậy chỉ tiêu GDP xanh đợc sử dụng nh một chỉ tiêu để đánh giá sự phát
triển bền vững, do đã tính đầy đủ các chi phí về vốn sản xuất, vốn con ngời và vốn
môi trờng.
Việt Nam đã từng bớc hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc tham gia vào
các tổ chức trong khu vực và quốc tế thông qua ký kết các cam kết với những tổ chức
trong khu vực và quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình cải cách
và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội sao cho phù hợp với thông lệ và chuẩn
mực quốc tế, trong đó có các chuẩn mực về hạch toán kinh tế và hạch toán môi
trờng. Đồng thời, quá trình hội nhập cũng đòi hỏi các thông tin về môi trờng cần
đợc phát triển mạnh và đợc truyền tải hơn nữa tới mọi đối tợng có liên quan, nh
các nhà sản xuất kinh doanh, các cơ quan quản lý kinh tế, v.v Điều này cũng có
nghĩa là chi phí cho những hoạt động liên quan tới bảo vệ môi trờng sẽ ngày một
tăng lên, gây sức ép buộc cho việc phải áp dụng hạch toán môi trờng. Việt Nam đã
hình thành hệ thống SNA tơng đối phù hợp với thông lệ quốc tế, tuy nhiên hệ thống
hạch toán môi trờng vẫn cha đợc thực hiện. Đây cũng là một thách thức mà Việt
Nam phải vợt qua cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhng cũng là một cơ
hội để thúc đẩy sớm áp dụng hạch toán môi trờng và gắn kết hạch toán môi trờng
trong hệ thống tài khoản quốc gia ở Việt Nam.
Trong thời gian qua nền kinh tế Việt Nam cùng với sự tăng trởng cao và
tơng đối ổn định thì vấn đề ô nhiễm môi trờng đang đợc đặt ra nh một thách
thức lớn trong chiến lợc phát triển bền vững. Xét về cơ cấu và tốc độ tăng trởng
của một số ngành kinh tế trong những năm gần đây cho thấy, các ngành công
nghiệp gây ô nhiễm và các ngành sử dụng tài nguyên thiên nhiên luôn giữ vị trí quan
trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của cả nớc và đóng góp đáng kể vào tốc độ
tăng trởng chung của nền kinh tế
1
. Mặt khác tốc độ tăng trởng của các ngành
thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh .v.v
Trớc thực trạng này, các chuyên gia kinh tế và môi trờng ở Việt Nam đã lên
tiếng và cho rằng cần phải tính toán các chi phí phục hồi môi tr
ờng vào GDP thì mới
phản ánh đúng đợc thực trạng phát triển của nền kinh tế. Nói cách khác, phát triển
kinh tế phải tính đến bảo vệ môi trờng mới là phát triển bền vững.
9
Phần II. Những vấn đề lý luận chung về
phơng pháp tính chỉ tiêu GDP xanh 1. Khái niệm GDP xanh.
GDP xanh là phần còn lại của GDP thuần sau khi đã khấu trừ chi phí về tiêu
dùng tài nguyên và mất mát về môi trờng do các hoạt động kinh tế. Cụ thể là:
GDP xanh = GDP
thuần
-
Chi phí tiêu dùng tài nguyên và
mất mát về môi trờng do các
hoạt động kinh tế
đã đợc điều chỉnh và hoàn thiện dần
2
. Trên thực tế, hệ thống này đã đề xuất những
phơng pháp có thể áp dụng để gắn kết môi trờng với kinh tế trong một khuôn khổ
thống kê thống nhất, nhng còn đang trong thời kỳ đợc các nớc áp dụng với mục
tiêu thử nghiệm. Lý do dẫn đến thực trạng này là tuy các nhà kinh tế và môi trờng
đều đã đi đến thống nhất về quan điểm cũng nh về cách tiếp cận đối với nội dung
của SEEA, song vẫn còn những điểm cha thống nhất về phơng pháp tính toán các
chỉ tiêu và các tài khoản tính toán liên quan đến môi trờng vì còn nhiều khó khăn
trong việc thu thập số liệu và áp dụng tính toán.
2. Phơng pháp tính chỉ tiêu GDP xanh.
Việc tính toán chỉ tiêu GDP xanh hay nói cụ thể hơn là hạch toán môi trờng
trong tài khoản quốc gia, đây chính là bớc hoàn thiện tài khoản quốc gia của Liên
Hợp Quốc, do vậy phơng pháp tính chỉ tiêu GDP xanh đợc xem xét trên cơ sở của
phơng pháp tính chỉ tiêu GDP trong hệ thống tài khoản quốc gia. Theo thống kê
Liên hợp quốc, tính chỉ tiêu GDP xanh có thể xuất phát từ bảng I/O hoặc theo cách
hạch toán môi trờng (trong bảng SEEA).
2.1. Phơng pháp tính GDP trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia.
Hệ thống tài khoản quốc gia đợc trình bày dới dạng những bảng cân đối
hoặc những tài khoản nhằm phản ánh điều kiện sản xuất, kết quả sản xuất tổng hợp,
quá trình sử dụng kết quả sản xuất đó cho các nhu cầu nh tiêu dùng cho sản xuất,
1
Tên đầy đủ tiếng Anh: System of integrated Enviromental and Economic Accounting
2
Cuốn sách hớng dẫn Gắn kết hạch toán môi trờng và hạch toán kinh tế do Liên Hợp Quốc xuất
bản năm 1993 đã đợc chỉnh sửa và hoàn thiện vào năm 1994; 1998; 2000 và 2003.
i
: Giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ ngành i sản xuất ra;
II
i
: Chi phí trung gian của ngành i;
CC
i
: Tiêu dùng tài sản cố định của ngành i;
* Đẳng thức về sản phẩm trong nớc, đợc thể hiện nh sau:
GDP = C + CF + (X - M)
Trong đó: GDP : Tổng sản phẩm trong nớc;
C : Tiêu dùng cuối cùng; 1
Nguồn: Bartelmus P. and Tongeren J., Enviromental Accounting: An Operational Perspective,
1994, trang.4
12
CF : Tổng tích luỹ tài sản;
M : Nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ;
X : Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.
2.2. Phơng pháp tính GDP xanh trong SEEA
1
.
Mô hình SEEA mở rộng và bổ sung các tài khoản nguồn lực tự nhiên theo
luồng và khối với đơn vị tính là giá trị và các tài khoản sản xuất và tài sản. Bằng việc
tính các chi phí do suy giảm (cả về mặt trữ lợng và giá trị) các nguồn tự nhiên không
sản xuất đợc do các hoạt động kinh tế gây ra, SEEA cho phép tính đợc tổng sản
phẩm quốc nội thuần (GNP) đợc điều chỉnh có yếu tố môi trờng (Enviromental
CF: Tổng tích luỹ tài sản; EC
t
: Giá trị tổn thất và xuống cấp tài nguyên
môi trờng
X : Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.
* Đẳng thức về giá trị gia tăng (có tính đến yếu tố môi trờng) đối với một
ngành kinh tế, đợc thể hiện nh sau:
EVA
i
= O
i
- II
i
- CC
i
- EC
i
= NVA
i
- EC
i
Trong đó: EVA
i
: Giá trị gia tăng thuần có yếu tố môi trờng của ngành i;
O
i
: Giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ ngành i sản xuất ra;
II
i
trờng;
CF : Tích luỹ tài sản;
14
CC : Tiêu dùng tài sản (Khấu hao tài sản).
Trong SEEA, các tài khoản liên quan tới môi trờng đợc gắn kết với tài khoản
kinh tế nh trình bày trong 3 đẳng thức trên. Theo đó đã có hai khoản đợc bổ sung
vào SNA truyền thống dới dạng hiện vật và giá trị, đó là:
Thứ nhất, đó là sự tiêu hao tài sản môi trờng do hoạt động kinh tế gây ra, thể
hiện ở tiêu dùng vốn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm các loại tài nguyên nh nớc,
đất, rừng, v.v Đây là những loại tài sản thờng không đợc thể hiện trong tài sản
kinh tế của SNA;
Thứ hai, đó là những chi phí môi trờng mà các ngành kinh tế và hộ gia đình
đã chi trả cho việc sử dụng các tài sản môi trờng trong quá trình sản xuất, làm cho
các tài sản đó cạn kiệt, xuống cấp. Những khoản chi phí này thể hiện ở chi phí môi
trờng của ngành kinh tế (EC
i
) và chi phí môi trờng của hộ gia đình (EC
h
). Trên
cơ sở hai khoản mục đó, một số chỉ tiêu kinh tế đợc điều chỉnh lại nh: tổng tích luỹ
tài sản (CF) đợc chuyển thành Tổng tích luỹ tài sản có gắn với môi trờng (ECF);
Giá trị gia tăng thuần (NVA) đợc chuyển thành Giá trị gia tăng thuần có tính tới
môi trờng (EVA); và Tổng sản phẩm trong nớc thuần (GDP) chuyển thành Tổng
sản phẩm trong nớc thuần có tính tới môi trờng (GDP xanh).
Xuất phát từ phơng pháp hạch toán GDP xanh trong SEEA, phơng pháp
tính chỉ tiêu GDP xanh đợc thực hiện theo ba phơng pháp:
Phơng pháp sản xuất: GDP xanh bằng (=) Tổng giá trị gia tăng thuần có tính
đến yếu tố môi trờng của các ngành kinh tế trừ (-) chi phí xử lý ô nhiễm môi trờng
do tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình gây ra.
những chủ thể đã gây ra tác động tới môi trờng có thể thấy đợc mức độ chi phí mà
họ phải bỏ ra để bù đắp tổn hại cho môi trờng nh thế nào ? Chính vì vậy, các chi
phí này dờng nh không tác động tới hành vi thân thiện với môi trờng của các nhà
sản xuất cũng nh của những nhà hoạch định chính sách (vì đã bị ẩn lẫn với các
khoản mục chi khác).
Thứ hai, môi trờng cung cấp cho con ngời nhiều loại sản phẩm, trong đó có
nhiều loại sản phẩm tuy có giá trị, nhng lại không đợc trao đổi mua bán trên thị
trờng hoặc chỉ đợc mua với giá thấp (ví dụ nh nguồn tài nguyên nớc, v.v ), do
vậy nhiều trờng hợp, giá trị của những loại sản phẩm đó không đợc biểu thị trong
giá sản phầm (do bị bỏ qua) hoặc không thể tách riêng biệt từ giá của sản phẩm
đợc đem bán trên thị trờng. 1
Nguyên nhân sâu xa là do tài nguyên rừng bị con ngời tàn phá.
2
Vấn đề hạch toán môi trờng trong tài khoản quốc gia, Tr 30.
16
Thứ ba, trong thực tế môi trờng cung cấp nhiều loại dịch vụ cho đời sống con
ngời (nh rừng có tác dụng bảo vệ lu vực sông, điều hoà khí hậu; hệ sinh thái có
tác dụng lọc chất ô nhiễm trong nớc và không khí, v.v ). Tuy nhiên những loại dịch
vụ này không đợc tính trong SNA, mà cụ thể là giá trị sản phẩm dịch vụ phục vụ
cho tiêu dùng cuối cùng của dân c. Một trong những lý do của sự bỏ qua này là
trong nhiều trờng hợp, ngời ta không thể định giá các sản phẩm và dịch vụ của
môi trờng bằng giá thị trờng.
Thứ t, GDP trong SNA tính cả phần khấu hao tài sản cố định (máy móc, thiết
bị) vào tài khoản khấu hao. Trong khi đó, phần trữ lợng tài nguyên bị mất đi do bị
khai thác và do đợc sử dụng trong quá trình sản xuất lại đợc tính vào tài khoản thu
nguồn tài nguyên đã đợc ghi trong mục sự thay đổi về lợng khác trong tài khoản
tài sản của SNA. Sự thay đổi này bao gồm: khấu hao tài nguyên; sự cạn kiệt nguồn
tài nguyên do khai thác và sự xuống cấp chất lợng tài nguyên do ô nhiễm môi
trờng gây ra (đợc tính bằng giá thị trờng của trữ lợng tài nguyên đó). Trong
SEEA, giá thị trờng của khấu hao tài nguyên, sự cạn kiệt và sự xuống cấp chất
lợng tài nguyên đợc chuyển từ tài khoản mục sự thay đổi về lợng khác trong tài
khoản Tài sản sang tài khoản Sản xuất.
Trên thực tế, có thể sử dụng giá thị trờng để xác định giá trị của nguồn tài
nguyên. Trong trờng hợp nh vậy, có thể áp dụng một số phơng pháp tính sau:
Tính giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV) của trữ lợng tài nguyên:
Bằng cách lấy giá thị trờng của hàng hoá, dịch vụ (dự kiến) mà nguồn tài nguyên có
thể cung cấp, trừ (-) chi phí (dự kiến) phải bỏ ra để khai thác nguồn tài nguyên đó sẽ
đợc phần thu hồi tịnh, rồi từ đó chuyển thành giá hiện tại bằng cách sử dụng tỷ lệ
chiết khấu.
Tuy nhiên khó khăn của việc áp dụng phơng pháp này là khó có thể tính giá
hiện tại của trữ lợng tài nguyên nào đó, nếu nh tài nguyên này do nhiều ngành
kinh tế khác nhau đồng thời cùng khai thác sử dụng. Trong trờng hợp nh vậy đòi
hỏi phải có thông tin về chi phí và khai thác tài nguyên của mỗi ngành kinh tế. Để có
đợc thông tin chi tiết nh vậy là rất phức tạp. Hơn nữa việc áp dụng tỷ lệ chiết khấu
là bao nhiêu để tính NPV của trữ lợng nguồn tài nguyên cũng là một vấn đề đang
còn tranh cãi. Nếu áp dụng các tỷ lệ chiết khấu khác nhau thì sẽ cho kết quả giá trị
hiện hành của các tài nguyên khác nhau.
- Tính giá tịnh (net price) của tài nguyên: Phơng pháp này bỏ qua sự giảm
sút giá trị của tài nguyên do bị xuống cấp theo thời gian. Đơn giá tịnh của một đơn vị
tài nguyên đợc tính bằng giá thị trờng thực tế của nó trừ (-) chi phí khai thác một
đơn vị tài nguyên. Giá trị của nguồn tài nguyên sau đó đợc tính bằng khối lợng của
nguồn tài nguyên nhân (x) với đơn giá một đơn vị tài nguyên.
18
- Xác định tơng đối giá trị xuống cấp, cạn kiệt nguồn tài nguyên, đợc
19
hoạt động kinh tế, sinh hoạt mà không làm xấu đi chất lợng nớc; hay môi trờng tự
nhiên có đủ khả năng hấp thụ lợng chất ô nhiễm thải ra từ hoạt động kinh tế, sinh
hoạt, v.v
Chi phí bảo vệ, phục hồi chất lợng môi trờng cũng đã phần nào đợc tính và
đa vào tổng tích luỹ tài sản (CF) là một bộ phận hợp thành GDP theo phơng
pháp sử dụng cuối cùng trong SNA truyền thống. Tuy nhiên, trong hệ thống SEEA
đã khuyến nghị nên loại ra từ GDP hay tổng VA những chi phí mà các khu vực kinh
tế phải bỏ ra để duy trì và bảo đảm chất lợng môi trờng theo tiêu chuẩn quy định.
2.3.3. Định giá dịch vụ môi trờng theo phơng pháp ngẫu nhiên.
Định giá dịch vụ môi trờng theo phơng pháp ngẫu nhiên liên quan tới việc
đa ra các tình huống giả định để hỏi một nhóm đối tợng có liên quan xem họ sẵn
sàng chi trả bao nhiêu tiền để đợc hởng thụ một loại dịch vụ môi trờng nào đó.
Trong một số trờng hợp khác, các đối tợng có liên quan đợc hỏi xem họ sẵn sàng
chi trả bao nhiêu tiền bồi thờng để chấp nhận không hởng thụ dịch vụ môi trờng.
Phơng pháp này đợc thực hiện dới dạng các cuộc phỏng vấn trực tiếp các đối
tợng có liên quan hay trả lời của họ qua các phiếu hỏi.
Trong SEEA, định giá theo phơng pháp ngẫu nhiên thờng đợc áp dụng khi
phải xác định giá trị của các dịch vụ môi trờng hay mức độ thiệt hại, tổn thất đối với
môi trờng. Chẳng hạn, để tính mức độ tổn hại của sự cố môi trờng nào đó, ngời ta
sử dụng ph
ơng pháp ngẫu nhiên để xác định không chỉ những tổn thất về kinh tế
mà cả những tổn thất về sức khoẻ của những ngời đợc hỏi. Trong trờng hợp này
câu hỏi sẽ đặt ra là Bạn chấp nhận bao nhiêu tiền để bù đắp những tổn hại về vật
chất và sức khoẻ do sự cố môi trờng gây ra?, tiếp đó sẽ đa ra một số mức kinh
phí và hình thức thanh toán đợc đa ra để ngời đợc hỏi lựa chọn sao cho phù hợp
với sự đánh giá của cá nhân đợc phỏng vấn.
Nhìn chung phơng pháp ngẫu nhiên rất khó đo đợc một cách chính xác giá
trị thực của dịch vụ môi trờng cũng nh về mức độ tổn hại (theo giá trị) đối với môi
trờng. Đặc biệt, rất khó có thể đảm bảo độ chính xác của phơng pháp khi đợc sử
(Gross output)
Các ngành
sản phẩm
Tiêu dùng trung gian (Intermediate
consumption - IC); Ô1
Y
Ô2
X
Giá trị tăng
thêm
VA; Ô3
Tổng đầu vào hoặc tổng chi phí
(Gross input - GI); X 21
- Ô1. Tiêu dùng trung gian: Thể hiện chi phí trung gian của các ngành, bao
gồm các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất và các ngành sản xuất ra sản phẩm
dịch vụ; phần tử a
ij
của ma trận A thể hiện ở Ô1 phản ánh ngành j sử dụng sản phẩm
i làm chi phí trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm j.
- Ô2. Sử dụng cuối cùng: Thể hiện những sản phẩm vật chất và sản phẩm
dịch vụ đợc sử dụng cho nhu cầu cuối cùng, bao gồm đợc sử dụng cho: tiêu dùng
cuối cùng, tích luỹ tài sản, xuất khẩu và nhập khẩu.
- Ô3. Tổng giá trị tăng thêm: Bao gồm các khoản thu nhập của ngời lao
động; thuế sản xuất; thặng d sản xuất và khấu hao tài sản cố định.
1
: là véc tơ giá trị sản xuất cấp (n x 1) của các hoạt động kinh tế, (đo
lờng bằng đơn vị tiền tệ).
Y
1
: là véc tơ sử dụng sản phẩm cuối cùng cấp (n x 1) từ các hoạt động kinh
tế, (đo lờng bằng đơn vị tiền tệ).
X
g
: là véc tơ giá trị sản xuất cấp (m x 1) của các hoạt động chống lại chất
thải gây ô nhiễm môi trờng do các ngành kinh tế tạo ra, (đo lờng bằng đơn vị vật
chất).
g
1
: là ma trận hệ số các chất thải gây ô nhiễm môi trờng trực tiếp từ các
hoạt động kinh tế, ma trận cấp (m x n), với m là số loại chất thải gây ô nhiễm môi
trờng và n là số ngành sản phẩm đợc nghiên cứu trong mô hình, phần tử của ma
trận phản ánh khối lợng chất thải (đơn vị tính là vật chất) trên 1 đơn vị sản phẩm
(đơn vị tính là tiền tệ) đợc tạo ra trong quá trình sản xuất ra sản phẩm đó;
g
2
: là ma trận hệ số các chất thải gây ô nhiễm môi trờng trực tiếp từ các
hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trờng, ma trận cấp (m x n), m là số
loại chất thải gây ô nhiễm môi trờng, phần tử của ma trận phản ánh khối lợng chất
thải gây ô nhiễm môi trờng (đơn vị tính vật chất) trên 1 đơn vị khối lợng chất thải
gây ô nhiễm môi trờng đợc xử lý (đơn vị tính là vật chất) đợc tạo ra trong từ các
hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm;
g
3
: là ma trận hệ số các chất thải trực tiếp gây ô nhiễm môi trờng từ tiêu