1
Nghiên cứu chế tạo phụ gia tăng cường khả năng cháy cho một số
loại than ở Việt Nam
ĐỊA ĐIỂM THỰC TẬP: VIỆN HÓA HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRUNG TÂM PHỤ GIA DẦU MỎ
THỜI GIAN: Từ 09/06/2014 đến 20/07/2014
Sinh viên: LÊ VĂN BẮC
Lớp: LHDA-K54 TH
Mã số sinh viên:0964040037
Giáo viên hướng dẫn:Th.S Hồ Văn Sơn
Cán bộ hướng dẫn : Th.S Phạm Thúy Nga
ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT- HÀ NỘI
BỘ MÔN LỌC-HÓA DẦU
I
• TỔNG QUAN
II
• THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH CÁC HÀM LƯỢNG, ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG CHÁY CUA THAN
III
•
KẾT LUẬN
NHU CẦU SỬ DỤNG NHIÊN LIỆU THAN Ở VIỆT NAM
ĐẶC TÍNH NHIÊN LIỆU THAN
THÀNH PHẦN CÔNG NGHỆ CỦA THAN
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
MỘT SỐ PHỤ GIA TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG CHÁY
I.1 Nhu cầu sử dụng than tại Việt Nam:
Nhu cầu về năng lượng- nhiên liệu đang tăng nhanh trên
toàn thế giới, trong khi nguồn dầu mỏ hạn chế và yêu cầu
giảm khí độc hại vào môi trường ngày càng nghiêm ngặt.
Lối thoát cho vấn đề nhạy cảm này là tìm nguồn năng
Lưu huỳnh hữu cơ và khoảng chất có thể tham gia quá trình cháy gọi là
lưu huỳnh cháy Sc. Còn lưu huỳnh sunfat nằm dưới dạng CaSO
4
, MgSO
4
,
FeSO
4
những liên kết này không tham gia quá trình cháy mà chuyển thành
tro của nhiên liệu
Tro, xỉ(A): Là thành phần còn lại sau khi nhiên liệu được cháy kiệt
Độ ẩm(M): Là thành phần nước có trong nhiên liệu thường được bốc hơi
vào giai đoạn đầu của quá trình cháy
Lưu huỳnh nằm trong nhiên liệu rắn ít hơn trong nhiên liệu lỏng. Nhiệt
trị của lưu huỳnh bằng khoảng 1/3 nhiệt trị của Cacbon. Khi cháy sẽ tạo
ra khí SO
2
hoặc SO
3
. Lúc gặp hơi nước SO
3
dễ hòa tan tạo ra axit H
2
SO
4
gây ăn mòn kim loại. Khí SO
2
thải ra ngoài là khí độc nguy hiểm. Vì vậy
lưu huỳnh là nguyên tố có hại của nguyên liệu
Oxi và Nito: Là những chất trơ trong nhiên liệu rắn và lỏng. Sự có mặt
cháy là độ nóng chảy của tro. Độ tro của nhiên liệu được xem bằng cách
đun nẫu nhiên liệu đốt đến 800-850
O
C đối với nhiên liệu rắn, 500
o
C đối
với nhiên liệu lỏng, cho đến khi trọng lượng còn lại ko thay đổi. Phần
trọng lượng ko thay đổi đó tính bằng phần trăm gọi là độ tro của nhiên
liệu. Độ tro của madut vào khoảng 0,2-0,3% của gỗ vào khoảng 0,5-1%
của than antraxit có thể lên tới 15-30% hoặc cao hơn nữa.
Một trong những đặc tính quan trọng làm ảnh hưởng đến điều kiện làm
việc trong lò hơi là độ nóng chay của tro
Chất bốc của than “V”
Khi đem đốt nóng nhiên liệu trong điều kiện môi trường không có lõi thì
mối liên kết các phân tử hữu cơ bị phân hủy. Quá trình đó được gọi là
quá trình phân hủy nhiệt. Sản phẩm của phân hủy nhiệt là những chất
khí gọi là “Chất Bốc” và kí hiệu là VC%, bao gồm những khí hidro,
cacbuahidro, cacbonoxit, cacbonic.
Những liên kết có nhiều oxy là những liên kết ít bền vững dễ bị phá vỡ
ở nhiệt độ cao, vì vậy than càng non tuổi bao nhiêu thì chất bốc càng
nhiều bấy nhiêu, than bùn( V=70%), than đá( V=10-45%), than
antraxit( V=2-9%)
Nhiệt độ bắt đầu sinh ra chất bốc phụ thuộc vào tuổi hình thành của
than,than càng non tuổi thì nhiệt độ bắt đầu sinh chất bốc càng thấp,
lượng chất bốc sinh ra còn phụ thuộc vào thời gian xám, than ít thiêu
kết có mau ánh kim loại
Độ cứng của than phụ thuộc vào độ xốp của cốc, than càng xốp thì
độ bền càng dễ nghiền
Nhiệt trị của than:
Nhiêt trị của than là lượng nhiệt phát ra khi cháy hoàn toàn 1 kg
lượng chất bốc
Cách tiến hành: Điều chỉnh nhiệt độ của lò nung đến 900±5
0
C
Đặt vào lò nung một chén không chứa mẫu và nắp. Duy trì nhiệt độ
lò tại 900±5
0
C trong 7 phút. Lấy các chén nung ra và đề nguội đến
nhiệt độ phòng rồi cân.
Sau đó cân 1±0,1 g mẫu thử chính xác đến 0,1 mg. Bỏ nắp và gõ
nhẹ chén lên bề mặt cứng, sạch cho đến khi mẫu thử tạo một lớp dày
đều trên đáy chén.
Chuyển chén vào lò, đóng cửa lò và để trong 7 phút ± 5 giây.
Lấy chén ra và để nguội đến nhiệt độ phòng rồi cân chính xác đến 0,1
mg
Tính toán:
Trong đó: m1 là khối lượng của chén không chứa mẫu và nắp, g
m2: khối lượng của chén và nắp và phần mẫu thử trước khi
nung, g
m3: khối lượng của chén và nắp và phần mẫu thử sau khi
nung, g
M: hàm lượng ẩm trong mẫu phân tích, được xác định theo
TCVN 4919 (ISO 1170) hoặc ISO 11722:99
Kết quả là giá trị trung bình của hai lần xác định, chính xác đến 0,1%
khối lượng
II.3.2 Xác định hàm ẩm
Xác định độ ẩm trong mẫu phân tích chung là cần thiết để hiệu
chỉnh các kết quả của một phép xác định cụ thể, ví dụ chất bay hơi
và nước, đối với các ảnh hưởng của nước trong phép xác định và
cho phép các phép xác định được hiệu chỉnh về trạng thái khô.
2
đối với với
cốc.
3.4 Tấm cách ly bằng silic: dầy 6 mm có kích thước sao cho dễ dàng
đưa vào lò múp (4.2).
4. Chuẩn bị mẫu
Than hoặc cốc dùng để xác định hàm lượng tro là mẫu phân tích đã
nghiền qua rây có lỗ 200m. Nếu cần, mẫu nên phơi thành lớp mỏng
trong thời gian vừa đủ để hàm lượng ẩm đạt gần cân bằng với môi
trường phòng thí nghiệm.
Trước khi bắt đầu thử, trộn mẫu phân tích cẩn thận trong thời gian
không ít hơn một phút, tốt nhất là bằng cơ giới.
5. Tiến hành thử
Cân chính xác đến 0,1mg khay khô, sạch và nắp (4.3) (xem chú
thích) trải đều 1 đến 2 gam mẫu (theo điều 5) lên khay và cân lại.
Chú thích - Nếu dùng khay silic thì trước khi xác định khối lượng
ban đầu cần nung nóng đến 815
0
C ± 10
0
C, giữ ở nhiệt độ này trong
15 phút rồi làm nguội theo điều kiện qui định đối với lần thử cụ thể.
II.3.4 Xác định hàm lượng Lưu Huỳnh
II.3.5 Xác định nhiệt trị
Qua quá trình thực tập ở viện hoá em đã tìm
hiểu được kiến thức và máy móc trang thiết
bị ở trung tâm.
Em vẫn đang đi tính toán và nghiên cứu để
đưa ra phương pháp tối ưu nhất
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và