LỊCH SỬ HÓA HỌC
& NHỮNG KIẾN THỨC TỔNG HỢP
2
Lời nói đầu
Mục đích yêu cầu của sách Lịch sử Hóa học là nghiên cứu và
trình bài quá trình tích lũy các kiến thức hóa học trong lịch sử
tiến lên của loài người. Nói cụ thể hơn đó là nghiên cứu và
trình bài sự tiến hóa các tư tưởng hóa học, các thành công lớn
trong công nghiệp hóa học.
Đối với sinh viên học môn hóa học, sau khi nghiên cứu sách
Lịch sử Hóa học, họ sẽ nhận thấy các kiến thức hóa học của
mình được bổ sung và hệ thống hóa sâu sắc về bề rộng, bề
sâu rõ rang và lí thú hơn, về nhiều phát minh hóa học, sẽ rút
ra được nhiều kinh nghiệm thành công và thất bại cho cách suy nghĩ, cách làm việc của mình
trong nghiên cứu khoa học nói chung, trong nghiên cứu hóa học nói riêng. Sách Lịch sử Hóa
học có một ý nghĩ không nhỏ về giáo dục tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, ví dụ như khi xem
xét sự phát triển các sự kiện của hóa học trong mối quan hệ với xã hội, với các ngành khoa
học khác.
Sách Lịch sử Hóa học còn nêu lên gương những nhà hóa học tên tuổi, những gương lao
động nghiêm túc bậc thầy trong nghiên cứu hóa học, giúp có được những hiểu biết rộng rãi
để đánh giá đúng nhiều vấn đề, nhiều nhân vật, và biết được cần phải có sự kế thừa liên tục
trong nghiên cứu khoa học từ thế hệ này đến thế hệ khác thì ngành hóa học mới có thể hình
thành.
Ngoài ra sách Lịch sử Hóa học còn giúp cho giáo viên đại học cũng như trung học có đủ tư
liệu để tổ chức những buổi nói chuyện ngoại khóa gây cho học sinh nhiều hứng thú khi học
hóa học.
Công việc soạn sách Lịch sử Hóa học có những khó khăn nhất định do những đặc điểm của
nó. Hóa học nằm trong số các khoa học tự nhiên trẻ nhất, trẻ hơn nhiều so với thiên văn học,
3
toán học, vật lí… Trong khi các khoa học kia do nhiều mục đích yêu cầu được xác định sớm,
phát triển theo phương hướng khá ổn định và thuận lợi, thì hóa học không có được cái may
lai”.
Chúng tôi rất biết ơn giáo sư Nguyễn Thạc Cát, đã để công đọc toàn bộ bản thảo, đã góp cho
chúng tôi một số ý kiến lớn quý bào nhằm nâng cao them chất lượng của sách một cách rõ
ràng.
Chúng tôi chân thành cảm ơn các bạn Nguyễn Duy Ái, Trần Ngọc Mai, Trần Văn Nhân, Phan
Tống Sơn.
5
CHƯƠNG I: SỰ PHÂN CHIA CÁC THỜI KÌ LỚN CỦA
LỊCH SỬ HÓA HỌC
Sự phân chia các thời kì lớn của Lịch sử Hóa học không thật
giống nhau giữa các sách, thậm chí có những sách cuối
những năm 70 đầu những năm 80 còn né tránh các vấn đề
này! Chúng tôi thấy cần thiết có sự phân chia này, và đã tìm ra
một sự phân chia tương đối hợp lí như sau:
Tuy ngày nay đã có định nghĩa rõ ràng: Hóa học là môn khoa
học nghiên cứu các chất và sự biến hóa của chúng, nhưng hóa học chỉ được coi là một môn
khoa học chính thức từ khi có mục đích yêu cầu xác định và có đối tượng riêng. Tính chất
độc lập của hóa học chỉ mới thể hiện vào giữa thế kỷ 17 mà thôi. Tuy vậy không thể cho rằng
Lịch sử Hóa học bắt đầu từ thời điểm này. Từ hang thiên niên kỷ trước công nguyên đã có
nhiều “nôi” văn minh trên thế giới. Nhiều di vật cổ tìm thấy chứng minh rằng từ thời thượng
cổ 7000 – 8000 năm trước công nguyên con người đã có những “hiểu biết hóa học” nhất
định. Chẳng hạn như về đồ trang sức bằng vàng, bạc, gốm, thủy tinh thô sơ, sơn màu và
thuốc nhuộm, tên và lưỡi giáo bằng đồng hoặc sắt…, về chất này chất khác và cách chế biến
sử dụng.
Khảo cổ học Việt Nam cũng đã phát hiện được nhiều di vật cổ tương tự như trang sức bằng
vàng, bạc, đồ gốm (gạch, ngói, chum, vại…), mũi tên, lưỡi giáo bằng đồng, sắt. Có trống
đồng Ngọc Lũ của văn hóa Đông Sơn, thời Hùng Vương, đúc đẹp, tinh vi được thế giới đánh
giá cao.
Sự nghiên cứu kĩ cho thấy rằng suốt từ thế kỉ thứ 4 sau công nguyên đến đầu thế kỉ 16 đã có
từ các đền thờ Phơta, Ozirit (Oziris), Jziđô (Jzido)… và được phổ
biến rộng ra dần…
Trong thành phố thì có sự hoạt động hằng ngày thiết thực
phong phú, của một đội ngũ đông đảo thợ các nghề thủ công. Họ lao động cần cù đi đến
sáng tạo ra nhiều sản phẩm gồm đồ mỹ nghệ bằng ngọc quý, vàng, bạc, đồ gốm, đồ thủy
tinh, vải vóc, thuốc nhuộm… Đội ngũ thợ này tập hợp dần dần một vốn kiến thức về kỹ thuật
hóa học thủ công phong phú và có giá trị. Chính họ đã để lại cho ngày nay những di vật quý
giá như: đền đài, lăng mộ, kho báu, dụng cụ lao động, sinh hoạt…
8
Ngoài ra còn có những tư liệu ghi chép trên những tấm đá, tấm đất sét nung, thanh tre non,
giấy lao sậy (papirút Ai Cập). Một papirút có tiếng nhất là papirút Ebe (Eber), còn lưu trữ ở
thư viện Trường Đại học Lepzic (Leipzig) viết khoảng 1600 năm trước công nguyên, phần
chính nói về y học, về thuốc chữa bệnh. Còn có thể kể thêm tác phẩm của một số tác giả thi
sĩ, sư gia, (truyện “Iliat và Ođixê” của Hôme (Homere) về chiến tranh thành Tơroa (Troie)
khoảng 1200 năm trước công nguyên), triết gia (bộ “Bách khoa toàn thư” của Pơlin (Pline)
viết khoảng thế kỉ 1 trước công nguyên),…
Các di vật ở trên được tìm thấy ở những nơi đã có một trình độ văn minh nào đó ở thời cổ
đại, tại khu vực rộng lớn Á – Âu – Bắc Phi, đã xuất hiện dần dần trước sau nhau một ít các
nền văn minh: Trung Quốc (sớm nhất), Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, Hi Lạp, La Mã (muộn
nhất). Từ thời xa xưa người Trung Hoa đã biết sản xuất gồ gốm, một số kim loại, đúc
chuông, tượng, chế thuốc nhuộm (inđigô,…), thuốc chữa bệnh, sản xuất đường, nấu rượu từ
các hạt,… Ấn Độ cũng có những di vật tương tự mới được phát hiện gần đây, có những đồ
gốm, đồ đồng niên đại khoảng 3000 năm trước công nguyên.Khu vực Lưỡng Hà có những
tấm đất sét khắc chữ hình nêm từ 3000 năm trước công nguyên ghi lại cách sản xuất các
kim lại, sắt, đồng, bạc, chì từ quặng, có những tượng múa tôn giáo, từ 4000 năm trước công
nguyên! Ở Việt Nam, nước Văn Lang, thời các vua Hùng, cũng biết sản xuất đồ gốm, nấu
đồng, luyện sắt, đúc chuông, tượng, trống đồng, vũ khí…
Nền văn minh Ai Cập cổ đại được nghiên cứu và hiểu biết nhiều nhất. Trước khi bị Đế quốc
Hi Lạp xâm chiếm, Ai Cập độc lập có các triều đại được xây dựng nên từ 7000 năm trước
công nguyên, là nước có kỹ thuật tiên tiến của thế giới ngày xưa, các nghề thủ công đạt tới
Gần như đồng thời với thuyết các nguyên tố, ra đời thuyết nguyên tử. Một vấn đề to lớn là
xét xem vật chất có cấu tạo như thế nào, có thể chi nhỏ mãi vô cùng không giới hạn, hay có
giới hạn?
Lơxip (Leucipe) ở thế kỉ thứ 5 trước công nguyên là tác giả của thuyết nguyên tử. Ông ch
rằng vật chất có thể chia nhỏ dần đi đến những phần tử không thể chia nhỏ hơn được nữa,
gọi chúng là các nguyên tử. Có các nguyên tử của nước, không khí, đất, lửa.
Đêmôcrit (Democrite (460- 390 trước công nguyên), học trò của Lơxip hoàn thiện lý thuyết
của thầy, được coi là ông tổ thật sự của thuyết nguyên tử. Đêmôcrit xuất phát từ nguyên lý:
“không có gì thì không thể cho cái gì cả”, và lý luận như sau để đi đến thừa nhận sự tồn tại
các nguyên tử: “Nếu bất kì một vật nào có thể chia nhỏ mãi không cùng thì có 2 điều, hoặc
10
không có gì cả hoặc còn lại cái gì đó. Trong trường hợp thứ nhất, vật chất chỉ có một sự tồn
tại ảo tưởng mà thôi; trong trường hợp thứ hai, người ta đặt câu hỏi: còn lại gì vậy? Câu trả
lời logic nhất là có sự tồn tại các nguyên tố thật sự, không chia được, không chỉ được gọi là
các nguyên tử”. Ông quan niệm các nguyên tử của các nguyên tố có kích thước và hình
dạng nhất định, giải thích được sự khác nhau về tính chất của các nguyên tố. Những chất
thực tế ta thấy là những liên kết của các nguyên tử đó, nếu có sự thay đổi liên kết thì có thể
làm chất này biến thành chất khác.
Lơxip và Đêmôcrit là 2 nhà duy vật hoàn toàn, không chấp nhận có sự tham gia một vị thần
thánh nào trong mọi hiện tượng trong vũ trụ.
Platôn (Platon) (429 – 349 trước công nguyên), một triết gia có
tên tuổi lớn, trong sách Timê (Timée) của mình, bác bỏ tính
chất vật chất, bác bỏ thuyết nguyên tử, trình bày thuyết các ý
của mình: một thượng đế đã xây dựng trật tự của thế giới
bằng nguyên tố nước, không khí, đất, lửa đã tạo ra 4 loại sinh
vật ứng với 4 nguyên tố đó là: loại thứ nhất gồm các thần tạo
nên tia lửa, loại thứ hai gồm các động vật có cánh sống trong
không khí, loại thứ ba gồm các động vật sống trong nước, loại
thứ tư gồm các động vật sống trên cạn.
Arixtôt (Aristotle) (384 – 322 trước công nguyên), học trò của
Ptôlêmê (Ptolémée) trị vì Ai Cập từ thế kỉ thứ 3 trước công nguyên với ý đồ chiến lược tán
dương, củng cố và khuếch trương ảnh hưởng chính quyền của mình, tìm cách tập trung ở
Alêcxanđri tất cả các nhà thông thái của Hi Lạp và cho xây dựng một Viện hàn lâm khoa học,
đó là thư viện công cộng đầu tiên trong lịch sử loài người (một thư viện khổng lồ chứa tới
700.000 sách viết bằng tay). Và một Trường Đại học Alêcxanđri cũng trở thành một trung tâm
khoa học lớn nhất thời bấy giờ, thu hút mạnh mẽ nhiều thanh niên các nơi đến học tập.
Những nhà bác học được mời đến chỉ mới làm được công tác bồi dưỡng, nghiên cứu và
giảng dạy nhưng chưa đóng góp được nhiều cho sự tiến bộ của khoa học vì Viện hàn lâm
khoa học Alêcxanđri là một cơ quan cung đình lấy những thuyết duy tâm làm tư tưởng chủ
đạo. Dầu sao, từ Nhà Trường Alêcxanđri này đã xuất hiện một số danh nhân khoa học: Ơclit
(Euclide) về tóan, lý; Acsimet (Archimède) về kỹ thuật, Hêrôphin (Hérophile) về y học,… do
đã chú ý gắn liền nghiên cứu khoa học với các ứng dụng phục vụ nông nghiệp, hang hải,
quân sự, thương mại,… Đối với hóa học, nó vẫn được coi như một bộ phận của “nghệ thuật
12
bí mật thiêng liêng” của các giáo sĩ trong các đền thờ. Họ hoạt động dựa vào nhiều tà thuật
mê tín, tuy vậy cũng đã được tập hợp một số kiến thức về hóa kỹ thuật thủ công.
Nhà trường Alêcxanđri tồn tại đến năm 641 và sau đó ngừng hoạt động hẳn do thành phố
Alêcxanđri bị người Ả Rập tàn phá trong một cuộc bao vây 14 tháng liền.
Nhờ sự tỏa sang của Nhà trường Alêcxanđri mà có nhiều thành tựu về triết học, văn học,
khoa học, nghệ thuật của thế giới cổ đại được truyền lại cho đến ngày nay.
13
CHƯƠNG III: THỜI KÌ GIẢ KIM THUẬT
Giả kim thuật là danh từ dịch từ chữ “alchimi”, mà người Ả
Rập sau khi xâm chiếm Ai Cập giữa thế kỉ thứ 7, đặt ra bằng
cách lắp tiền tố “al” của Ả Rập vào từ chimi để chỉ thứ “tiền
hóa học” ngự trị trong thời kì trung cổ ở châu Âu (từ thế kỉ thứ
2 đến thế kỉ thứ 16).
Mục đích chủ yếu của giả kim thuật là tìm hòn đá thần bí biến đổi các kim loại thường thành
vàng. Do vậy có thể tạm định nghĩa hóa học ở thời kì này là “nghệ thuật biến đổi các kim loại
thành vàng”, nhờ hòn đá “thần bí”. Sau đó người ta còn thêm yêu cầu tìm ra thuốc thần bí
Zôsime: đã trình bài cách “cố định thủy ngân” (hóa rắn thủy ngân) cách chế nước thánh cho
nghệ thuật điều chế vàng…
Hecmet ba lần vĩ đại (Hermès Trismégiste) sống vào khoảng đầu công nguyên, nhiều tài liệu
viết “đóng kín”mang tên ông và số lượng quá nhiều, mấy thế kỉ sau công nguyên còn xuất
hiện. Người ta nghi ngờ, tìm hiểu kĩ, nhận ra trong đó còn thứ cóp nhặt giả tạo.
Ai Cập thuộc Hi Lạp, không có kiến thức gì khác mới đáng chú ý.
2. Giả kim thuật trong giới Ả Rập
(từ giữa thế kỉ thứ 7 đến đầu thế kỉ thứ 13)
Các quốc vương Ả Rập có đặc điểm vừa nắm chính quyền lẫn thần quyền. Sau khi xâm
chiếm Ai Cập, họ theo gương chính quyền trước ở Ai Cập tích cực bảo trợ khoa học và nghệ
thuật, thu hút tập trung các nhà bác học, khi đến Tây Ban Nha, người Ả Rập xây dựng vương
quốc Coocđu (Cordoue) độc lập làm thành một trung tâm văn minh Ixlam, thành lập Trường
Đại Học Coocđu có thư viện lớn nhất thời bấy giờ chứa 250.000 sách, giảng dạy các môn
triết học, toán, thiên văn, chiêm tinh, y học, giả kim thuật,… tổ chức dịch nhiều tài liệu cổ điển
Hi Lạp sang tiếng Ả Rập. Người Ả Rập chú trọng nhiều nghiên cứu y học, dược học, tìm, chế
biến nhiều thuốc chữa bệnh.
Các nhà giả kim thuật có tên tuổi nhất trong giai đoạn này là
Ghebe (Geber), khoảng 750-840, sống vào thời kì thịnh vượng
nhất của đế quốc Ả Rập. Ông được coi là ông tổ của giả kim
thuật Ả Rập. Các công trình chính của ông nói về tóan học, y
học, giả kim thuật. Geber thêm vào Thuyết nguyên tố của
Aritxtôt 2 nguyên tố mới là thủy ngân và lưu huỳnh để giải
thích sự cấu tạo nên kim loại. Theo ông, các kim loại được cấu
tạo từ sự kết hợp của thủy ngân với lưu huỳnh theo những tỉ lệ khác nhau; vàng là kim loại
15
hoàn thiện nhất, có tỉ lệ kết hợp giữa thủy ngân và lưu huỳnh là tốt nhất. Đây là một đóng
góp thêm của giả kim thuật về mặt lý thuyết
cho hóa học thời bấy giờ. Trong các công trình của ông lần đầu tiên xuất hiện các danh từ
alcati, vitriol, alcohol, alembic, sự mô tả rõ ràng các lò, các thiết bị dùng trong các phòng
nghiên cứu, cách chế biến chưng cất, kết tinh, thăng hoa… Cách điều chế và tinh chế các
tăng nhưng họ chỉ nhằm điều chế vàng nên giả kim thuật suy tàn dần không còn hi vọng gì
tồn tại…
Những nhà giả kim thuật có tên tuổi nhất trong giai đoạn này là:
Anbe Lơgrăng (Albert Legrand), 1193-1280, là nhà giả kim thuật người Đức có ảnh hưởng
lớn nhất. Sách của ông trình bày các thuyết, phần lớn lấy của Aritxtôt, phần thì lấy của người
Ả Rập, ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm quan trọng ái lực hóa học, nêu ra những
thuận lợi của các phương pháp tách (chưng cất, chưng cách thủy, thăng hoa,…), mô tả kĩ
các thiết bị… Ông đã dùng lửa để kiểm tra các mẫu vàng, bạc của các nhà giả kim thuật điều
chế ra, và kết luận vàng, bạc đó đều là giả.
Rôgiơ Bêcơn (Roger Bacon), 1220-1292, là một nhà giả kim thuật người Anh, được mệnh
danh là “tiến sĩ kì diệu” (doctor mirabilis) do có những khả năng xuất sắc. Bêcơn có một trình
độ vượt trình độ thời bấy giờ” ông cho tóan học có vị trí cơ bản trong các khoa học, một khoa
học nào muốn tiến bộ phải biết kết hợp thí nghiệm với các phương pháp tóan học. Theo ông
có hai phương pháp nghiên cứu là phương pháp lập luận trừu tượng và phương pháp thí
nghiệm cụ thể; phương pháp thí nghiệm quan trọng vô cùng, vì nó cần thiết để kiểm tra
những lập luận trừu tượng không đủ tin cậy.
Bêcơn học ở Ôcpho (Oxford) nước Anh, tại Pari nước Pháp đỗ tiến sĩ, về ở tu viện
Coocđơliê (Cordeliers) tại Pari ông bắt đầu nghiên cứu khoa học và làm giả kim thuật. Ông
có tư tưởng tiến bộ chống lại triết học kinh viện nên bị các giáo phái nghi ngờ, tìm cách trù
dập, đuổi đi, bắt giam, hành hạ, khủng bố nhiều năm, đến tàn tật khi ông được trả tự do.
Sách “Tấm gương giả kim thuật” của ông trở thành sách giáo khoa thực hành, cho nhiều thế
hệ nhà giả kim thuật sau này.
Các đại diện giả kim thuật của Pháp là: Vanhxăng đơ Bôve (Vincent de Beauvais) …-1260,
Xanh Tôma Đacanh (Saint Thomas d’ Aqin), 1225-1274, và của Tây Ban Nha là Acnôn đơ
Vinlơnơvơ (Arnauld de Villeneuve), 1240-1319, Raymông Luyn (Raymond Lulle), 1235-1315,
17
cả hai đều vừa là bác sĩ, vừa là nhà giả kim thuật.
Lò chưng cất
Chúng ta hãy đánh giá công minh xem, giả kim thuật đã có đóng góp gì có ích cho hóa học.
Nhìn chung đó là một trào lưu đã kìm hãm sự phát triển của hóa học trong một thời gian quá
khoa học bằng thủ công trong những công xưởng, phòng thí nghiệm.
Đóng góp nhiều là các nhà giả kim thuật Ả Rập. Phần đóng góp thiết thực của giả kim thuật
sẽ giúp ích vào sự phát triển của hóa học ở thời kì hóa y học và hóa kỹ thuật.
18
CAFEIN LÀ GÌ VÀ HOẠT ĐỘNG RA SAO?
Cafein (C
8
H
10
N
4
O
2
) là tên phổ biến của trimetilxantin ( tên đầy
đủ là 1,3,7-trimethylxanthine hoặc 3,7-dihydro-1,3,7-trimethyl-
1H-purine-2,6-dione). Chất này còn có những cái tên khác như
cà phê, trà, mat-tin (mateine), gua-ra-nai (guaranine), hay
methyltheobromine. Cafein là sản phẩm của một số loại thực
vật, trong đó có hạt cà phê, cây gua-ra-na, cây vơ-ba mát
(yerba máte), cây cacao, và trà. Đối với thực vật, cafein là một thứ thuốc trừ sâu tự nhiên. Nó
làm tê liệt và giết chết sâu bọ ăn thực vật. Phân tử này được chiết xuất lần đầu tiên vào năm
1819, bởi nhà hoá học Pháp, Friedrich Ferdinand Runge.
Nếu là loại tinh khiết, cafein ở dạng bột màu trắng và cực kì đắng. Nó được thêm vào côla,
và nhiều loại thức uống khác để đem lại một vị đắng thú vị rất đặc biệt. Tuy nhiên, cafein còn
là một chất kích thích có thể gây nghiện.
Trong cơ thể người ta, nó gây sự kích thích lên các dây thần kinh, nhịp tim, sự hô hấp, làm
thay đổi tính cách con người , và hoạt động cũng giống như một chất lợi tiểu.
Thông thường, một tách cà phê có chứa khoảng 100 mg cafein. Tuy nhiên, khoảng một nửa
dân số của Châu Mĩ dùng 300 mg cafein mỗi ngày, như một liều thuốc thông dụng. Cafein
khuy: khuy sừng, khuy thủy tinh, khuy xà cừ, khuy trai, khuy đồng… Đã có năm, sản lượng
khuy lên tới 600.000 tấn. Cho nên chẳng lạ gì các nhà phát minh ở nơi đây là những người
đầu tiên lao vào tìm kiếm các vật liệu nhân tạo cho sản phẩm của địa phương mình.
Năm 1862, tại cuộc triển lãm khuy quốc tế, bộ khuya có vẻ đẹp khác thường làm từ vật liệu
mới, giữ bí mật gọi là parksine do nhà phát minh Park tìm ra, đã gây ấn tượng rất mạnh đối
với khách tham quan. 5 năm sau, một người Birmingham khác là Spill “trình làng” một bộ
khuy còn đẹp hơn thế nữa từ vật liệu gọi là xylonite.
Song đáng tiếc những bộ khuy kiều diễm ấy không chịu được thử thách của thời gian. Chỉ
sau ít lâu, chúng bị mờ đục, biến dạng và nứt vỡ. Tuy vậy, lịch sử đã chứng minh rằng: tuy
thất bại nhưng hai nhà phát minh đã tìm ra một con đường nhân loại chưa từng khai phá. Họ
đã tìm ra nitroxenluloza bằng cách cho axit nitric tác dụng lên bông. Các nhà y học nhậy bén
sử dụng nitroxenluloza vào mục đích của mình: hòa tan nó trong ete, đặt tên là côlôđiông, để
nhỏ vào các vết thương. Ete bay hơi, giọt dung dịch biến thành một lớp màng mỏng, ngăn
cho vết thương khỏi bị nhiễm trùng.
Cũng vào thời gian đó, anh học sinh nghèo của Mỹ John Hyatt phải rời ghế nhà trường để đi
làm thợ xếp chữ. Là người thích sáng tạo, anh tự đặt cho mình nhiệm vụ thay thế những
chiếc lô in bằng vật liệu hoàn hảo hơn và đã vài lần mải suy nghĩ đến nổi xảy ra tai nạn. Một
hôm, những dòng chữ trên tờ bào anh đang tin đập vào mắt: Hãng “Fellow and Collander”
thong báo sẽ thưởng 10.000 đôla cho những người nào tìm được chất gì đó chế tạo được
quả bi-a, thay thế cho ngà voi ngày càng khan hiếm. John cau mày suy nghĩ và lại một… tai
nạn: ngón tay kẹp vào máy in. Anh đến trạm xá, nhỏ côlôđiông vào vết thương. Vẫn hồi hộp
với cái tin vừa đọc, anh luống cuống, đánh đổ cả lọ côlôđiông. Dung dịch ấy đọng lại trên bàn
tay, rồi rán lại thành một cục nhỏ. Hình ảnh cục nitroxenluloza nhỏ bé không buông tha anh,
ngay cả trong giấc ngủ. Nó trở thành nguyên liệu cho thí nghiệm làm lén lút ở góc phòng của
chàng trai hăm hở này.
21
Ý định tìm một chất biến nitroxenluloza thành dung dịch rắn đã dẫn anh đi qua hang trăm
chất và cuối cùng đến camphor (long não). Ra khỏi khuôn, hỗn hợp nitroxenluloza với
camphor đã trở thành những quả bi-a xinh xắn, vừa đủ sức nặng, lại bóng, đẹp, trông hấp
Đó là một chất lỏng không màu, linh động, có mùi hắc và độc. Trong nước nó phản ứng tạo
thành dạng hiđrat (2,2,2-tricloro-1-ethanediol – C2H3O2Cl3), một thuốc ngủ/giảm đau mạnh
với tên gọi khác là thuốc “nốc ao” (knockout drops). Đồng thời, đó cũng là một chất phản ứng
quan trọng trong quá trình điều chế thuốc trừ sâu DDT (viết tắt của từ Dichloro-Diphenyl-
Trichloroethane) trong công nghiệp.
Sử dụng DDT trong việc kiểm soát các bệnh lây từ côn trùng đã cứu sống hàng triệu người
trong nửa thế kỷ vừa qua, chủ yếu là qua việc giết hàng loạt muỗi Anophen, một nơi trú ngụ
chính cho sinh vật ký sinh gây bệnh sốt rét. Mặc dù mức độ độc hại của nó đối với động vật
có vú không cao nhưng DDT có khả năng gây thối rữa. Sự tích luỹ của nó trong lưới thức ăn
làm nó trở nên một mối nguy hiểm cho các loài chim cá và do đó nó đã bị cấm bởi Cơ quan
bảo vệ môi trường của Mỹ từ năm 1972.
Vỏ trứng bị tấn công bởi thuốc trừ sâu dư thừa do quá lạm dụng
Đặng Ngọc Huy
hoahocvietnam.com
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CHITIN, CHITOSAN VÀ DẪN XUẤT
23
1. Cấu trúc hóa học của chitin
Chitin là polisaccarit mạch thẳng, có thể xem như là dẫn xuất
của xenlulozơ, trong đó nhóm (-OH) ở nguyên tử C(2) được
thay thế bằng nhóm axetyl amino (-NHCOCH3) (cấu trúc I).
Như vậy chitin là poli (N-axety-2-amino-2-deoxi-b-D-
glucopyranozơ) liên kết với nhau bởi các liên kết b-(C-1-4)
glicozit. Trong đó các mắt xích của chitin cũng được đánh số
như của glucozơ:
2. Cấu trúc hoá học của chitosan và một vài dẫn xuất.
Chitosan là dẫn xuất đề axetyl hoá của chitin, trong đó nhóm (–NH2) thay thế nhóm (-
COCH3) ở vị trí C(2). Chitosan được cấu tạo từ các mắt xích D-glucozamin liên kết với nhau
bởi các liên kết b-(1-4)-glicozit, do vậy chitosan có thể gọi là poly b-(1-4)-2-amino-2-deoxi-D-
glucozơ hoặc là poly b-(1-4)-D- glucozamin (cấu trúc III).