Nghiên cứu xác định thức ăn phù hợp cho cá thát lát cườm (cá nàng hai, cá còm chitala ornata gray, 1831) lưu qua đông tại viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đình bảng từ sơn bắc ninh - Pdf 13

MỤC LỤC

Phần thứ nhất: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1. Điều tra cơ bản về huyện Đông Anh - Hà Nội 1
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2. Đánh giá chung 4
1.1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 5
1.2. Kết luận, tồn tại và đề nghị 5
1.2.1. Kêt luận 5
1.2.2. Tồn tại và đề nghị 6
Phần thứ hai: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 7
2.1. Đặt vấn đề 7
2.2. Tổng quan tài liệu 9
2.2.1. Cơ sở lý luận 9
2.2.2. Cơ sở khoa học về sinh trưởng phát triển 10
2.2.3. Những hiểu biết về bệnh cầu trùng 13
2.2.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
2.3. Nội dung - chỉ tiêu theo dõi - phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1. Nội dung nghiên cứu 26
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 34
2.5. Kết quả và thảo luận 35
2.5.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà Broiler Ross 308 qua các tuần tuổi. 35
2.5.2. Khả năng sinh trưởng của gà Broiler Ross 308 qua các tuần tuổi 36
2.5.3. Lượng thức ăn tiêu thụ và khả năng chuyển hoá thức ăn của gà
thí nghiệm qua các tuần tuổi 41
2.5.4. Ảnh hưởng của thuốc Vetpro và Vime-anticoc đến tỷ lệ và
cường độ nhiễm cầu trùng của gà thí nghiệm. 42
2.5.5. Hiệu lực điêu trị bệnh cầu trùng của hai loại thuốc Vetpro 60%
và thuốc Vime-anticoc 46


1
Phần thứ nhất
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản về huyện Đông Anh - Hà Nội
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Trại gà CBF Đông Anh thuộc công ty cổ phần Japfa Comfeed Việt
Nam nằm trên địa bàn xã Uy Nỗ - Huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội.
Cách trung tâm thị trấn Đông Anh 4km theo quốc lộ 3. Về địa giới, Đông Anh
là huyện lớn thứ hai của Hà Nội sau Sóc Sơn. Phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn,
Hà Nội; Phía Đông, Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh; Phía Đông Nam giáp
huyện Gia Lâm; Phía Nam giáp sông Hồng; Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc.
Vị trí địa lý như vậy giúp huyện rất thuận tiện trong việc trao đổi phát
triển kinh tế mà cụ thể là việc xuất nhập của các ngành trồng trọt, chăn nuôi,
thương mại dịch vụ trở nên dễ dàng.
1.1.1.2. Điều kiện khí hậu, đất đai
* Điều kiện địa hình đất đai
Trại gà CBF Đông Anh nằm trên địa bàn huyện Đông Anh, mang đặc
điểm địa hình của khu vực đồng bằng nên địa hình tương đối bằng phẳng.
Trại nằm trên một khu đất cao, bằng phẳng và có diện tích rộng 6 ha, xung
quanh có nhiều ao hồ nên rất thuận lợi cho việc xây dựng chuồng trại.
* Điều kiện khí hậu, thủy văn
Trại gà CBF Đông Anh mang khí hậu đặc trưng của huyện Đông
Anh nên có cùng chung chế độ khí hậu của thành phố Hà Nội, đó là khí hậu
nhiệt đới, ẩm, gió mùa. Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa hạ, khí hậu ẩm ướt,
mưa nhiều. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông, thời kỳ đầu khô
- lạnh, nhưng cuối mùa lại mưa phùn, ẩm ướt. Giữa hai mùa là thời kỳ
chuyển tiếp tạo cho Đông Anh cũng như Hà Nội có bốn mùa phong phú:
xuân, hạ, thu, đông.

cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trại.
* Bộ máy tổ chức của trại
Trại có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế, có ban
lãnh đạo năng động nhiệt tình, có năng lực cao, đặc biệt trại có đội ngũ công
nhân khá mạnh, yêu nghề, rất giàu kinh nghiệm thực tế, công tác lâu năm
trong nghề.
Nhân viên trong trại gồm 18 người, trong đó:
+ Lao động gián tiếp: gồm 5 người
Quản lí: 01 kĩ sư chăn nuôi có trình độ chuyên ngành và trình độ
ngoại ngữ.
01 Trưởng trại là kĩ sư chăn nuôi chịu trách nhiệm điều hành sản xuất
quản lí.
01 cán bộ kĩ thuật chịu trách nhiệm kĩ thuật cho trại.
01 người chịu trách nhiệm về điện nước trong trại.
Bảo vệ: 01 người.
Nhà bếp: 01 người chịu trách nhiệm nấu ăn và giặt quần áo lao động. 3
+ Lao động trực tiếp 12 người chia làm 4 chuồng:
Chuồng D1: 3 người.
Chuồng D2: 3 người.
Chuồng D3: 3 người.
Chuồng D4: 3 người.
1.1.1.4. Cơ sở vật chất của trại
+ Hệ thống chuồng trại:
Khu sản xuất của trại được đặt trên nền đất cao, dễ thoát nước, được
cách biệt với khu hành chính và hộ gia đình. Chuồng được xây theo hướng
Đông Nam - Tây Bắc, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấp áp về mùa đông,
xung quanh khu sản xuất của trại có hàng rào bao bọc và có cổng ra vào riêng.

1.1.1.5. Tình hình sản xuất của trại
Trại chủ yếu cung cấp gà thịt thương phẩm cho các tỉnh như: Bắc
Giang, Hà Nội, Thái Bình, Vĩnh Phúc và một số tỉnh lân cận, đồng thời cung
cấp gà thịt và gà xuất khẩu cho thị trường.
Trại mới được đưa và sử dụng nhưng bước đầu đã thu được những kết
quả đáng kể, sản lượng gà xuất bản ước tính khoảng 104 nghìn kg/ lứa nuôi.
Trung bình một năm trại cung cấp ra thị trưởng 624 nghìn kg gà thịt thương
phẩm, đó là một kết quả rất khả quan cho sự phát triển của trại.
1.1.2. Đánh giá chung
1.1.2.1. Thuận lợi
Trại được ban lãnh đạo công ty quan tâm đầu tư kinh phí trang bị dụng
cụ, vật tư trong chăn nuôi để phù hợp theo xu hướng chăn nuôi công nghiệp.
Quản lý trại có năng lực, nhiệt tình năng động, có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi,
công nhân nhiệt tình, có kinh nghiệm lâu năm trong nghề. Toàn bộ các bộ
công nhân viên trong trại là một tập thể đoàn kết, có ý thức trách nhiệm cao
và lòng yêu nghề.
1.1.2.2. Khó khăn
Do trại CBF Đông Anh là trại được thuê lại từ trại chăn nuôi gà đẻ nên
chuồng trại, trang thiết bị chưa đồng bộ và không thuận lợi cho chăn nuôi gà
thịt. Mặt khác vấn đề môi trường của trại chưa thực sự đảm bảo, đặc biệt là
vấn đề nước sạch cho chăn nuôi còn nhiều bất cập.
Trong chăn nuôi gà thịt phải đảm bảo vấn đề vệ sinh môi trường và
cung cấp đầy đủ nước sạch, do đó trại phải trang bị hệ thống xử lý nước. Điều
này đã gây không ít khó khăn cho sự phát triển chăn nuôi của trại.
Dịch bệnh diễn biến rất phức tạp, làm cho chi phí phòng bệnh và chữa
bệnh tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến giá thành và sự phát triển của gà.
Giá thức ăn liên tục tăng trong khi giá gà tăng chưa tương ứng làm cho
chi phí sản xuất/1kg tăng khối lượng của gà tăng cao.
11500
11438
99,46
Nhỏ vaccine Medivac Gumboro A
Con
11347
11140
98,17
3. Công tác khác Đạt
- Sát trùng chuồng trại
m
2

4368
4368
100,00
- Vệ sinh chuồng trại
m
2

360
360
100.00
1.2. Kết luận, tồn tại và đề nghị
1.2.1. Kêt luận
Qua thời gian thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo
trại anh Nguyễn Văn Hào và anh Nguyễn Văn Hoàn, sự quan tâm chỉ đạo sát

tốt hơn nữa công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và cuối cùng đem lại hiệu quả
kinh tế cao.
Nhà trường và khoa Chăn nuôi Thú y tiếp tục đưa sinh viên về thực tập
tại trại để có điều kiện tếp xúc trực tiếp, làm quen với thực tiễn sản xuất, có
them kinh nghiệm và củng cố vững chắc chuyên môn của mình.
7
Phần thứ hai
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên chuyên đề:
"Theo dõi khả năng sinh trưởng của gà broiler Ross 308 nuôi trong
chuồng kín và nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc Vetpro, Vime-Anticoc đến
hiệu quả phòng - trị bệnh cầu trùng giai đoạn từ 1 - 42 ngày tuổi nuôi tại
trại gà CBF Đông Anh thuộc công ty cổ phần Japfa Comfeed Việt Nam"
2.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở nước ta.
Trước đây chăn nuôi gia cầm thường theo phương thức chăn nuôi quảng canh
tận dụng, những năm gần đây nhờ áp dụng những thành tựu mới của khoa
học, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã và đang đạt được những thành tựu
đáng kể góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và cải thiện đời
sống nhân dân. Xu hướng phát triển của ngành đang diễn ra mạnh mẽ theo
con đường chăn nuôi thâm canh cao. Trong đó chăn nuôi gà được quan tâm
phát triển nhất. Xã hội đang phát triển rất nhanh, đời sống nhân dân được cải
thiện mọi mặt đòi hỏi các sản phẩm cung cấp phải đảm bảo chất lượng cao và
đủ số lượng. Từ yêu cầu trên đặt ra, ngành chăn nuôi gà phải có biện pháp
vừa mở rộng quy mô chăn nuôi, đồng thời đặc biệt chú trọng đến chất lượng
sản phẩm.
Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều giống gà thịt được nuôi, trong đó

nào là đạt hiệu quả cao nhất. Vì thế mà bệnh cầu trùng và thuốc phòng trị luôn
là mối quan tâm hàng đầu của người chăn nuôi. Để góp phần hạn chế tác hại
của bệnh cầu trùng, và có cơ sở khuyến cáo tới người chăn nuôi lựa chọn
được thuốc điều trị bệnh cầu trùng có hiệu quả. Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu chuyên đề: "Theo dõi khả năng sinh trưởng của gà broiler Ross 308
nuôi trong chuồng kín và nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc Vetpro, Vime-
Anticoc đến hiệu quả phòng - trị bệnh cầu trùng giai đoạn từ 1 - 42 ngày
tuổi nuôi tại trại gà CBF Đông Anh thuộc công ty cổ phần Japfa Comfeed
Việt Nam".
Với mục đích:
- Theo dõi khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm nuôi trong
chuồng kín.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc Vetpro, Vime-Anticoc đến hiệu quả
phòng trị bệnh cầu trùng ở gà Broiler Ross 308.
- Từ kết quả thu được làm cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi lựa chọn
được thuốc phòng trị bệnh cầu trùng đạt hiệu quả cao. 9
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1. Cơ sở lý luận
2.2.1.1. Đại cương về cơ thể gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có nhiều đặc
điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương
nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ
trứng sau ấp nở thành gia cầm non. Quá trình trao đổi chất của gia cầm lớn
thân nhiệt cao (40 - 42
0
C) nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh.
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận như: hệ tiêu hoá, hô

men ở đường ruột tồn tại và do vi sinh vật tiết ra nhưng rất ít. Quá trình tiêu
hoá chất xơ của gia cầm cũng nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật lên men nhưng
hoạt động kém.
Thức ăn qua đường tiêu hoá gà rất nhanh (gà con 2 - 4 h; gà lớn 4 - 5 h).
Do đặc điểm này mà khi gà nuốt phải noãn nang cầu trùng thì noãn
nang sẽ cùng thức ăn chuyển theo đường tiêu hoá xuống ruột non, manh
tràng, trực tràng, nên quá trình xâm nhập, gây bệnh của cầu trùng xảy ra
nhanh, vòng đời của cầu trùng ngắn (5-7 ngày).
2.2.2. Cơ sở khoa học về sinh trưởng phát triển
2.2.2.1. Sinh trưởng và cơ sở di truyền của sinh trưởng
* Khái niệm sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do quá trình đồng
hoá và dị hoá.
Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước các chiều, về khối lượng thể
tích của các cơ quan bộ phận và của toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền từ
đời trước.
Quá trình sinh trưởng của con vật được tính từ khi trứng được thụ tinh
cho đến khi con vật trưởng thành, quá trình cốt hoá xảy ra hoàn toàn.
* Cơ sở di truyền của sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tích luỹ dần các chất hữu cơ, chủ yếu là protein.
Sự tích luỹ các chất kiến tạo cơ thể do các gen quy định.
Sự sinh trưởng ở các giống, các dòng, các loài khác nhau thì khác nhau
nhưng đều tuân theo quy luật sinh trưởng của gia súc, gia cầm.
Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức cơ quan cơ thể luôn hoàn
thiện phát triển chức năng sinh lý của mình dẫn đến quá trình phát dục. Sinh
trưởng và phát dục là hai quá trình diễn ra trên cơ thể động vật, sinh trưởng
phát dục có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau làm cho cơ thể con vật
ngày càng phát triển.
đến khi cơ thể lớn lên, thành thục về thể vóc. Do đó quá trình sinh trưởng chịu
sự tác động của rất nhiều yếu tố.
+ Đặc điểm di truyền của giống
Mỗi giống, loài đều có tốc độ sinh trưởng khác nhau, sự sinh trưởng
đó là do gen được di truyền từ bố, mẹ. Nhưng hầu hết các gen này là các 12
gen quy định tính trạng số lượng. Do vậy chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các
yếu tố ngoại cảnh như chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, đặc biệt là
thức ăn dinh dưỡng.
Sự tương tác giữa yếu tố di truyền và ngoại cảnh có nghĩa là ở động vật
với cùng một kiểu gen nhưng ở môi trường này thì biểu hiện tốt nhưng ở môi
trường khác thì biểu hiện kém, thậm chí còn không biểu hiện được. Cho nên
cần thiết phải tạo ra môi trường thích hợp để cho kiểu gen đó được biểu hiện
tốt nhất, đầy đủ đặc tính di truyền của giống.
+ Ảnh hưởng của tính biệt đến tốc độ sinh trưởng
Ở gia cầm nói riêng và động vật nói chung giữa hai tính biệt đều có sự
sai khác nhau về quá trình trao đổi chất, sinh lý, sự sinh trưởng và khối lượng
cơ thể. Ở gà trống sinh trưởng nhanh và có khối lượng lớn hơn gà mái cùng
giống trong cùng thời gian nuôi.
Theo North (1990) khi mới nở gà trống nặng hơn gà mái là 1 %, tuổi
càng cao sự sai khác càng lớn, ở 8 tuần tuổi sự sai khác về khối lượng cơ thể
là 27 %.
Hoàng Toàn Thắng (1996) [14] khuyến cáo: đối với gia cầm để đạt
hiệu quả cao trong chăn nuôi cần nuôi tách trống mái.
+ Ảnh hưởng của dinh dưỡng tới tốc độ sinh trưởng:
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sinh trưởng, hơn
nữa nó còn ảnh hưởng tới sự di truyền về sinh trưởng.
Theo tác giả Lê Hồng mận và cs (1995) [6] cho biết: nhu cầu protein

Bệnh cầu trùng là một bệnh đơn bào ký sinh ở đường tiêu hoá của động
vật. Động vật nuôi như: trâu, bò, lợn, chó, vịt, bồ câu đều bị cầu trùng ký
sinh. Bệnh có thể gây chết nhiều loài động vật, tỷ lệ chết cao đặc biệt là động
vật non. Ở gà và thỏ bệnh gây thiệt hại rất lớn (tỷ lệ chết ở gà con, thỏ con có
thể lên tới 80 - 100 %).
Bệnh cầu trùng có 2 giống gây ảnh hưởng lớn trong chăn nuôi đó là
Eimeria và Isospora.
Khi cầu trùng theo phân ra ngoài là một kén hay còn gọi là noãn nang
(Oocyst) là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu. Có 3
lớp vỏ: lớp ngoài cùng rất mỏng, bên trong có chứa nguyên sinh chất lổn nhổn
thành hạt, giữa nguyên sinh chất có một nhân tương đối to.
Có một số loài cầu trùng ở đầu có chỗ lõm vào gọi là lỗ noãn nang, có
một số loài không có lỗ noãn nang hoặc không rõ. Khi gặp điều kiện nhiệt độ,
độ ẩm thích hợp thì nhân và nguyên sinh chất bắt đầu phân chia. 14
Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình
thành 4 bào tử, mỗi bào tử lại phân thành 2 bào tử con. Bào tử con có hình lê,
chính bào tử con này sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan và gây ra
những tổn thương bệnh lý.
Cầu trùng thuộc giống Isospora thì nhân và nguyên sinh chất phân chia
thành 2 bào tử, mỗi bào tử phân thành 4 bào tử con và cũng xâm nhập vào
niêm mạc ruột.
Cùng là gia cầm nhưng mỗi loài có một số loài cầu trùng ký sinh riêng.
Cầu trùng gà không ký sinh trên vịt, ngan, ngỗng Trên cùng cơ thể nhưng
mỗi loài cầu trùng ký sinh trên một vị trí nhất định: cầu trùng ký sinh ở manh
tràng thì không ký sinh ở ruột non và ngược lại.
Ở gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ
nhiễm khác nhau. Gà con bị bệnh nặng và chết nhiều hơn gà lớn, gà trưởng

2.2.3.3. Bệnh cầu trùng gà
Bệnh cầu trùng gà là bệnh phổ biến khắp thế giới. Theo Johannes
kaufman (1996) thì bệnh cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh
do vi trùng gây nên. Cầu trùng gà có vòng đời rất ngắn (5 - 7 ngày) và không
cần có ký chủ trung gian. Bệnh cầu trùng gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà
nhất là chăn nuôi với mật độ cao, tỷ lệ chết 50 - 70% số gà nhiễm bệnh. Bệnh
thường gây hậu quả nghiêm trọng ở gà có lứa tuổi từ 5 ngày tuổi đến 90 ngày
tuổi. Gà con sau khi bị bệnh rất khó hồi phục, chậm lớn. Ở gà trưởng thành
chủ yếu là vật mang trùng và giảm đẻ ở gà đẻ.
Theo Lê Văn Năm (1999) [7] cầu trùng làm tăng số gà còi cọc, giảm
tốc độ tăng trọng, gây chết từ 30 - 100% ở gà con (nếu không chữa trị kịp
thời) giảm 20 - 40 % sản lượng trứng ở gà đẻ.
* Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà:
Bệnh cầu trùng gà do các nguyên sinh động vật khác nhau thuộc bộ
Coccidia gây ra, ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột. Cầu trùng ký sinh ở
gà thuộc hai giống Eimeria thuộc họ Eimeridae, còn giống Isospora ít gặp
hơn. Cho đến nay đã phát hiện được 9 loài cầu trùng thuộc giống Eimeria ký
sinh trên gà và gây thiệt hại lớn cho gà đó là:
E. tenella
E. brunetti
E. maxima
E. mitis
E. necatrix
E. acervulina
E. hagani
E. praecox
E. miveti
Noãn nang
(Oocyst)
Noãn nang gây nhiễm

noãn nang khoảng 29,3 x 23,6 (m). Quá trình sinh sản bào tử con mất
khoảng 30 - 48h. E.maxima ký sinh hầu hết ở ruột non nhưng chủ yếu ở phần
trước và phần giữa.
- E.necatrix: là loài có sức gây bệnh mạnh, noãn nang có hình bầu dục
không màu, kích thước noãn nang từ 16,7 - 14,2 (m). Gà con từ 2 - 5 tuần
tuổi cảm nhiễm mạnh nhất với loài này. Loài này ký sinh chủ yếu ở phần giữa
của ruột non nhưng cũng có nhiễm ở manh tràng.
- E.mitis: loài này có sức gây bệnh và độc lực yếu, noãn nang hình cầu
không màu, ở điều kiện thuận lợi thời gian hình thành bào tử con là 48h. Loài
này ký sinh ở phần trên của ruột non.
- E.brunetti: noãn nang có kích thước 24,6 x 18,8 (m), hình trứng,
không màu và có sức gây bệnh không mạnh. Loài này ký sinh ở phần cuối của
ruột non, ruột già, trực tràng và lỗ huyệt cũng có thể thấy E.brunetti ký sinh
- E.acrvulina: có sức gây bệnh yếu, noãn nang hình trứng, không màu
kích thước 19,5 x 14,3 (m) ký sinh chủ yếu ở tá tràng.
- E.hagani: noãn nang hơi tròn, không màu sức gây bệnh không mạnh,
ký sinh ở phần trên và tá tràng của ruột non, loài này chưa thấy có ở gà nuôi
tại Việt Nam.
- E.praecox: là loài cầu trùng cũng chưa thấy ở Việt Nam, sức gây bệnh
yếu. Noãn nang có hình cầu, không màu, kích thước noãn nang 21,2 x 17 (m).
- E.miveti: cũng như E.hagani và E.praecox chưa phát hiện thấy trên gà
nuôi ở nước ta, noãn nang có hình cầu, không màu, sức gây bệnh không mạnh. 17
* Vòng đời của cầu trùng gà: gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn ở ngoài tự nhiên: noãn nang được thải theo phân ra ngoài gặp
điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm noãn nang phát triển thành noãn nang có
khả năng gây nhiễm (cầu trùng Eimeria phát triển thành 4 bào tử con).
- Giai đoạn ký sinh trong cơ thể gà: gà nuốt phải noãn nang gây nhiễm

tục phát triển tạo thành các bào tử con (sinh sản vô tính) ở trên các tế bào biểu 18
mô ruột làm tổn thương tới niêm mạc ruột, niêm mạc ruột bị phá hoại gây ra
viêm ruột, từ đó dẫn tới quá trình hấp thu bị rối loạn, các tế bào niêm mạc
ruột bị viêm xuất huyết, máu và dịch viêm tràn vào xoang ruột gây tụ huyết.
Song song với quá trình sinh sản phát triển gây ra những tác động cơ
giới cầu trùng sản ra độc tố làm cho gà bị trúng độc gây cho gà những rối loạn
thần kinh, cánh rũ xuống, lờ đờ kém hoạt động.
Việc tế bào ruột bị phá vỡ mở đường thuận lợi cho các bệnh kế phát
khác dẫn đến cầu trùng ghép với nhiều bệnh khác gây tử vong cao. Với sự tác
động đồng loạt của các yếu tố trên làm cho gà gầy yếu, thiếu máu, kiết lị, ỉa
chảy máu, gây tỷ lệ chết cao, có thể tới 100 % ở gà con.
* Sự miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng:
Sau khi gà bị bệnh cầu trùng đã khỏi sẽ có miễn dịch với bạch cầu
trùng mà chúng đã nhiễm phải. Vấn đề miễn dịch cầu trùng được rất nhiều
nhà khoa học nghiên cứu, nhưng đến nay vấn đề này vẫn chưa được sáng tỏ.
Các công trình nghiên cứu vẫn tiếp tục để đưa ra một kết quả nghiên cứu có
sức thuyết phục hơn về sự miễn dịch trong bệnh cầu trùng.
* Triệu chứng của bệnh cầu trùng:
Cầu trùng có thể gây bệnh cho gà ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở
gà 10 - 90 ngày tuổi đặc biệt là ở gà 18 - 40 ngày tuổi thường bị rất nặng và ở
thể cấp tính. Còn gà lớn thường là vật mang trùng và gây giảm 20 - 40 % sản
lượng trứng. Gà mắc bệnh cầu trùng thì triệu chứng thể hiện ở 3 thể sau:
- Thể cấp tính: thường xảy ra ở gà con với các triệu chứng điển hình là
gà ủ rũ, lười vận động, tụ lại thành đám, hay nằm, đầu ngoẹo sang một bên,
cánh sã xuống, lông xù, mắt nhắm bỏ ăn nhưng lại uống nhiều nước. Gà ỉa
chảy lúc đầu màu vàng trắng, vàng xanh sau đó phân có màu nâu lẫn máu
(phân sáp), nhiều con ỉa ra máu tươi. Cuối giai đoạn con vật bị tê liệt, kiệt sức

Diaveridine: 2,6g
Tá dược vừa đủ: 100g
Tác dụng chống lại tất cả các loại cầu trùng ký trùng với liều:
Liều phòng: 1g pha trong 1 lít nước cho uống liên tục trong 3 ngày liền
ở tuần thứ 2, 3 và 4.
Liều trị: 1 g pha trong 1 lít nước cho uống liên tục trong 3 ngày liền.
- Anticoccid: trong 20gr thuốc có:
Diaveridi: 5,45gr.
Sulphaquinoxalin: 5,46gr.
Trimethoprim: 2,0gr.
Thuốc có tác dụng đặc trị cầu trùng gà, thỏ, bê, nghé và phòng các
bệnh rối loạn ỉa chảy. 20
Cách dùng: trộn vào thức ăn hoặc pha nước cho uống.
Liều phòng: 1,5gr pha với 1 lít nước, liều trị gấp đôi.
- Baycox: 2,5% dung dịch uống của hãng Bayer, tác dụng chống lại các
loại cầu trùng.
Liều phòng 1ml Baycox 2,5% pha với 1 lít nước uống trong 48h vào
các ngày tuổi 9 - 10, 16 - 17, 23 - 24.
Trong 100g thuốc Baycox chứa 2,5g Toltrazuril.
- Regecocin:
Là thuốc trị cầu trùng có tên thương phẩm là coyden. Ngoài tác dụng
chống cầu trùng, thuốc còn có tác dụng kích thích sinh trưởng giúp gia cầm
tận dụng tốt thức ăn.
Thuốc có thể trộn với thức ăn hoặc hoà vào nước cho uống:
Liều dùng: 1g pha với 8 lít nước.
Liều chữa: 1g pha với 4 lít nước
Nhưng hiện nay gà nuôi đã dùng Rigecoccin phòng trị với thời gian dài

bệnh cầu trùng gây tác hại lớn cho chăn nuôi gà nhất là gà công nghiệp với
mật độ cao. Bệnh gây tác hại lớn cho gà con từ 1-4 tuần tuổi. Gà sau khi bị
bệnh khó hồi phục sức khoẻ còi cọc, chậm lớn.
Khi nuôi dưỡng quản lý không tốt sẽ tạo điều kiện cho cầu trùng phát
triển và gây bệnh nặng, thức ăn thiếu sinh tố cũng là điều kiện thuận lợi cho
cầu trùng phát triển rầm rộ. Nuôi gà trong môi trường ẩm thấp, sân chơi quá
nhỏ, thức ăn kém, vệ sinh kém là điều kiện thuận lợi cho cầu trùng phát triển
và lây lan mạnh.
Dùng thuốc trị cầu trùng: Cocci-stop-Esb
3
pha 1gr với 1lít nước cho
uống, dùng từ 3-5 ngày. Sau vài ngày nếu còn triệu chứng lâm sàng thì cho
uống tiếp. Cũng nghiên cứu về cách dùng thuốc phòng bệnh cầu trùng, Lê
Văn Năm (1999) [7] đưa ra nguyên tắc sau: "nguyên tắc phòng bệnh cầu trùng
bằng thuốc phải dùng từ 5 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi đối với gà thịt. Sau đó
cứ một tháng phải tiếp tục dùng thuốc 3 - 4 ngày kể cả thời gian gà đẻ”. Việc
dùng thuốc phải đúng theo chỉ dẫn mới đạt kết quả như:
- Đối với Regecoccin dùng 1,25gr đến 2,5gr/10kg thức ăn liên tục từ 5 -
60 ngày tuổi.
- Anticoc liều phòng 1g pha với 1 lít nước dùng vào các ngày 5-8; 15-
18; 21-24; 28-30; 38-40; 51-52; 60-62 ngày tuổi.
Khi bệnh nổ ra tăng liều lên gấp đôi để điều trị, sau khi bệnh khỏi phải
tiếp tục duy trì liều phòng đúng như chỉ dẫn của từng loại thuốc.
Theo tác giả bệnh cầu trùng xảy ra còn mở đường cho vi trùng xâm
nhập dẫn đến gà bị bội nhiễm cầu trùng với các bệnh khác như:
- Cầu trùng ghép E.coli.
- Cầu trùng ghép Bạch lị và Phó thương hàn.
- Cầu trùng với CRD, với Tụ huyết trùng, với Newcastle, Gumboro


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status