MỤC LỤC
I. LÝ THUYẾT H-O…………………………………………………….…….….2
I.1.Giả thiết………………………………………………………………….…… 2
I.2.Khái niệm cần biết………………………………………………………….… 2
I.2.Khái niệm cần biết………………………………………………………….… 3
II. TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM GẦN ĐÂY….…… 4
II.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu……………………………………………………4
II.2. Cơ cấu xuất nhập khẩu……………………………………………………… 5
II.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu nói chung…………………… 6
III. XU HƯỚNG THAY ĐỔI CƠ CẤU XUẤT NHẬP KHẨU……………… 6
III.1. Cơ cấu thị trường…………………………………………………………….6
III.2. Cơ cấu ngành……………………………………………………………….15
IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VIỆT NAM CẦN QUAN TÂM…………………… 17
V. TRẢ LỜI CÂU HỎI THẢO LUẬN……………………………………… 20
1
I. LÝ THUYẾT H-O.
I.1.Giả thiết.
-Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất, 2 mặt hàng. Mức độ trang bị các
yếu tố ở mỗi quốc gia là cố định và mức độ trang bị các yếu tố ở 2 quốc gia là
khác nhau.
-Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa 2 quốc gia.
-Các mặt hàng khác nhau có hàm lượng yếu tố sản xuất là khác nhau và không có
sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương
quan nào.
-Cạnh tranh hoàn hảo trên cả thị trường hàng hóa lẫn thị trường yếu tố sản xuất.
-Chuyên môn hóa là không hoàn toàn.
-Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia nhưng không di
chuyển được giữa các quốc gia.
-Sở thích là giống nhau giữa 2 quốc gia.
-Thương mại được thực hiện tự do.
I.2.Khái niệm cần biết.
trưởng thấp, chỉ tăng 1,3% so với năm 2011. Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 63,1% đạt khoảng 72,3 tỷ USD,tăng 31,2%.
II.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu.
Bảng tốc độ tăng giảm xuất nhập khẩu, tỉ lệ nhập siêu qua các năm 2006-2010.
Nếu như năm 2007 Việt Nam nhập siêu với tỷ lệ 29,1%, năm 2008 tỷ lệ
28,8%, năm 2009 tỷ lệ 22,5%, năm 2010 tỷ lệ 17,5%, năm 2011 tỷ lệ 10,1% so với
kim ngạch xuất khẩu thì năm 2012 Việt Nam đã xuất siêu khoảng 284 triệu USD.
Từ bảng trên ta thấy xuất khẩu của nước ta tăng dần theo các năm, tốc độ
tăng bình quân là: 18%. Quy mô xuất khẩu thay đổi từ 39,83 tỷ USD năm 2006 tới
4
114,6 tỷ USD năm 2012 (số liệu ngoài bảng), mở rộng tại nhiều ngành hàng, số
ngành hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD năm 2011 là 23 ngành hàng.
II.2. Cơ cấu xuất nhập khẩu.
Trong số các mặt hàng chủ lực, dệt may vẫn là ngành đóng góp lớn nhất
vào tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012. Theo Tổng cục Hải quan, tính đến ngày
15/11/2012, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 13.089 triệu USD, chiếm
tới 13,28% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 7,8% so cùng kỳ năm 2011. Tiếp theo
đó là những mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao như mặt hàng máy
tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện cũng
đạt kim ngạch xuất khẩu lần lượt là 6.502 triệu USD, tăng 68,6% so cùng kỳ và
10.674 triệu USD, tăng 92,8% so cùng kỳ năm 2011. Những mặt hàng này đã đạt
được tốc độ tăng trưởng cao hơn rất nhiều so với năm 2011, góp mặt vào nhóm 10
mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất trong năm 2012.
Trong khi nhóm hàng công nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng vào tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu thì kim ngạch xuất khẩu của ngành nông lâm nghiệp
thủy sản lại có xu hướng giảm sút. Các mặt hàng chủ lực của ngành này như gạo,
cao su đều ở mức thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011. Cụ thể, 11 tháng đầu năm
2012, kim ngạch xuất khẩu gạo chỉ đạt 3.247 triệu USD so với mức 3.463 triệu
USD của 11 tháng năm 2011, kim ngạch xuất cao su chỉ đạt 2.416 triệu USD so
với mức 2.778 triệu USD của cùng kỳ năm 2011. Xuất khẩu thủy sản mặc dù
-Yếu tố đầu vào nhập khẩu và quan hệ với xuất khẩu.
- Quốc gia nhỏ tham gia thị trường toàn cầu, thị phần xuất khẩu trên thế giới chưa
nhiều khiến chúng ta khó có thể tác động tới giá và chịu bị động từ các bất ổn kinh
tế.
- Chính sách, chương trình khuyến khích xuất khẩu.
- Chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp với nhu cầu xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
-Tận dụng lợi thế từ thương mại quốc tế hiện nay trong khai thác lợi thế của các
nước vào phục vụ hoạt động sản xuất của mình.
III. XU HƯỚNG THAY ĐỔI CƠ CẤU XUẤT NHẬP KHẨU.
III.1. Cơ cấu thị trường.
Sản phẩm xuất khẩu của Việt nam đã có mặt trên 220 quốc gia và vùng
lãnh thổ, trong gần 80 thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, có 25 thị trường
đạt trên 1 tỷ USD, 17 thị trường đạt trên 2 tỷ USD, 9 thị trường đạt trên 3 tỷ USD.
Theo tổng hợp của Tổng cục Thống kê, các thị trường khu vực EU và ASEAN
được gộp lại, nên các thị trường lớn bao gồm danh sách sau đây:
7
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường trên đạt 88
tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước, cao hơn tốc độ tăng của tổng kim ngạch
xuất khẩu (18,3%), chiếm 76,8% tổng số, cao hơn tỷ trọng 76,1% của năm 2011.
EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam vào thị trường này đã tăng gần như liên tục trong mấy năm nay, chỉ
bị ngắt quãng vào năm 2009 (năm 2005 đạt 5,52 tỷ USD, năm 2008 cao gấp đôi,
đạt 10,9 tỷ USD, năm 2009 đạt 9,4 tỷ USD, năm 2010 đạt 11,39 tỷ USD, năm
2011 đạt 16,55 tỷ USD, năm 2012 đạt 20,3 tỷ USD, chiếm 17,7% tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam). So với năm 2011, xuất khẩu của Việt Nam sang EU
tăng 22,5%- cao hơn tốc độ tăng của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, cao
hơn tốc độ tăng của 6 thị trường trên. Theo mặt hàng, kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng kim ngạch (tổng giá tri sản xuất) của
mặt hàng tương ứng của cả nước, như điện thoại các loại và linh kiện chiếm 43%;
8
khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu về mặt hàng tương ứng
của Việt Nam, như dệt may chiếm gần 50%; túi xách, ví, va li, mũ và ô dù chiếm
41,3%; gỗ và sản phẩm gỗ chiếm 38,6%; sản phẩm từ sắt thép chiếm 30,9%; giày
dép chiếm 30,8%; hạt điều chiếm 27,7%; thuỷ sản chiếm 19,5%; máy móc, thiết
bị, dụng cụ phụ tùng khác chiếm 17,3%; hạt tiêu chiếm 14,7% Đáng lưu ý, trong
quan hệ buôn bán với Hoa Kỳ, Việt Nam liên tục ở vị thế xuất siêu lớn (năm 2000
đạt 0,37 tỷ USD, năm 2005 đạt 5,06 tỷ USD, năm 2010 đạt 10,47 tỷ USD, năm
2011 đạt 12,4 tỷ USD, năm 2012 đạt 14,9 tỷ USD). Thị trường Hoa Kỳ gần như
vô tận, bởi tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào đây còn chiếm tỷ lệ khá
khiêm tốn so với tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này (0,83%); nhu cầu các
nhà nhập khẩu tại đây thường lớn; trong khi số Việt kiều tại Mỹ khá đông… Tuy
nhiên, đối với từng mặt hàng thì cần tránh “bỏ trứng vào một giỏ”, cần quan tâm
đến những quy định về xuất xứ, vệ sinh an toàn thực phẩm để tránh bị rào cản kỹ
thuật.
ASEAN là khu vực mà Việt Nam năm 2012 xuất khẩu lớn thứ ba về kim
ngạch (chiếm 15,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam), tăng 27,2% so với
năm trước, cao gấp rưỡi tốc độ tăng chung. Xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực
ASEAN nếu năm 2000 mới đạt 2,62 tỷ USD, thì năm 2005 đạt trên 5,74 tỷ USD,
năm 2010 đạt 10,37 tỷ USD- tức là cứ sau 5 năm lại tăng gấp đôi- năm 2011 đạt
trên 13,58 tỷ USD, năm 2012 đạt 17,3 tỷ USD. Trong khu vực này có 6 nước đạt
kim ngạch trên 1 tỷ USD, cao nhất là Malaysia, tiếp đến là Campuchia, Thái Lan,
Indonesia, Singapore, Philippines. Theo nhóm hàng xuất khẩu sang khu vực
ASEAN của Việt Nam, có 18 mặt hàng đạt kim ngạch trên 100 triệu USD, trong
đó có 8 mặt hàng đạt trên 500 triệu USD (4 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD là dầu thô;
sắt thép; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; xăng dầu); 4 mặt hàng đạt
trên 500 triệu USD là gạo; điện thoại các loại và linh kiện; phương tiện vận tải và
phụ tùng; cao su). Trong quan hệ buôn bán với khu vực ASEAN, Việt Nam ở vị thế
10
nhập siêu (năm 2000 là 1,83 tỷ USD, năm 2005 là 3,58 tỷ USD, năm 2010 là 6,04
tỷ USD, năm 2011 là 7,33 tỷ USD, năm 2012 là 3,7 tỷ USD). Những nước trong
triệu USD, cao nhất là dệt may, tiếp đến là dầu thô, thuỷ sản, phương tiện vận tải
và phụ tùng. Trong quan hệ buôn bán với Hàn Quốc, Việt Nam ở vị thế nhập siêu
lớn (năm 2000 Việt Nam nhập siêu từ Hàn Quốc 1,4 tỷ USD, năm 2011 nhập siêu
8,46 tỷ USD, năm 2012 nhập siêu 10,1 tỷ USD).
Đánh giá xu hướng xuất khẩu của việt nam: Sử dụng dữ liệu tổng hợp của
Trademap-ITC để đánh giá Top 10 thị trường nhập khẩu cao nhất của Việt Nam
tính từ năm 2006 đến nay là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc,
Malaysia, Thái Lan, Thụy Sỹ, Đài Loan, Pháp. Ngoài
Top 10 thị trường nhập khẩu hàng Việt Nam, các thị
trường khác sau Top 10 tính tổng giá trị cho 5 năm trở
lại đây là Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Braxin, Nam Phi,
Isarel, Cộng hòa Séc, Chi lê, Bồ Đào Nha, Peru và
Costa Rica.
Biểu đồ quan hệ ba biến giữa (1) mức tăng
trưởng xuất khẩu hàng năm của Việt Nam với (2) tăng
trưởng nhập khẩu của các thị trường xác định các vị trí
các nước trên trục tọa độ, kích thước bóng thể hiện thị phần nhập khẩu của đối tác
trong tổng nhập khẩu toàn cầu tính cho tất cả các loại hàng hóa. Hình trên cho
thấy, mức tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam so với mức tăng nhập khẩu chung
của đối tác là cao hơn (bóng màu xanh), trừ các thị trường Indonesia, Singapore và
Úc có mức tăng trưởng nhập khẩu cao hơn. Các thị trường năng động như Trung
Quốc, Hàn Quốc, Hồng kong vừa có thị phần lớn vừa tăng trưởng nhanh và xuất
khẩu của Việt Nam góp phần lớn vào sự tăng trưởng nhanh chóng này.
12
Như vậy, trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2010, mức tăng trưởng xuất
khẩu hàng năm cho các thị trường của Việt Nam nằm trong ngưỡng từ 10-20%,
trong khi các thị trường này đang ổn định và nhiều thị trường có xu hướng tăng
trưởng âm. Điều này ngụ ý rằng cạnh tranh sẽ càng gay gắt hơn và Việt Nam
được lựa chọn là quốc gia cung ứng các sản phẩm hàng hóa nguyên vật liệu thô
với chi phí thấp hoặc là quốc gia được lựa chọn thuê ngoài trong việc gia công
xuất khẩu.
III.2. Cơ cấu ngành.
Xem xét cơ cấu xuất nhập khẩu theo ngành cho thấy khu vực nông lâm
thủy sản luôn xuất siêu, còn khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ luôn nhập
siêu. Để gia tăng hàm lượng trị giá cho các sản phẩm nông lâm thủy sản, vấn đề
khó khăn không phải là công nghệ sản xuất thực phẩm hoặc hàng chế biến, mà
chính là khó khăn về khâu tiếp thị và phát triển thị trường, đặc biệt là xây dựng
và quản trị hệ thống phân phối trực tiếp đến người tiêu dùng. Nông nghiệp đang là
ngành tạo ra ngoại tệ để phục vụ hoạt động của các ngành công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ.
Đối với các ngành hàng dệt may, giày dép, điện tử thì xuất khẩu phụ thuộc
quá nhiều vào lao động việc nhập khẩu các nguyên phụ liệu và các sản phẩm phụ
14
trợ. Nếu tăng xuất khẩu các ngành này, nhập khẩu cũng gia tăng tương ứng. Các
mặt hàng muốn chuyển từ phân đoạn bán sản phẩm mang tính gia công với chi phí
thấp sang thành các sản phẩm khác biệt hóa, có thương hiệu trực tiếp tại thị trường
nhập khẩu sẽ vô cùng khó khăn và đòi hỏi đầu tư lớn mới có thể cạnh tranh được
với các doanh nghiệp toàn cầu. Điều này là không thể đối với quy mô và năng lực
của doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng nguy hiểm hơn nữa khi việc lệ thuộc vào sản
phẩm đầu vào từ nước ngoài kéo theo hệ lụy là Việt Nam không có quyền tác
động đến mức giá và khối lượng đầu vào từ nguồn cung. Trong trường hợp nguồn
cung tăng giá hoặc hạn chế số lượng, sẽ phá vỡ mô hình sản xuất dựa trên lao
động và giá rẻ của Việt Nam hiện nay.
Để thấy được rõ nét các phân tích về chuỗi giá trị toàn cầu này, có lẽ cần
các nghiên cứu riêng cho từng ngành hàng và từng sản phẩm cụ thể. Từ đó, Chính
phủ có chiến lược và lộ trình hành động cho việc khuyến khích thay đổi ngành
kinh tế, chuyển dịch sang các khu vực có giá trị gia tăng cao hơn, được hưởng các
chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển của Chính phủ. Tái cấu trúc ngành kinh
doanh trọng điểm cho nền tảng tăng trưởng là một vấn đề khá phức tạp, liên quan
đến nhiều Bộ/Ngành và đòi hỏi định hướng chiến lược và tầm nhìn dài hạn của
Quá trình hội nhập kinh tế quốc mang =>thương mại quốc tế=> bổ sung những
điều kiện mà lí thuyết H-O chưa đề cập tới như sự tự do lưu chuyển vốn, công
nghệ; quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra sôi động, tất yếu dẫn đến sự
cân bằng về các yếu tố sản xuất đầu vào như vốn hay lao động bản thân các quốc
gia hoàn toàn có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VIỆT NAM CẦN QUAN TÂM.
16
Từ những đặc điểm trên đây của thương mại trong thời đại ngày nay và đặc
biệt là khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức WTO, đặt ra cho nước ta một số
vấn đề phải đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển quan hệ thương mại quốc
tế:
Một là, phải có chính sách thương mại đúng đắn, phù hợp nhằm khai thác
triệt để lợi thế so sánh thông qua quan hệ buôn bán quốc tế để chiếm lĩnh và mở
rộng thị trường khu vực và thị trường thế giới cho mình.
Lợi thế so sánh là những điều kiện và khả năng thuận lợi (hoặc khó khăn)
của một nước này so với nước khác trong việc sản xuất cùng một loại sản phẩm
hàng hóa hay kinh doanh và dịch vụ thương mại trong những thời điểm nhất định,
nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất cho mỗi quốc gia.
Lợi thế so sánh thương mại quốc tế bao gồm ba loại: lợi thế so sánh tự
nhiên vốn có, lợi thế so sánh nảy sinh do sự phát triển của lực lượng sản xuất và
lợi thế so sánh phát sinh do đổi mới chủ trương, chính sách và cơ chế quản lý Nhà
nước. Việc tiến hành trao đổi giữa các quốc gia phải tạo ra lợi ích cho cả hai bên,
nếu một quốc gia có lợi còn quốc gia khác bị thiệt thì họ sẽ từ chối tham gia vào
thương mại quốc tế.
Khi tham gia trao đổi mua bán thương mại quốc tế, các quốc gia phải biết
lựa chọn sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa có lợi thế so sánh tốt nhất và nhập
khẩu những hàng hóa mà mình sản xuất bất lợi nhất. Đây cũng là một bài học mà
chúng ta đã rút ra qua hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế.
Hai là, lựa chọn mặt hàng và thị trường có lợi nhất cho mình để phát triển
và mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.
là phải nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng quản lý Nhà nước đối với thương
mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Nhà nước phải làm tốt chức năng quản
lý kinh tế vĩ mô nói chung và quản lý hoạt động thương mại quốc tế nói riêng.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò là người định hướng
chiến lược, quy định khung pháp luật, đề ra những mục tiêu chung cho sự phát
triển, công bằng, thống nhất điều hoà các quyền lợi chung và cá nhân.
Nhìn chung các nước hiện nay, kể cả các nước đã phát triển và các nước
chậm và đang phát triển đều coi trọng việc kết hợp giữa cơ chế thị trường tự do và
sự điều tiết của Nhà nước trong quản lý kinh tế thị trường để nhằm đạt được hiệu
quả kinh tế cao nhất.
Đẩy mạnh phát triển thương mại và dịch vụ quốc tế là xu hướng tất yếu của
tất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước đã phát triển; do năng lực sản xuất
ngày càng lớn, cho nên luôn luôn ở tình trạng thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm
có lợi nhất. Hoạt động thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và cạnh tranh thị
trường thế giới ngày càng gay gắt là tất yếu. Trong tình hình đó, để có lợi thế
trong quan hệ thương mại thế giới, chen chân được vào thị trường thế giới và bảo
đảm không thất bại thì nước ta cần có những chính sách thương mại quốc tế khôn
ngoan, linh hoạt, mềm dẻo, vừa phù hợp với điều kiện của nước mình, vừa phù
hợp thông lệ quốc tế, vừa đảm bảo luật pháp quốc gia, vừa đảm bảo luật lệ của
"sân chơi" trên thị trường quốc tế.
V. TRẢ LỜI CÂU HỎI THẢO LUẬN.
Câu 1: Giải pháp cho việc thúc đẩy sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ
cao.
Trả lời:
19
Qua bài thuyết trình, trong phạm vi tìm hiểu về lợi thế vốn và lao động, tại
Việt nam đã đang đặt ra bài toán thúc đẩy sản xuất các mặt hàng công nghệ cao.
Đây là xu hướng tất yếu mà chính phủ đang nỗ lực đưa ra các giải pháp thực hiện.
Các giải pháp được đưa ra xoay quanh hai yếu tố đầu vào sản xuất này: vốn, lao
động.
Một điểm quan trọng nữa là hoạt động đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa
học công nghệ cần được chú trọng hơn nữa từ phía chính phủ, doanh nghiệp. Có
như vậy mới tạo được sự chủ động về tiếp thu, làm chủ công nghệ cho đất nước.
Câu 2: Thị trường mới và thị trường truyền thống là gì?
Trả lời:
Thị trường truyền thống là thị trường có quan hệ thương mại lâu đời,
thường có nhiều hoạt động trao đổi thương mại qua lại lẫn nhau. Thị trường mới là
kiểu đặt qua hệ thương mại chưa lâu, thương mại hai chiều vẫn còn nhiều tiềm
năng chưa khai thác hết. Quy mô thị trường được cải thiện trên những khía cạnh là
sự gia tăng về giá trị thương mại, gia tăng về mặt hàng trao đổi thương mại.
21
Câu 3: Trong giả định H-O, các nguồn lực không được tự do di chuyển nhưng
trong điều kiện kinh tế hiện nay thì các yếu tố này tự do di chuyển giữa các nước.
Như vậy Việt Nam áp dụnglý thuyết này như thế nào?
Trả lời:
Câu hỏi này đề cập đến hiện tượng xóa nhòa lợi thế tương đối giữa các
quốc gia. Đây là hiện tượng tất yếu và đang diễn ra nhanh trong bối cảnh toàn cầu
hóa mạnh mẽ hiện nay (ví dụ như lợi thế về nguồn lao động rẻ của Việt Nam đang
giảm dần, lợi thế về vốn của một số nước lớn cũng không còn sâu sắc như trước
nữa). Như vậy, các quốc gia hiện nay phải tự tìm ra và khai thác những lợi thế mới
và cố gắng giữ vững những lợi thế sẵn có (lợi thế về công nghệ, lao động chất
lượng cao,…) và không nên chỉ tập trung vào những lợi thế dễ bị đánh mất như
vốn, lao động giá rẻ. Tuy nhiên, có những nguồn lực không thể di chuyển như đất
đai, những lợi thế riêng có về vị trí địa lý, khí hậu… Đây thực sự là những lợi thế
bền vững mà các quốc gia cần phải khai thác.
Câu 4: Việt Nam nên phân bổ nguồn lực như thế nào khi đang mất dần lợi thế
tương đối về lao động, có cần chuyển sang các mặt hàng sử dụng nhiều vốn
không?
Trả lời:
Xem câu 7!
chính là con đường để đưa nền kinh tế tiến tới mức như kì vọng cũng như để
chúng ta theo kịp thời đại. Vậy nên nâng cao chất lượng lao động mục đích chính
là nâng cao năng suất lao động từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế. Chứ thật sự là
trong vòng 20 năm tới, khi qua giai đoạn dân số vàng thì Việt Nam khó có thể
dùng lao động giá rẻ và dồi dào như hiện tại để mà cạnh tranh hay nâng cao giá trị
xuất khẩu.
Câu 9: Giải thích biểu đồ: khi 2 đường tiếp tuyến tại điểm sản xuất của 2 nước
song song thì đạt hiệu quả max? Khi đó, 2 nước có tiếp tục trao đổi không, trao
đổi như thế nào?
Trả lời:
Độ dốc của 2 đường tiếp tuyến với 2 đường giới hạn khả năng sản xuất của
2 nước thể hiện độ dồi dào tương đối các yếu tố sản xuất của mỗi nước. Khi 2
đường này song song nhau tức là 2 nước không còn dồi dào tương đối yếu tố nào
so với nhau nữa. Lúc này, 2 nước không tiếp tục đẩy mạnh chuyên môn hóa nữa
mà sản xuất tại điểm sản xuất này (điểm sản xuất mà tại đó 2 tiếp tuyến song song
nhau) và tiến hành trao đổi quốc tế với tỷ lệ đúng bằng độ dốc đường tiếp tuyến.
Hai nước sẽ dừng trao đổi nếu một nước đạt đến điểm thỏa dụng cao nhất (tiếp
điểm của đường giới hạn tiêu dùng với đường bàng quan).
24
Câu 10: Giải thích việc tăng khai thác dầu mỏ, khí đốt để vận hành máy móc.
Điều đó có đúng không?
Trả lời:
Dầu mỏ, khí đốt là tài nguyên thiên nhiên sẵn có và là một trong các mặt
hàng xuất khẩu chính của Việt Nam. Hiện nay, nhu cầu dầu mỏ và khí đốt trên thế
giới vẫn rất cao vì chưa có loại năng lượng thay thế thật sự hiệu quả. Do đó, các
công ty khai thác ở Việt Nam đã đẩy mạnh khai thác loại tài nguyên này. Tuy
nhiên, dầu mỏ và khí đốt xuất khẩu của Việt Nam đều ở dạng thô, giá thành thấp,
cực kì lãng phí tiềm năng. Việc Việt Nam nên ưu tiên hiện nay không phải là gia
tăng sản lượng khai thác mà là xây dựng các nhà máy chế biến dầu mỏ, khí đốt để
tăng giá trị thặng dư của chúng trước khi xuất khẩu.