Đánh giá tác động của thu ngân sách nhà nước trong thời gian qua xu hướng thay đổi cơ chế thu ngân sách nhà nước khi việt nam gia nhập WTO - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH DOANH THƯƠNG MẠI

BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: Đánh giá tác động của thu ngân sách Nhà nước trong
thời gian qua. Xu hướng thay đổi cơ chế thu ngân sách Nhà
nước khi Việt Nam gia nhập WTO
Nhóm : 02
Lớp :
Giảng viên :

Hà Nội – 2014
1
DANH SÁCH NHÓM 2
STT Họ và tên Mã SV Lớp HC Ghi chú
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Ký Tên
Nhóm trưởng
2
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN
STT Họ và tên Nhiệm vụ Điểm Kí tên

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Thời gian: Từ 7h30 đến 08h30 ngày 8 tháng 4 năm 2013
Địa điểm: Sân thư viện trường Đại học Thương Mại
Thành viên: tham gia đầy đủ
I. Nội dung
+ Nhóm tổng kết hoàn thành bản word
+ Hoàn thiện, chỉnh sửa lần cuối bản slide
+ Đánh giá tinh thần làm việc các thành viên
II. Đánh giá
Các thành viên tham gia đóng góp ý kiến tích cực, sôi nổi, có tinh thần trách nhiệm.
Buổi thảo luận đạt được kết quả tốt.
Nhóm trưởng Thư ký
5
DÀN Ý CHI TIẾT
6
I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm, đặc trưng của thu NSNN
1.1. Khái niệm thu NSNN
Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các
khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên
quỹ tiền tệ của mình. Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng
quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành
quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.
Qua sự hình thành của các khoản thu NSNN, có thể hiểu “thu NSNN là
việc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để huy động, tập trung 1 phần
nguồn tài chính quốc gia để hình thành quỹ tiền tệ cần thiết nhằm đáp ứng các
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”.
1.2. Đặc trưng của thu NSNN
Thu NSNN có 2 đặc trưng cơ bản:

thuế thừa kế, thuế xuất nhập khẩu, thuế khoán
- Thu phí và lệ phí: Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng
mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công
dân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. So
với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều. Phí gắn liền với với vấn
đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công
cộng hữu hình. Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung
cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân. Các khoản
thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước: thu từ lợi tức từ hoạt động góp vốn
liên doanh, cổ phần của Nhà nước, thu hồi tiền cho vay (cả gốc và lãi) của Nhà
nước, thu hồi vốn đầu tư của Nhà nước tại các cơ sở kinh thế - bán hoặc đấu
giá doanh nghiệp Nhà nước.
- Thu từ hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ các
hoạt động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước.Thu từ bán hoặc cho
thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước: Khoản thu này mang tính chất
8
thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có tính chất phân
phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng
nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Các nguồn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản,
tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
- Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản: Các khoản thu này cũng là một
phần thu quan trọng của thu ngân sách nhà nước và được pháp luật quy định.
Thu từ hoạt động hợp tác lao động với nước ngoài
2.2. Căn cứ vào tính chất phát sinh của các khoản thu
- Thu thường xuyên: là các khoản thu phát sinh thường xuyên cùng với
nhịp độ hoạt động của nền kinh tế, có tính chất bắt buộc như thuế, phí, lệ phí
với nhiều hình thức cụ thể do luật định.
- Thu không thường xuyên: là những khoản thu chỉ phát sinh vào thời
điểm, vào những khoảng thời gian nhất định, không phát sinh liên tục như thu
từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán

Thứ tư, là mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước. Yếu tố này lại
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như quy mô tổ chức của bộ máy Nhà nước và
hiệu quả hoạt động của bộ máy đó. Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt
động của Nhà nước không tăng lên, việc tăng chi của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất
thu của NSNN cũng phải tăng lên mới bù đắp được.
Thứ năm, là sự ảnh hưởng của tổ chức bộ máy thu nộp. Nó ảnh hưởng tới
chi phí và hiệu quả hoạt động của thu NSNN. Nếu hệ thống tổ chức cơ quan thuế,
hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do
trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa
mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN.
10
4. Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu NSNN
4.1. Các nguyên tắc định hướng
Gồm 2 nguyên tắc:
- Nguyên tắc thu theo lợi ích: Việc thu NSNN phải căn cứ vào lợi ích mà
người đóng góp có thể nhận được từ những hàng hóa và dịch vụ công cộng mà
Nhà nước cung cấp.
- Nguyên tắc thu theo khả năng: Theo nguyên tắc này việc thiết lập các
mức thu phải dựa nào khả năng thu nhập của người nộp. Người có thu nhập cao
thì phải đóng thuế cao và ngược lại.
Tuy nhiên, 2 nguyên tắc trên đều là nguyên tắc lý tưởng, bởi lẽ việc thi
hành đầu gặp phải các trở ngại. Cho nên trong thực tế, người ta xem 2 nguyên
tắc trên như là những định hướng cho việc thiết lập hệ thống thu NSNN.
4.2. Các nguyên tắc thực hiện thực tế
- Nguyên tắc ổn định và lâu dài: Trong những điều kiện hoạt động nền
kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được
gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế, đồng thời tỷ lệ động viên của NSNN phải
thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trương, nuôi dưỡng và phát triển
nguồn thu. Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc kế
hoạch hóa ngân sách nhà nước và tạo điều kiện để kích thích người nộp thuế

động viên của NSNN. Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào
NSNN mà thoát ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn
đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế.
2008 2009 2010 2011 2012
Mức tăng trưởng
GDP (%)
6.23 5.3 6.78 5.89 5.03
Quyết toán thu
NSNN (tỉ đồng)
430549 454786 588428 704276 741500
Bảng mức tăng trưởng GDP và quyết toán thu NSNN của Việt Nam
giai đoạn 2008 2012
12
Từ bảng trên ta có thể thấy mức tăng trưởng GDP của Việt Nam những
năm gần đây biến động nhưng không có biến đổi quá lớn qua các năm. Có thể
nói GDP đã phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
2008-2012 đầy biến động. Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển, nhu cầu chi
tiêu rất lớn do vậy khi GDP không có biến động lớn thì NSNN sẽ tăng liên tục
kể cả khi GDP suy giảm so với năm trước liền kề nhằm kích thích phát triển
kinh tế.
1.2. Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế là chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các doanh
nghiệp nói riêng. Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả năng
tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó đưa tới
khả năng huy động cho NSNN. Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao
tỷ suất thu NSNN. Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cần căn cứ vào
tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động của
Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các hoạt động
kinh tế. Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn làm cho

quân ảnh hưởng tích cực tới nguồn thu NSNN.
1.3. Tiềm năng tài nguyên
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào,
phong phú do vậy việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu
to lớn cho NSNN. Theo thống kê hiện Việt Nam đang có hơn 5,000 mỏ đang
khai thác với khoảng 60 loại khoáng sản thuộc nhiều nhóm khác nhau: Nhóm
khoáng sản nhiên liệu như dầu khí, than, nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt
như sắt, chromite, titan, manganese, nhóm khoáng sản kim loại màu như
bauxite, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimony, molypden, nhóm khoáng sản quý như
vàng, đá quý, nhóm khoáng sản hóa chất công nghiệp như apatite, cao lanh, cát
thủy tinh, nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng như đá vôi xi măng, đá xây
dựng, đá ốp lát… đóng góp khoảng 11% GDP và 25% thu NSNN. Trong đó
không thể không nhắc tới vai trò của dầu mỏ trong tạo nguồn thu cho NSNN.
2008 2009 2010 2011
Thu NSNN (tỉ đồng)
430549 454786 588428 704276
14
Thu từ dâu thô 89603 61137 69179 110205
Cơ cấu % 20.81 13.44 11.76 15.65
Bảng giá trị đóng góp của nguồn thu dầu thô vào NSNN giai đoạn
2008 - 2011
1.4. Mức độ trang trải các khoản phí
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, đi lên từ nên kinh tế
nông nghiệp nên việc trang trải các khoản chi phí vào đầu tư các dự án có vai
trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội là thiết yếu và phải chi liên
tục qua các năm. Điều này lý giải tại sao NSNN luôn ở trong tình trạng bội chi
và lý giải một phần sự gia tăng nguồn thu NSNN qua các năm để bù đắp lượng
thiếu hụt trong NSNN.
2008 2009 2010 2011
Chi NSNN (tỉ đồng)

nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là
yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu
chi tiêu của NSNN.
Tuy nhiên thực tế ở Việt Nam hiện nay cơ chế tài chính còn rườm rà,
phức tạp. Luật quản lý Thuế còn nhiều điểm bất cập, thủ tục rốm rắm, gây khó
khăn cho cơ quan thuế cũng như các tổ chức cá nhân nộp thuế; chế tài xử phạt
chưa đủ mạnh, đủ nghiêm tạo kẽ hở rất lớn để tình trạng kê khai sai, quyết toán
sai, thành lập “DN ma” để trốn thuế, lậu thuế, chiếm dụng tiền thuế; thuế hội
nhập chưa khắc phục được tình trạng chuyển giá trốn thuế của các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài; chậm trễ trong giải ngân của các dự án, công trình…
2. Tác động của thu NSNN
Mặc dù là nước có GDP tính theo đầu người thấp nhất nhưng Việt Nam
có tỷ lệ thu ngân sách/GDP cao nhất và tỷ lệ bội chi ngân sách cao nhất so với
các nước trong khu vực. Nếu cộng khoản thu với khoản bội chi ngân sách thì tỷ
lệ chi ngân sách của Việt Nam lên đến 32,6% GDP, hơn gần gấp đôi
Philippines là nước có GDP/đầu người cao hơn hẳn nước ta.
16
Bảng các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam và một số nước cùng khu vực
Tác động của thu NSNN cụ thể như sau:
2.1. Mặt tiêu cực
Thu ngân sách quá cao gây sức ép nặng nề lên khu vực doanh nghiệp,
nhất là khối doanh nghiệp dân doanh. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khoản
thu này chiếm đến 34,5% thu nhập của doanh nghiệp. Thời gian nộp thuế của
các doanh nghiệp Việt Nam lên đến 872 giờ/năm, xếp hạng 138/185 nền kinh
tế (theo WB, 2013), làm cho chi phí về thời gian của doanh nghiệp cũng rất
cao.
Tình hình kinh tế kém phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp càng cao
càng ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần và công cuộc tái đầu tư vốn cho chu kỳ sản
xuất kinh doanh tiếp theo. Do đó, doanh nghiệp sẽ phải áp dụng mọi biện pháp,
kể cả cắt giảm nhân sự để tiết kiệm tối đa chi phí. Từ đó, sẽ dẫn tới tình trạng

Vốn ngân sách nhà nước luôn chiếm 75% tổng đầu tư cơ sở hạ tầng, bao
gồm đầu tư vào hệ thống giao thông đường bộ quốc gia; hệ thống cảng biển,
cảng hàng không quốc gia; hệ thống giao thông và viễn thông nông thôn; một
số cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ quan trọng của quốc gia;
18
duy trì và phát triển hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh từ Trung ương đến địa
phương, bước đầu đáp ứng được một phần nhu cầu cơ bản của xã hội.
Các đường quốc lộ liện tỉnh được xây dựng và đi vào hoạt động hiệu quả
như dự án Cầu Giẽ – Ninh Bình – đường cao tốc đầu tiên của khu vực phía Bắc
sau nhiều năm triển khai với không ít khó khăn về vốn cũng được đưa vào khai
thác; nhiều tuyến cao tốc lớn sắp được hoàn thành và đưa vào khai thác như:
Nội Bài – Lào Cai, Hà Nội – Thái Nguyên, TP.HCM – Long Thành – Dầu
Giây, tăng cường qui hoạch các trục đường chính ở các thành phố lớn nhằm
giảm sự ùn tắt giao thông trong các giờ cao điểm…Những tuyến đường này có
ý nghĩa kinh tế rất lớn, đó là cầu nối giúp việc giao thương giữa các tỉnh thuận
tiện hơn, giúp cho các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng địa bàn đầu tư, sản
xuất. Đồng thời cũng không thể không nhắc đến ý nghĩa xã hội của nó: việc đi
lại, tham gia giao thông được thuận tiện hơn rất nhiều, vấn đề quản lý giao
thông của nhà nước cũng dễ dàng hơn.
Ngoài ra, NSNN còn chú trọng đến công tác xây dựng hệ thống giao
thông liên xã, liên huyện ở các cùng nông thôn. Thực hiện chính sách bê tông
hóa đường xá ở nông thôn giúp cho việc đi lại, sản xuất, buôn bán của bà con
thuận tiện hơn rất nhiều. Cho đến ngày 01/7/2011 cả nước đã có 8940 xã,
chiếm 98, % tổng số xã cả nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2, %
so với năm 2006), trong đó đi lại được 4 mùa là 8803 xã, chiếm 97, % (tăng 3,
% so với năm 2006); xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa, bê
tông hóa là 7917 xã chiếm 87, % (tăng 17, % so với năm 2006). Một điều đáng
chú ý là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã ở các vùng đồng bằng được
chú trọng mà đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính
quyền hết sức quan tâm đầu tư với số liệu rất ấn tượng đó là có tới 89, % số

người nghèo phát triển kinh tế; đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa VII chỉ
rõ: "Trợ giúp người nghèo chủ yếu bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách
làm ăn. Hình thành quỹ xóa đói, giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở dân
20
giúp dân, Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong
nước và quốc tế. Phấn đấu tăng số hộ giàu, đi đôi với xóa đói, giảm nghèo".
Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng tiếp tục khẳng định: "Nhà nước chăm lo, phục
vụ nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân". Lấy ngày
17-10 hằng năm là "Ngày vì người nghèo" (cùng với ngày "Thế giới chống đói
nghèo" do Liên hợp quốc khởi xướng).
Từ năm 1995 đến nay, tất cả các tỉnh, thành phố đều thành lập các ban
chỉ đạo, triển khai hàng chục chương trình và chính sách đầu tư, cho vay phát
triển hạ tầng, việc làm, hỗ trợ hộ nghèo, hộ đồng bào các dân tộc thiểu số phát
triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích các hoạt động cộng đồng, tương thân,
tương ái, từ thiện, đền ơn đáp nghĩa.
Tháng 5-2002, Chính phủ chính thức triển khai "Chiến lược toàn diện về
tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo" phù hợp với mục tiêu phát triển Thiên
niên kỷ (MDG) của LHQ. Từ năm 2003 tới năm 2012, ngân sách Nhà nước
chiếm hơn 51% tổng chi cho BÐASXH (bảo đảm an sinh xã hội), bình quân
khoảng 6,6% GDP/năm. Riêng giai đoạn 2006 - 2012, Chính phủ đã đầu tư hơn
700 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ cho gần 3.000 dự án giao thông, thủy
lợi, y tế, giáo dục nhằm tăng cường hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo; trong đó, riêng
các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được ngân sách Nhà nước
đầu tư hơn 54.770 tỷ đồng. Hằng năm, Nhà nước chi trợ cấp xã hội thường
xuyên tới khoảng 2% dân số, trợ cấp đột xuất khoảng 0,5% - 0,6% GDP cho
khắc phục hậu quả các vùng bị thiên tai.
Giai đoạn 2010 - 2013, thực hiện Nghị định 41/2010/NÐ-CP về chính
sách đẩy mạnh tín dụng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tổng dư nợ tín
dụng cho nông nghiệp đã tăng 2,1 lần (từ 292 nghìn tỷ đồng, lên gần 622 nghìn

có thể thấy có sự biến động khá lớn. Năm 2003 có CPI thấp nhất, với mức
3,01%. Trong năm 2008 và 2011, chỉ số giá CPI đứng ở mức cao, 18-20%. Tuy
nhiên, năm 2012, chỉ số này là 6,81% thấp hơn so với mục tiêu của Quốc hội
22
và Chính phủ là 8%. Chỉ số CPI giảm thấp so với năm 2011 chịu tác động của
nhiều yếu tố như lượng hàng hóa tồn kho lớn, sức mua giảm bởi hàng chục
ngàn doanh nghiệp phải đóng cửa và thu hẹp sản xuất, kinh doanh, mặc dù số
doanh nghiệp mới thành lập cũng có con số gần tương ứng. Nếu quan sát sự
thay đổi của CPI các quý của năm 2012 có thể thấy, chỉ số này có xu hướng
tăng lên từ 4,08% trong Quý II lên 5,05% trong quý III và 5,44% trong Quý
IV. Chỉ số CPI có xu hướng giảm trong Quý II/2012 làm xuất hiện nhận định
nền kinh tế rơi vào giảm phát, song thực tế cho thấy không có tình trạng giảm
phát xảy ra ở Việt Nam trong năm 2012.
III. XU HƯỚNG THAY ĐỔI CƠ CẤU THU NSNN KHI VIỆT NAM GIA
NHẬP WTO
1. Khái quát về tiến trình hội nhập WTO của Việt Nam
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập ngày 1/1/1995, là một tổ chức
quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định thương
mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại. Hoạt động của
WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự do
thương mại. Đến nay tổng số thành viên WTO đã lên 160. Đây là tổ chức Thương
mại lớn nhất toàn cầu, chiếm hơn 90% thương mại thế giới.
Nhận rõ sự cần thiết tham gia tổ chức WTO, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX đã khẳng định lại " Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa
phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với
điều kiện của nước ta và bảo đảm thực hiện những cam kết trong quan hệ song
phương và đa phương tiến tới gia nhập WTO ".
Tiến trình hội nhấp WTO của Việt Nam:
- 1/1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO.
- 8/1996: Việt Nam nộp “Bị vong lục về chính sách thương mại”

24
2.1. Thu NSNN trước khi VN gia nhập WTO
Theo Bộ Tài chính, trong tổng thu ngân sách năm 2006, nguồn thu trong
nước ước đạt 132.000 tỷ đồng, thu từ dầu khí khoảng 63.400 tỷ đồng, từ thuế
XNK 40.000 tỷ đồng và viện trợ không hoàn lại khoảng 2.500 tỷ đồng. Ngoài
ra, khoảng 8.000 tỷ đồng trong ngân sách nhà nước năm 2005 cũng sẽ được
chuyển sang năm 2006. Trong số nguồn thu ngân sách trong nước (không kể
thu từ dầu thô) thì thu từ kinh tế quốc doanh đạt 42.243 tỷ đồng, doanh nghiệp
FDI là 27.807 tỷ đồng, còn lại là thu từ các loại thuế Trong khi đó, Bộ Tài
chính ước tính tổng chi ngân sách năm 2006 là khoảng 294.400 tỷ đồng (tăng
28% so với dự toán năm 2005), trong đó, khoảng 81.580 tỷ đồng sẽ được đầu
tư phát triển kinh tế, 131.470 tỷ đồng cho các hoạt động quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính và các vấn đề kinh tế xã hội khác, 29.197 tỷ đồng cho chi
cải cách tiền lương và khoảng 40.800 tỷ đồng để trả nợ. Khoảng 11.350 tỷ
đồng sẽ được bổ xung vào quỹ dự phòng, dự trữ tài chính. Dự toán ngân sách
2006 cũng cho thấy, bội chi ngân sách của Việt Nam trong năm 2006 vào
khoảng 48.500 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2005, tuy nhiên vẫn ở mức 5%
GDP của năm 2006. Để có thể khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách trong
năm 2005, Bộ Tài chính sẽ huy động khoảng 36.000 tỷ đồng từ các khoản vay
trong nước và 12.500 tỷ đồng từ các khoản tín dụng quốc tế.Bộ Tài chính cũng
ước tính thu ngân sách đạt mức là 1.600.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2006-
2010, vẫn chủ yếu từ xuất khẩu dầu thô, thuế XNK, nộp ngân sách của các
doanh nghiệp FDI và danh nghiệp trong nước. Trong khi đó, chi ngân sách của
Việt Nam trong giai đoạn này là 1.900.000 tỷ đồng (thâm hụt ngân sách là
300.000 tỷ đồng). Năm 2005, dự toán thu ngân sách là 183.000 tỷ đồng, với
tổng chi là 229.750 tỷ đồng (thâm hụt ngân sách là 40.750 tỷ đồng). Dự toán
ngân sách nhà nước năm 2006với tổng các nguồn thu ước đạt 237.900 tỷ đồng,
tăng 13% so với thực hiện năm 2005.
2.2. Thay đổi cơ cấu thu NSNN sau khi gia nhập WTO
a. Tác động của những cam kết gia nhập WTO ảnh hưởng tới thu NSNN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status