TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
***
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG LIÊN
DOANH TẠI VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
3.5. Quản lý ngân quỹ 13
3.6. Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ 14
3.7. Bảo lãnh 14
3.8. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn 14
3.9. Cung cấp các dịch vụ uỷ thác và t- vấn 15
3.10. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu t- chứng khoán 15
3.11. Cung cấp các dịch vụ đại lý 15 II. Vai trò của ngân hàng liên doanh đối với sự phát triển kinh tế quốc
dân. 16
1. Thúc đẩy nền kinh tế và giao l-u hợp tác 17
2. Tiếp cận và học tập kinh nghiệm quản lý, công nghệ ngân hàng
hiện đại. 18
3. Tạo môi tr-ờng cạnh tranh và phát triển hệ thống ngân hàng
th-ơng mại trong n-ớc. 19
III. Kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng liên doanh một số n-ớc
trên thế giới. 21
1. Indonesia 20
2. Trung Quốc 23
2. Thực trạng hoạt động của các ngân hàng liên doanh tại Việt
Nam. 49
2.1. Những đóng góp của Ngân hàng liên doanh 50
2.2. Những tồn tại, hạn chế của ngân hàng liên doanh tại Việt Nam 58
2.3. Các nguyên nhân dẫn đến các tồn tại, hạn chế của ngân hàng liên
doanh tại Việt Nam 62
Ch-ơng III: Những giải pháp thúc đẩy hoạt động của các ngân
hàng liên doanh tại Việt Nam trong thời gian tới. 64
I. Định h-ớng hoạt động của các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam. 64
1. Xu thế hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng. 64
2. Định h-ớng phát triển của Ngân Hàng Nhà N-ớc đối với hoạt động
của các Ngân hàng liên doanh cũng nh- các Chi nhánh ngân hàng
n-ớc ngoài trong thời gian tới. 65
II. Các giải pháp thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng liên doanh tại
Việt Nam. 68
1. Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh. 69
1.1. Hoàn thiện về môi tr-ờng pháp lý cho hoạt động của các NHLD 69 1.2. Quản lý vốn của Ngân hàng liên doanh 71
1.3. Cải thiện môi tr-ờng công nghệ ngân hàng 73
1.4. Mở rộng hoạt động dịch vụ ngân hàng 75
1.5. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cán bộ. 76
2. Giải pháp về quản lý và giám sát các ngân hàng liên doanh. 79
2.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý về mạng l-ới của các ngân hàng liên
doanh. 79
2.2. Hoàn thiện cơ chế quản lý và thanh tra, giám sát các ngân hàng
liên doanh. 81
III. Một số kiến nghị 83
1. Đối với Ngân hàng Nhà n-ớc 83
thuật nghiệp vụ đáp ứng các đòi hỏi về tiêu chuẩn dịch vụ ngân hàng là việc
cho phép các ngân hàng thương mại nước ngoài mở chi nhánh tại Việt Nam
và lập ngân hàng liên doanh với các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Với nỗ lực không ngừng của Chính phủ Việt Nam, đến nay, Việt Nam
đã là thành viên của nhiều tổ chức mang tính khu vực cũng như toàn cầu, có
quan hệ thương mại song phương với nhiều quốc gia. Các quy định pháp luật
quốc tế có liên quan đến dịch vụ ngân hàng được thể hiện thông qua các hiệp
định, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể là các Hiệp
định quan trọng như Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ, Hiệp định chung
về Thương mại Dịch vụ của WTO (GATS) và Hiệp định Thương mại Việt
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
2
Nam – Hoa Kỳ (BTA). Đặc biệt là khi chúng ta đã ký kết Hiệp định thương
mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) trong đó cho phép thành lập và hoạt động tại
Việt Nam của chi nhánh các ngân hàng và ngân hàng con của Hoa Kỳ, ngân
hàng liên doanh Việt Nam – Hoa Kỳ theo lộ trình bãi bỏ các giới hạn về đối
xử quốc gia. Thêm vào đó, thời điểm để gia nhập WTO của Việt Nam đã
đến gần, thời hạn để xoá bỏ các hạn chế của BTA đã gần hết, nước ta sẽ tiếp
tục thị trường mở cửa thị trường dịch vụ trong đó có dịch vụ tài chính ngân
hàng.
Thực tế cho thấy sự có mặt của các ngân hàng liên doanh giữa Việt
Nam và nước ngoài tại Việt Nam đã từng bước tạo ra các nhân tố mới kích
thích sự phát triển kinh tế nói chung và sự đổi mới hệ thống ngân hàng Việt
Nam nói riêng. Tuy nhiên sự có mặt đó cũng đã tạo ra những thách thức mới
đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam và với Ngân hàng Nhà nước với
vai trò quản lý theo dõi hoạt động của các ngân hàng và tổ chức tín dụng
hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Chính vì thế việc tìm hiểu về mô hình tổ
5. Bố cục của Khoá luận tốt nghiệp:
Ngoài phần Lời mở đầu và phần Kết luận, Khoá luận tốt nghiệp được
chia thành ba chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về ngân hàng liên doanh.
Chương II: Thực trạng hoạt động của các ngân hàng liên doanh tại
Việt Nam.
Chương III: Những giải pháp thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng
liên doanh tại Việt Nam trong thời gian tới. Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
4
CHƢƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
Trong những năm 1990, cùng với chính sách mở cửa của nhà nước, sự
ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng,
Ngân hàng liên doanh – một tổ chức tín dụng mới trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam đã ra đời và đi vào hoạt động. Ngân hàng liên doanh Indovina là
ngân hàng đầu tiên ra đời vào năm 1990, tiếp sau đó là hai ngân hàng Vid
Public và First Vina, rồi đến Vinasiam. Cũng như trong một số các lĩnh vực
khác, Ngân hàng liên doanh là kết quả sự đòi hỏi của nhu cầu phát triển nền
kinh tế trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và phát triển theo cơ chế thị
trường, kết hợp với xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế trên toàn thế giới.
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
1. Khái niệm Ngân hàng liên doanh
Liên doanh được hiểu theo nghĩa chung nhất là sự liên hệ để cùng kinh
ngân hàng thành một ngân hàng lớn. Xuất phát từ mục tiêu của liên doanh
ngân hàng là nhằm tạo ra một ngân hàng có sức mạnh tổng hợp, khắc phục
được chỗ yếu của ngân hàng trong nước, phát huy thế mạnh của ngân hàng
nước ngoài vào phát triển kinh tế. Theo Luật các Tổ chức tín dụng 1997 ta có
định nghĩa về Ngân hàng liên doanh là Ngân hàng được thành lập bằng vốn
góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và bên
nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng nước
ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh để tận dụng các ưu thế của nhau. Xét
trên góc độ kinh tế, ngân hàng liên doanh là một pháp nhân độc lập, được
thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có trụ sở chính tại
Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam và trong đó có sự hợp tác chặt
chẽ giữa các bên nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân
hàng.
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
6
Ngân hàng liên doanh là loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, do vậy, pháp luật áp dụng đối với tổ chức và hoạt động
của ngân hàng liên doanh là pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và
các quy định pháp luật ngân hàng. Trong đó, các quy định Pháp luật Ngân
hàng đóng vai trò là pháp luật chuyên ngành và được ưu tiên áp dụng. Tuy
nhiên, khác với các doanh nghiệp liên doanh kinh doanh trong các lĩnh vực
khác, Ngân hàng liên doanh kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt – tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng – cho nên việc cấp phép thành lập loại hình ngân hàng
này được giao cho Ngân hàng Nhà nước, chứ không phải Bộ Kế Hoạch và
Đầu Tư. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan duy nhất có thẩm quyền
cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho ngân hàng liên doanh tại Việt
Nam, quy định này không chỉ nhằm mục đích đơn giản hoá thủ tục cấp phép
mạnh tài chính của các ngân hàng thương mại, đóng vai trò quan trọng vừa
để một ngân hàng hoạt động, vừa đảm bảo khả năng tồn tại của ngân hàng
đó, quyết định quy mô hoạt động, tầm vươn và độ an toàn cho các hoạt động
kinh doanh của mỗi ngân hàng trên thị trường. Bên cạnh đó, vốn còn là một
trong những thước đo lòng tin của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Do vậy vốn tối thiểu luôn được giới quản trị, điều hành ngân hàng, khách
hàng và các cơ quan chức năng kiểm soát ngân hàng quan tâm. Rất nhiều các
chỉ tiêu hoạt động của ngân hàng bị ràng buộc với vốn như mức huy động
vốn tối đa, mức cho vay tối đa cho một khách hàng… Quy định về mức vốn
pháp định (mức vốn tối thiểu nhất định) của mỗi bên trong ngân hàng liên
doanh tuỳ thuộc vào quy định của từng nước trong từng giai đoạn cụ thể.
Thông thường pháp luật giới hạn tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài
trong các ngân hàng liên doanh. Theo pháp luật Việt Nam, đối với ngân hàng
liên doanh với đặc thù thực hiện nghiệp vụ ngân hàng thương mại, phần vốn
góp của bên nước ngoài không ít hơn 30% và không quá 50% vốn điều lệ
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
8
của ngân hàng liên doanh
1
. Ý đồ thành lập ngân hàng liên doanh cũng đồng
thời gắn chặt vào nguyện vọng và lợi ích của Ngân hàng nên mỗi bên tham
gia liên doanh đều mong muốn chiếm ưu thế tối đa trong phạm vi vốn góp
của mình. Quy định góp vốn luôn đi liền với quy định chuyển nhượng vốn,
điều này là yếu tố quan trọng tạo ra sự an tâm cho các bên tham gia liên
doanh trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng.
Ngân hàng liên doanh trong quá trình hoạt động được phép tăng vốn
hoạt động của mình. Việc góp vốn thành lập liên doanh có thể được góp một
Nam. Hoặc trong trường hợp sau khi đã các ngân hàng liên doanh thanh lý,
kết thúc hoạt động tại Việt Nam thì bên nước ngoài cũng được phép chuyển
ra nước ngoài số tài sản còn lại của mình.
2.3. Tổ chức và quản lý của Ngân hàng liên doanh như một doanh
nghiệp độc lập.
Ngân hàng liên doanh với đặc thù là sự hợp tác chặt chẽ trong một pháp
nhân chung, tuân thủ hoàn toàn pháp luật của nước sở tại và bình đẳng với
các tổ chức tín dụng khác. Ngân hàng liên doanh hoạt động theo nguyên tắc
hạch toán kinh tế độc lập, phù hợp với hợp đồng liên doanh, điều lệ doanh
nghiệp liên doanh và pháp luật Việt Nam. Ngân hàng liên doanh là một pháp
nhân độc lập chịu sự quản lý và giám sát của Ngân hàng nhà nước và hoàn
toàn độc lập với các bên tham gia liên doanh lập ra nó.
Ngân hàng liên doanh là một pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại
Việt Nam và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Cơ cấu tổ chức của Ngân
hàng liên doanh cũng có những điểm chung với các ngân hàng thương mại
Việt Nam bao gồm Hội sở chính, các đơn vị trực thuộc (Sở giao dịch, chi
nhánh). Do sự khác nhau về qui mô hoạt động của từng loại hình tổ chức tín
dụng nên cơ cấu tổ chức của Ngân hàng liên doanh còn chưa có các công ty
trực thuộc, hay là văn phòng đại diện. Thời hạn hoạt động của Ngân hàng
liên doanh Việt Nam được quy định cụ thể trong Giấy phép, được tính từ
ngày ký Giấy phép. Nhưng thời hạn hoạt động tối đa là không quá 99 năm
2
2
Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2006
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp.
rất nhiều vào mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị với Ban giám đốc điều
hành. Hội đồng quản trị phải tạo điều kiện và tôn trọng sự điều hành kinh 3
Điều 23 Nghị định 13/1999/NĐ - CP
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
11
doanh của Ban tổng giám đốc, có nhiệm vụ giám sát kiểm tra nhưng không
được can thiệp vào phạm vi chức năng của Ban tổng giám đốc. Ngược lại
Ban tổng giám đốc điều hành các công việc hàng ngày của ngân hàng, thực
hiện các quyết định của Hội đồng quản trị một cách có trách nhiệm nhất.
3. Nội dung hoạt động của ngân hàng liên doanh
Là một ngân hàng thương mại, nên ngân hàng liên doanh cũng cung cấp
các dịch vụ ngân hàng cho công chúng và doanh nghiệp. Thành công của
ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội
có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả. Các ngân hàng
liên doanh cung cấp một danh mục dịch vụ ngân hàng đa dạng.
3.1. Mua bán ngoại tệ.
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua bán) ngoại tệ. Ngân hàng liên doanh sẽ đứng ra mua bán một loại tiền
này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Với lợi thế là có bên nước
ngoài tham gia trong liên doanh nên việc mua bán ngoại tệ thực sự là một
hoạt động thuận lợi của ngân hàng liên doanh. Dịch vụ này cũng chiếm một
phần quan trọng trong hoạt động của ngân hàng liên doanh.
3.2. Nhận tiền gửi.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó không chỉ các ngân
thường những khoản vay này đều được ngân hàng tính lãi suất để thu lợi
nhuận.
3.3.3. Cho vay tiêu dùng
Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh cho vay đã
buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
13
tiềm năng. Trước đây hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với
cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro
vỡ nợ tương đối cao. Ngày nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong
những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế
phát triển. Các ngân hàng liên doanh hiện nay cũng đa dạng hoá các sản
phẩm cho vay tiêu dùng để cạnh tranh trực tiếp đối với các ngân hàng tại
nước sở tại cũng như chi nhánh các ngân hàng nước ngoài. Các sản phẩm
thường thấy như cho vay mua nhà, cho vay mua xe, hỗ trợ việc học tập…
3.3.4. Tài trợ cho dự án
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng liên
doanh trở nên hết sức năng động trong việc tài trợ cho xây dựng các dự án
nhà máy hoặc các dự án cơ sở hạ tầng. Mặc dù rủi ro trong loại hình tín dụng
này nói chung còn là cao do thời gian thực hiện kéo dài song lãi lại lớn.
Ngân hàng liên doanh lại có lợi thế là sự hợp tác của hai ngân hàng của hai
nước khác nhau nên càng có điều kiện để là ngân hàng tài trợ cho các dự án
mà nước này đầu tư cho nước kia.
3.4. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng
không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của
cấp bách nên Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay
của ngân hàng. Các ngân hàng liên doanh được cấp phép thành lập với điều
kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của của
Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Đây cũng là cách để Chính phủ các
nước kiểm soát và quản lý nhóm các ngân hàng liên doanh. Các ngân hàng
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
15
liên doanh phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng
lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được, hoặc phải cho vay với các điều
kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
3.7. Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng lơn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín
trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo
lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho
khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng
khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…
3.8. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn,
nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê các thiết bị. Cuối hợp đồng
thuê, khách hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất
nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê
các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân
hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường phải
đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Do
đó, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay, và được
xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
hàng liên doanh, tuy nhiên tại mỗi nước để quản lý nhóm các ngân hàng này
thì lại có các giới hạn phạm vi hoạt động khác nhau.
II. VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ QUỐC DÂN.
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
17
Ngân hàng liên doanh thường là các ngân hàng thương mại hoạt động
kinh doanh trên nhiều lĩnh vực. Cũng như các tổ chức kinh tế khác, Ngân
hàng liên doanh cũng có những vai trò nhất định đối với công cuộc phát triển
kinh tế của một nước, nhất là các nước đang phát triển. Chủ yếu liên doanh
với nước ngoài nhằm mục đích tạo điều kiền để các ngân hàng trong nước có
thể học học kinh nghiệm quản lý tiên tiến và hiện đại, vận hành các nghiệp
vụ tiếp cận công nghệ ngân hàng, đào tạo cán bộ ngân hàng Việt Nam, thúc
đẩy cạnh tranh phát triển hệ thống ngân hàng trong nước và tạo điều kiện
thúc đẩy nền kinh tế thông qua giao lưu hợp tác quốc tế.
1. Thúc đẩy nền kinh tế và giao lƣu hợp tác
Trên thế giới ở các nước phát triển theo chiến lược mở cửa nền kinh tế,
có chính sách ưu tiên cho thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì điều đầu tiên và
quan trọng nhất là phải có các ngân hàng lớn, uy tín. Đặc biệt hơn, đối với
các nước đang phát triển, trong giai đoạn phát triển nền kinh tế của mình
thường có sự xuất hiện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân
hàng liên doanh với nước ngoài. Sự xuất hiện của các tổ chức tín dụng này
có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc thúc đẩy nền kinh tế và tăng cường
giao lưu hợp tác kinh tế quốc tế.
Ngân hàng liên doanh ở các nước đang phát triển đã thực hiện chức
năng cầu nối giữa các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước,
nhất là giữa hai nước của hai bên trong liên doanh. Thông qua đó thiết lập
trình độ quản lý kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại trong
nước nói chung còn rất hạn chế so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế hiện
đại và so với các ngân hàng thương mại nước ngoài. Chính vì có sự tham gia
của các ngân hàng nước ngoài trong ngân hàng liên doanh đồng nghĩa với
việc các ngân hàng này trở thành thành viên chiến lược và do đó, mối quan
hệ về quyền lợi và trách nhiệm của cổ đông được phát huy. Kết quả là các
kinh nghiệm quản trị, điều hành và cách thức, phương pháp tổ chức, quản lý
Hoạt động của các ngân hang liên doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. Hoàng Thị Mỹ Hạnh A10 K41C KTNT
19
sẽ được các ngân hàng nước ngoài hướng dẫn, áp dụng trong ngân hàng liên
doanh. Sự tham gia điều hành, quản trị của các nhà đầu tư nước ngoài là yếu
tố quan trọng để cải thiện nhanh chóng trình độ quản trị kinh doanh ở các
ngân hàng trong nước. Đây là lợi ích vô hình và có ý nghĩa rất lớn đối với
các ngân hàng thương mại Việt Nam – một trong hai bên liên doanh.
Đặc biệt trong việc tiếp cận công nghệ mới, sự tham gia của các ngân
hàng nước ngoài nói chung sẽ cho phép các ngân hàng nước sở tại khắc phục
được những khó khăn trong quá trình hiện đại hoá công nghệ kinh doanh và
phát triển dịch vụ. Có thể nói, công nghệ ngân hàng là một trong những điều
kiện tiên quyết, là chìa khoá để một ngân hàng hoạt động thành công, nhất là
trong bối cảnh hiện nay khi mà tự do hoá thương mại và tự do hoá tài chính
đang phát triển mạnh mẽ, sâu rộng. Với mức vốn đầu tư hợp lý sẽ cho phép
các ngân hàng liên doanh đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở kỹ thuật ứng dụng
phần mềm hiện đại trong hoạt động quản trị và kinh doanh Bên cạnh những
thuận lợi cho sự phát triển công nghệ ngân hàng, các ngân hàng thương mại
của bên nước sở tại còn tranh thủ chuyển giao được công nghệ hiện đại của
các ngân hàng thương mại nước ngoài, học tập được kinh nghiệm trong lĩnh
vực này, đảm bảo phát triển hiệu quả cao của quá trình ứng dụng và phát
ngân hàng nước ngoài hoạt động trên một thị trường mở thì hoạt động cạnh
tranh sẽ ngày càng gay gắt. Ngân hàng liên doanh khi được thành lập đã có
tư cách là một loại hình tổ chức tín dụng trong hệ thống ngân hàng nước sở
tại, qua đó đã thúc đẩy cạnh tranh trao đổi kinh nghiệm hoạt động ngân hàng,
các kỹ năng quản trị, các công nghệ ngân hàng hiện đại…, cải thiện môi
trường dịch vụ ngân hàng nước sở tại. Các tổ chức tín dụng sẽ phải phát huy
sự năng động và chịu trách nhiệm cao hơn đối với các sản phẩm dịch vụ của
mình. Mặt khác, sự lựa chọn của khách hàng cũng buộc các tổ chức tín dụng
phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, hệ thống cán bộ của mình để
có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác, thu hút khách hàng, duy trì và
củng cố vị thế của mình trong một môi trường cạnh tranh ngày càng cao hơn.
Khi hệ thống ngân hàng trong nước phát triển sẽ kéo theo sự phát triển hàng