BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CẤP BỘ – NĂM 2007
Tên đề tài:
“Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt
nhằm tận dụng nhiệt của khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết
bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
Ký hiệu: 151-07.RD/HĐ-KHCN
6820
25/4/2008
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Cơ khí
Chủ nhiệm đề tài: Phạm Văn Quế
Hà Nội – Năm 2007
BỘ CÔNG NGHIỆP
VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ
BẢN VẼ THIẾT KẾ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CẤP BỘ – NĂM 2007
Chương II Tính toán - thiết kế bộ sấy không khí kiểu hồi
nhiệt (dạng quay)
22
II.1 Mô tả chung bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt (dạng
quay)
22
II.2 Cơ sở tính toán bộ sấy không khí 24
II.3 Các thông số của bộ sấy không khí loại hồi nhiệt và
tính toán bộ sấy
28
II.3.1 Các thông số kỹ thuật của lò hơi 28
II.3.2 Các thông số chính của bộ sấy không khí 29
II.3.3 Tính toán bộ sấy không khí kiểu quay 30
Chương III Cấu tạo và quy trình công nghệ chế tạo môđul bộ
sấy không khí
35
III.1 Cấu tạo bộ
sấy không khí loại hồi nhiệt (dạng quay) 35
III.2 Sơ đồ công nghệ chế tạo khối trao đổi nhiệt trong bộ
sấy không khí loại hồi nhiệt
39
III.2.1 Sơ đồ công nghệ chế tạo tấm trao đổi nhiệt 39
III.2.2 Sơ đồ công nghệ chế tạo tấm ngăn 40
III.2.3 Sơ đồ công nghệ chế tạo khung vỏ khối trao đổi
nhiệt
41
III.2.4 Sơ đồ công nghệ lắp ráp tổ hợp khối trao đổi nhiệt 42
Chương IV Đề xuất giải pháp công nghệ giảm thiểu mức độ
mòn hỏng của thiết bị
44
9. Thiết bị trao đổi nhiệt - PGS.TS. Bùi Hải, TS. Dương Đứ
c Hồng, TS. Hà
Mạnh Thư - Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật 2001 THÀNH VIÊN NHÓM ĐỀ TÀI
1. Phạm Văn Quế Kỹ sư Gia công áp lựcViện Nghiên cứu Cơ khí
2. Phan Hữu Thắng
Kỹ sư Công nghệ chế
tạo máy
Viện Nghiên cứu Cơ khí
3. Trương Mạnh Bình Kỹ sư chế tạo máy
Công ty CP Nhiệt điện
Phả Lại
4. Nguyễn Văn Thủy Kỹ sư điện
Công ty CP Nhiệt điện
Phả Lại
5. Đào Hữ
u Mạnh Kỹ sư Gia công áp lựcViện Nghiên cứu Cơ khí
6. Võ Văn Hòa Kỹ sư Gia công áp lựcViện Nghiên cứu Cơ khí
7. Ngô Đăng Hoàng
Kỹ sư Công nghệ chế
tạo máy
Viện Nghiên cứu Cơ khí
dụng điện năng ngày càng cao, từ đó phải xây dựng thêm nhiều nhà máy điện
(trong đó có cả các nhà máy nhiệt điện đốt than) để phục vụ đời sống và sản
xuất. Trong nhà máy nhiệt điện, bộ sấy không khí tuy là thiết bị phụ nhưng là
thiết bị phụ quan trọng, không thể thiếu và chiếm tỷ lệ đáng kể của nhà máy
điện đố
t than. Chính vì vậy, tại các nước phát triển và có nền công nghiệp tiên
tiến luôn nghiên cứu, thiết kế và cho ra đời các thiết bị có tính tối ưu hơn
nhằm làm tăng hiệu quả kinh tế.
Hiện nay trên thế giới có nhiều hãng chế tạo các thiết bị của lò hơi cho
các nhà máy nhiệt điện. Các tập đoàn lớn, các công ty chế tạo thiết bị cho lò
hơi đã có nhiều năm kinh nghiệm sản xuấ
t như: ABB, FUJITSU, Điện khí
Thượng Hải, các nhà máy thuộc Nga, Ukraine,
Trên thế giới, bộ sấy không khí trong hệ thống trao đổi nhiệt hiện được
nghiên cứu và chế tạo có 2 dạng: dạng quay (kiểu hồi nhiệt) và dạng tĩnh
(kiểu thu nhiệt). Với trình độ và năng lực chuyên môn hoá cao, việc nghiên
cứu và chế tạo các chủng loại bộ sấy không khí được các nước có nền khoa
học phát triển trên thế giới không ng
ừng cải tiến, tối ưu hoá để nâng cao hiệu
suất thu hồi nhiệt khí thải lò hơi.
Ở nước ta trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong khoảng 10 năm trở lại
đây ngành công nghiệp năng lượng đã được Nhà nước chú trọng đầu tư phát
triển và đã có những bước tiến đáng kể, tốc độ tiêu thụ năng lượng tăng
8,6%/năm trong các năm 1996-2000 và năm 2003 là 12% góp phầ
n quan
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
2
trọng vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
3
Sơ đồ tổng thể của một nhà máy nhiệt điện Chú thích:
1. Tháp làm mát 9. Tuabin trung áp 17. Bao hơi 25. Lọc bụi
2. Bơm nước 10. Điều tốc tuabin 18. Phễu tro 26. Quạt khói
3. Đường dây tải điện 11. Tuabin áp cao 19. Hơi quá nhiệt 27. Ống khói
4. Trạm biến áp 12. Khử khí 20. Quạt hút gió
5. Máy phát 13. Gia nhiệt nước 21.Bộ gia nhiệt lại
6. Tuabin áp thấp 14. Băng tải than 22. Khí vào
7. Bơm nước cấp 15. Phễu 23. Bộ hâm nước
8. Bình ngưng 16. Máy nghiền 24. Bộ sấy khí
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THIẾT BỊ BỘ SẤY KHÔNG KHÍ
TRONG TỔ HỢP THIẾT BỊ LÒ HƠI
I.1 Tổng quan về thiết bị bộ sấy không khí trong lò hơi:
Trong các lò hơi hiện đại, đặc biệt khi đốt các nhiên liệu ẩm, các bộ sấy
không khí được sử dụng rộng rãi. Việc cấp không khí nóng vào buồng đốt của
lò hơi làm tăng nhanh sự bốc cháy nhiên liệu và tăng cường quá trình cháy
nhiên liệu, giảm các tổn thất nhiệt do không khí cháy kiệt về hóa học và cơ
làm cho nhiệt độ của khói thải ra khỏi lò và tương ứng tổn thất q
2
tăng lên,
nghĩa là hiệu suất lò giảm đi. Nhưng mặt khác hiệu suất của chu trình tăng
lên.
Nhiệt độ không khí nóng được xác định theo yêu cầu đảm bảo tốt sự bốc
cháy của nhiên liệu nghĩa là càng cao càng tốt. Nhưng vì điều kiện làm việc
của kim loại bộ sấy không khí, do hệ số tản nhiệt của không khí nhỏ hơn
nhiều so với hơi và nước nên nhiệt
độ vách ống thường lớn hơn nhiệt độ
không khí nhiều, nghĩa là nếu chọn nhiệt độ không khí nóng cao thì đòi hỏi
phải dùng những kim loại quý để chế tạo.
Theo nguyên tắc truyền nhiệt, bộ sấy không khí được chia làm 2 loại:
loại thu nhiệt và loại hồi nhiệt. Ở loại thu nhiệt, nhiệt truyền trực tiếp từ khói
tới không khí qua vách kim loại. Ở loại hồi nhiệt khói đầu tiên
đốt nóng kim
loại rồi sau đó nhiệt tích tụ tại đây được truyền cho không khí. Như vậy mỗi
phần tử của bộ sấy không khí sẽ làm việc ở trang thái tiếp xúc lần lượt khi thì
với khói, khi thì với không khí.
I.2 Bộ sấy không khí kiểu thu nhiệt (bộ sấy tĩnh):
Bộ sấy không khí kiểu thu nhiệt là loại được sử dụng rộng rãi hiện nay,
về cấu tạo nó có thể gồ
m các kiểu sau: kiểu bằng tấm thép, kiểu bằng ống
gang, kiểu bằng ống thép.
Bộ sấy không khí kiểu ống gồm 2 loại: ống gang và ống thép, trong đó
bộ sấy không khí loại ống thép hiện nay hay được sử dụng. Nó gồm một hệ
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
6
Khi nối, để ngăn ngừa không khí lọt vào trong đường khói qua các kẽ hở
giữa các mặt sàng người ta đặ
t các vành bù. Giữa các khối của bộ sấy với
khung lò cũng cần đặt vành bù. Vành bù là những lá tôn mỏng nối giữa mặt
sàng và khung lò.
Vì các ống của bộ sấy làm việc ở trạng thái không có áp suất nên được
chế tạo bằng các lá tôn 1,25÷1,5mm uốn và hàn mí lại. Đường kính ngoài của
ống nằm trong phạm vi 25÷51mm. Hiện nay người ta có xu hướng sử dụng
hai loại đường kính 40mm và 51mm, dày 1,5mm.
Mặt sàng của bộ sấy được tính theo
điều kiện bền, thường đối với mặt
trên và mặt dưới lấy bằng 15÷25mm. Để tăng độ cứng vững của bộ sấy, giữa
hai mặt sàng trên và dưới còn đặt mặt sàng trung gian, có bề dày nhỏ hơn,
thường từ 5÷10mm. Mặt sàng trung gian có tác dụng để phân chia đường
không khí thành nhiều đường cắt đường khói nhiều lần. Mỗi khối của bộ sấy
không khí có thể có t
ừ 1÷2 mặt sàng trung gian.
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
8
Việc chọn số lần đường không khí cắt đường khói hay nói khác đi là việc
chọn kích thước đường không khí đi là dựa trên cơ sở đảm bảo tốc độ của
dòng không khí. (hình vẽ 1-3 trình bày các dạng sơ đồ bố trí bộ sấy không khí
kiểu ống).
t
d
nF
π
=
, m
2
(I.1)
ldnH
tb
π
= , m
2
(I.2)
Trong đó: d
t
, d
tb
- đường kính trong và trung bình của ống, m
l - chiều dài ống, m
- Nếu giảm đường kính ống mà vẫn đảm bảo tiết diện khói qua thì phải tăng
tương ứng số lượng ống song song lên theo quan hệ bình phương. Nhưng khi
ấy để đảm bảo bề mặt truyền nhiệt thì lại phải giảm chiều dài của ống để bù
lại sự tăng số lượng ống này. Cứ giảm
đường kính đi bao nhiêu lần thì chiều
dài của ống phải giảm đi bấy nhiêu lần, vì tỷ số giữa chiều dài và đường kính
ống là một trị số cố định khi thay đổi đường kính ống:
tb
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
10
- Đơn giản trong chế tạo, lắp ráp và làm việc chắc chắn,
- Tro bám trong ống không nhiều, ống dễ dàng thổi sạch,
- Khắc phục được hiện tượng lọt không khí vào trong đường khói,
- Có xuất tiêu hao kim loại tương đối nhỏ.
♦ Khuyết điểm của bộ sấy không khí kiểu ống:
Khuyết điểm chủ yếu là các ống thép không bền vững dưới tác d
ụng ăn
mòn của khói ở nhiệt độ cao và tác dụng mài mòn của tro bay. Vì vậy bộ sấy
không khí kiểu ống được dùng để gia nhiệt không khí tới khoảng 400
o
C, nhiệt
độ khói trước nó không quá 550
o
C.
Khi nhiệt độ khói và không khí cao hơn người ta thường dụng bộ sấy
không khí kiểu ống bằng gang, do gang bền vững hơn dưới tác dụng ăn mòn
và mài mòn so với ống thép. Để tăng hệ số truyền nhiệt, ống gang thường có
cánh ở ngoài ống và có răng ở trong ống. Lúc này không khí được bố trí đi
trong ống còn khói đi ngoài ống. Các cánh (ngoài ống) và răng (trong ống)
được bố trí dọc theo đường lưu động củ
a dòng không khí hay khói, nghĩa là
vuông góc với nhau (như hình I-4).
Hình I-4. Cấu tạo của ống gang có cánh
và răng của bộ sấy không khí bằng gang
Số lượng ống theo chiều rộng đường khói của bộ sấy không khí bằng
gang được xác định theo điều kiện đảm bảo tốc độ khói, còn chiều dài ống
Thiết bị sấy nóng không khí hồi nhiệt kiểu quay (rotary regenerative air
heater) thu giữ và sử dụng lại khoảng 60% nhiệt lượng thoát ra ngoài lò hơi,
nếu không, năng lượng này sẽ bay đi mất theo đường ống khói. Với một nhà
máy nhiệt điện chạy than công suất 500 MW, năng lượng sử dụng lại có thể
lên tới khoảng 3,5.10
5
kcal mỗi giờ, và nhờ sử dụng lại nhiệt lượng này, có
thể giảm mức tiêu hao nhiên liệu khoảng 1.500 tấn mỗi ngày.
Bộ phận chính của bộ sấy là một rôto quay với tốc độ chậm xung quanh
trục đứng. Trên rôto có gắn các lá thép. Những lá thép này trong quá trình
rôto quay sẽ lần lượt khi thì tiếp xúc với khí nóng, khi thì tiếp xúc với không
khí lạnh. Đường khói và đường không khí được bố trí ở hai phía cố định của
bộ sấy và
được ngăn bởi vách ngăn.
Phần rôto khi đi qua đường khói sẽ được đốt nóng tới nhiệt độ của khói,
lượng nhiệt tích luỹ này sẽ được truyền cho không khí khi rôto đi qua đường
không khí, nhiệt độ của phần rôto này sẽ giảm xuống. Khi đi qua đường khói,
các chi tiết của rôto sẽ có nhiệt độ bằng nhiệt độ của khói, nên khắc phục
được hiện tượng ăn mòn ở nhiệt độ
thấp trong đường khói. Khi đi qua phần
không khí, do không khí không phải là môi trường ăn mòn như khói, nên cho
phép nhiệt độ của các chi tiết hạ xuống khá thấp. Đó cũng là ưu điểm chính
của bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt.
Ngoài ra bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt còn có ưu điểm là kích thước
nhỏ gọn, suất tiêu hao kim loại nhỏ, trở lực đường khói và không khí khá bé.
Khuyết điểm chủ y
ếu của bộ sấy không khí kiểu hồi nhiệt là lượng không
khí lọt vào trong đường khói khá lớn. Trong các cấu tạo cũ, khi không bảo
đảm chèn kín tốt, lượng không khí lọt vào có thể lên tới 20%. Ngay cả khi
chèn tốt, lượng không khí lọt cũng tới 10%. Điều này làm cho lượng tiêu hao a) b)
Hình I-6. Bố trí các bề mặt truyền nhiệt phần đuôi lò
a) Bố trí một cấp; b) bố trí hai cấp
1,3 - Bộ sấy không khí cấp 1 và 2; 2,4 - Bộ hâm nước cấp 1 và 2
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
14
Trong đường khói phần đuôi, bộ sấy không khí có thể bố trí theo dạng
một cấp (hình I-6a) hoặc 2 cấp xen kẽ nhau (hình I-6b). Chọn kiểu kết cấu
nào là tuỳ theo yêu cầu về độ gia nhiệt không khí nóng quyết định. Thông
thường, ở ghi lò, để bảo vệ ghi lò, nhiệt độ không khí nóng thường không quá
150
o
C, (chỉ khi đốt những nguyên liệu rất nhiều tro và ẩm như than bùn, nhiệt
độ không khí nóng mới tới 205
o
C), khi ấy chỉ cần bố trí bộ sấy không khí một
cấp. Ở lò phun nhiệt nóng tới 400
o
C, có khi cao hơn. Để thu được nhiệt độ
không khí nóng cao như vậy cần thiết phải đặt đầu ra của bộ sấy không khí
vào vùng nhiệt độ khói cao, nghĩa là bộ sấy không khí chia thành hai cấp.
Nhưng thông thường nhiệt độ khói đi ra khỏi bộ quá nhiệt còn lớn hơn 600
o
Ta có thể
thấy rõ điều này bằng cách khảo sát phương trình cân bằng nhiệt
của các cấp.
Đốt với bộ sấy không khí cấp một, dựa theo các ký hiệu trên hình I-7,
phương trình cân bằng nhiệt có dạng:
()
(
)
()
[]
()
thkOHkkkkthNNRORO
kklkknkkkkngblbl
ttVCVCVCV
ttCV
−+−++=
=−∆−∆−
22222
0
0
1
α
ααα
(I.4)
trong đó: t
kkn
, t
kkl
- nhiệt độ không khí nóng và lạnh,
o
222222
0
1 +−++=
α
ψ
(I.6)
gọi là đương lượng nước của không khí và của khói
Đối với các loại nhiên liệu, thể tích lý thuyết của không khí thường nhỏ
hơn thể tích lý thuyết của khói, nhiên liệu càng ẩm thì thể tích không khí càng
nhỏ hơn. Mặt khác do đường khói của hầu hết các lò làm việc ở trạng thái
chân không, nên có lọt không khí nghĩa là
blth
α
α
> . Khi đó tỷ nhiệt của nitơ
xấp xỉ với tỷ nhiệt tài nguyên của không khí nên tỷ nhiệt trung bình của khói
lớn hơn của không khí. Vì vậy đương lượng nước của không khí thường nhỏ
hơn nhiều so với đương lượng nước của khói. Do đó từ phương trình (I.4) ta
có hiệu nhiệt độ
()
(
)
thkkklkkn
tttt
−
>− ; nghĩa là độ tăng nhiệt độ không khí lớn
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
Nếu gọi nhiệt độ ở đầu ra bộ sấy không khí cấp một là:
nckhn
ttt
−
=
∆
(I.8)
kknkskk
ttt
−
=
∆
(I.9)
thì nhiệt độ không khí nóng ra khỏi bộ sấy không khí cấp một sẽ bằng:
()
k
kk
k
kk
kkl
k
kk
skkthkkn
tttt
ψ
ψ
ψ
ψ
skk
t
∆
là một vấn đề tương
đối phức tạp, được xác định trên cơ sở tính kinh tế kỹ thuật. Khi hiệu nhiệt độ
ở đầu ra bộ sấy không khí cấp một càng nhỏ thì nhiệt độ không khí nóng và
tương ứng nhiệt độ khói trước bộ sấy không khí cấp một càng cao (điểm làm
việc của nhiệt độ khói trước bộ sấy không khí cấp một dịch chuyển về bên trái
đồ thị I-7), do đó hiệu nhiệt độ ở đầu vào bộ hâm nước cấp một cũng sẽ càng
lớn vì nhiệt độ nước cấp là không đổi. Như vậy khi chọn nhiệt độ không khí
nóng ra khỏi bộ sấy không khí cấp một càng cao thì chênh lệch độ trong bộ
sấy không khí cấp một càng giảm, còn trong bộ hâm nước lại tăng. Do đó ở
một lượng nhiệt hấp thụ không đổ
i kích thước bề mặt truyền nhiệt độ hâm
nước giảm đi còn của bộ sấy không khí thì tăng lên.
Xác định được nhiệt độ không khí nóng ra khỏi bộ sấy không khí cấp
một thì sẽ xác định được tỷ lệ hấp thụ nhiệt giữa hai cấp của bộ sấy không
khí. Tỷ lệ phân bố hấp thụ nhiệt giữa hai cấp của bộ hâm nước được xác định
trên cơ sở chọn nhiệt độ khói trước bộ sấy không khí cấp hai. Nhiệt độ này
được chọn theo điều kiện bảo đảm chống ăn mòn ở nhiệt độ cao cho bộ sấy
không khí.
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bộ sấy không khí của hệ thống trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt của
khí thải, tăng hiệu suất lò hơi trong tổ hợp thiết bị nhiệt điện công suất đến 300MW”
CNĐT - KS. Phạm Văn Quế - TT. GCAL-NARIME/2007
18
Trên cơ sở xác định các trị số hiệu nhiệt độ
skk
t
∆
,
o
C
(I.11)
Từ công thức (I.11) ta thấy: Có thể giảm nhiệt độ của khói thải bằng cách
giảm nhiệt độ nước cấp, nhiệt độ không khí lạnh, hiệu nhiệt độ
hn
t∆
,
sk
t∆
hoặc
làm cho đương lượng nước của không khí và của khói gần bằng nhau. Nhiệt
độ không khí lạnh đưa vào bộ sấy không khí thường lấy bằng nhiệt độ của
không khí trong gian lò, nghĩa là đã là một trị số cố định cho trước.
Việc quyết định chọn nhiệt độ nước cấp là một vấn đề phức tạp dựa trên
cơ sở so sánh kinh tế giữa việc tăng hi
ệu suất lò (do giảm nhiệt độ khói thải)
với việc giảm hiệu suất của chu trình nhiệt khi giảm nhiệt độ nước cấp. Đối
với một thông số của lò và chu trình, nhiệt độ nước cấp đã được chọn theo
cách so sánh kinh tế.
Để cho tỷ số
k
kk
ψ
ψ
tiến tới 1 thì cần phải giảm lượng không khí lọt vào lò.
Trong quá trình vận hành cũng như khi thiết kế lò, lượng không khí lọt đã
được khắc phục đến mức tối thiểu.
Như vậy không thể dùng các biện pháp giảm nhiệt độ nước cấp, nhiệt độ
không khí lạnh và lượng không khí lọt tới quá mức quy định để làm giảm