Chuyên đề : Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở Hà Nội thời Pháp thống trị - Pdf 13

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC KX.09
"Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô".ĐỀ TÀI KX.09.08: "Phát triển khoa học và
trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội"
***************
ĐỀ TÀI NHÁNH 6:
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI
Ở HÀ NỘI THỜI PHÁP THỐNG TRỊ Thực hiện: Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội
gồm: 1. GS-TS Nguyễn Ngọc Cơ (chủ trì)
2. TS Vũ Thị Hoà 3. ThS Phạm Thị Tuyết
4. ThS Nguyễn Thị Thế Bình 5. ThS Nguyễn Thị Như Hoa
6. ThS Đào Thu Vân 7. ThS Nguyễn Mạnh Hưởng
8. ThS Nguyễn Văn Ninh 9. ThS Lê Hiến Chương
10. Phạm Ngọc Anh 11. Đoàn Thị Kim Thuỷ
12. Nguyễn Thu Hiền 13. Nguyễn Quốc Vương
14. ThS H
ồ Công Lưu, Khoa Việt Nam học
15. ThS Trần Văn Kiên, Khoa Việt Nam học
16. Nguyễn Quỳnh Anh, Khoa Việt Nam học

6955-6

y dược học ở Hà Nội thời Pháp thống trị.
Đoàn Thị Kim Thuỷ, Khoa Lịch sử
7. Chuyên đề 6: Những chứng cứ về ứ
ng dụng khoa học trong đời sống 213
của Hà Nội thời Pháp thống trị.
Phạm Ngọc Anh, Khoa Lịch sử
8. Chuyên đề 7: Những đặc trưng của giáo dục, văn hoá, xây dựng nếp 239
sống xã hội ở Hà Nội thời Pháp thống trị.
ThS Trần Văn Kiên, Khoa Việt Nam học
9. Chuyên đề 8: Các tác phẩm có giá trị xuất bản ở Hà Nội thời Pháp 276
thống trị.
Nguy
ễn Quỳnh Anh, Khoa Việt Nam học
10. Chuyên đề 10: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 300
vực khoa học kỹ thuật ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị.
ThS Nguyễn Thị Như Hoa + ThS Nguyễn Văn Ninh + Lê Thị Huyền,
Khoa Lịch sử

11. Chuyên đề 11: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 327

2
vực khoa học nông nghiệp ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị.
ThS Đào Thu Vân, Khoa Lịch sử
12. Chuyên đề 12: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 341
vực khoa học y dược ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị.
Đỗ Thuỳ Linh + Nguyễn Thu Hiền, Khoa Lịch sử
13. Chuyên đề 13: Thực trạng phát triển và kết quả hoạt động của lĩnh 356
vực khoa học xã hội và nhân văn ở Hà Nội trong thời Pháp thống trị.
ThS Lê Hiến Chương, Khoa Lịch sử
14. Chuyên đề 14: Vấn đề trọng dụng nhân tài của Hà Nội trong thời kỳ 387
3

Phát triển khoa học và
trọng dụng nhân tài ở Hà Nội
thời kì Pháp thống trị I. Một số nét cơ bản về Hà Nội thời kì thuộc Pháp
Ngy 1-10-1888, vua ng Khỏnh ra o d giao quyn s hu thnh ph H Ni
cho thc dõn Phỏp. H Ni chớnh thc tr thnh nhng a ca Phỏp v mang tớnh cht
ca mt thnh ph thuc a. Vỡ th m H Ni thi kỡ ny mang nhiu du n ca Phỏp
trong c cu kinh t, mụ hỡnh xó hi, thc trng vn húa, chớnh tr.
V mt v trớ a lý, H Ni l cung hng ca Bc kỡ (li ca Tng
c thnh H
Ni - Hong Diu nm 1882). Nú l mt u mi giao thụng thy b ta i khp min Bc
nc ta v thun tin t bn Phỏp xõm nhp vo vựng Võn Nam (Trung Quc). Mt
khỏc, H Ni li nm gia mt khu vc ụng dõn c; t bn Phỏp sm nhỡn thy sc hp
dn ca th trng ny, chim c H Ni chỳng s lm ch mt vựng t r
ng ln, giu
tim nng, em li nhng li nhun ln cho gii t bn Phỏp. Trong thi kỡ ny a gii
ca H Ni ó tri qua 3 ln thay i ln. Nm 1899, H Ni cú khu vc ngoi thnh gm
mt phn t ai huyn Th Xng v huyn Vnh Thun. Nhng n nm 1915, vựng t
ny mang tờn gi l huyn Hon Long v c sỏp nhp vo tnh H ụng. N
m 1942,
huyn Hon Long li c tr v cho H Ni v cú tờn gi i lý c bit, tr s t
p Thỏi H. S m rng hay thu hp din tớch ca H Ni cú liờn quan mt thit n tỡnh
hỡnh chớnh tr v s phỏt trin kinh t.
V chớnh tr, H Ni l thnh ph cp 1 v cú Hi ng thnh ph, ng u l mt

trí và điều kiện như vậy, Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm và đầu tư của tư bản Pháp.
Về mặt kinh tế, trước khi trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, Hà Nội đã có
quan hệ buôn bán với các nước như Hà Lan, Anh, Trung Quốc, Inđônêxia, … Khu vực
phía Đông Hoàng Thành là nơi tập trung nhiều cửa hàng buôn bán lớ
n và các phường
nghề thủ công. Ước tính Hà Nội có khoảng trên 30 nghề thủ công truyền thống. Những
nghề thủ công như dệt lụa, làm giấy, làm gốm, … được truyền từ nhiều đời đã tạo ra một
nền kinh tế phồn vinh và làm nên cuộc sống no đủ của người Hà Nội. Một người nước
ngoài khi đến Hà Nội thời điểm này đã mô tả khá sinh động: “Các vật phẩm
đều có phố
riêng cho mỗi loại, mỗi phố lại chia cho dân 1, 2 hoặc nhiều làng có đặc quyền buôn bán ở
phố đó. Cách làm ấy hoàn toàn giống như các công ty hay phường hội các thành phố châu
Âu”
1
. Như vậy Hà Nội thời kì trước năm 1888 đã là một trung tâm phát triển mạnh trong
hoạt động công thương nghiệp.
Kinh tế Hà Nội trong thời thuộc Pháp đã có những diện mạo mới. Bên cạnh sự duy
trì các ngành nghề thủ công truyền thống là sự du nhập những kĩ nghệ mới: làm rượu bia,
làm diêm bằng máy, in ấn, sửa chữa các máy móc, phương tiện giao thông như ô tô, xe
điện, xe lửa, … Do đó nơi
đây đã tồn tại cơ cấu kinh tế đan xen giữa khu vực kinh tế hiện
đại (sự ra đời và phát triển của công nghiệp) và khu vực kinh tế truyền thống (nghề thủ
công và làm nông nghiệp). Mặt khác Hà Nội còn trở thành nơi trung chuyển hàng hóa lớn
nhất ở Bắc kì. Thành phố này trở thành nơi tập kết các loại hàng hóa nông - lâm - thổ sản

1
Vũ Huy Phúc, Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945, NXB KHXH, Hà Nội, 1996, tr 35-36

5
từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống, từ Thanh Hóa - Nghệ Tĩnh ra, lúa gạo, các mặt hàng thủ công

nhập khẩu xuất hiện những tên tuổi lớn như: Denis Freres, Descours Cabaud, Poisard
Veyret,… Hơn nữa trong thời kì này, Hà Nội đã xuất hiện những công ty tư bản tài chính lớn
như: Ngân hàng Đông Dương (xây dựng xong trụ sở vào năm 1930), Ngân hàng Pháp - Hoa,
Công ty thổ địa Đông Dương, Liên hiệp tài chính Viễn Đông thành lập vào những năm 20, …
Tư bản Pháp ở Hà Nội trong thời gian này đã nhanh chóng bỏ vốn đầu tư
vào một số ngành
nghề như: chế biến thực phẩm, làm rượu bia, nước giải khát như Hãng bia Hommel, Nhà máy
nước đá Larue; sản xuất vật liệu xây dựng có Công ty Gạch ngói Đông Dương (SARIC), nghề
in có nhà máy IDEO, TAUPIN, xưởng sữa chữa ôtô và các phương tiện giao thông vận tải
AVIAT, STAI, Số lượng người Pháp và người nước ngoài ở Hà Nội tăng nhanh đã làm

2
Nguyễn Công Bình, Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr 24
3
J.Aumiphin - Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939) – Hội Khoa học lịch sử Việt
Nam–Hà Nội - Năm 1994, tr 53

6
xuất hiện những nhu cầu mới về hàng tiêu dùng, hàng thủ công mĩ nghệ, hàng thực phẩm chế
biến, …
Bên cạnh bộ phận tư sản người Pháp thì Hà Nội còn là nơi cư trú, kinh doanh buôn
bán của một bộ phận tư sản ngoại kiều là người Hoa, người Ấn, người Nhật. Trong đó
chiếm số lượng đông đảo và có chỗ đứng về kinh tế là tư sản Hoa kiề
u. Từ thế kỉ XVIII,
người Trung Quốc đã sang sinh sống, lập nghiệp ở Hà Nội. Năm 1803 họ xây dựng “Hoa
thương hội quán” ở phố Hàng Buồm. Họ sớm mở các cửa hàng buôn bán nhiều thứ khác
nhau hoặc làm đại lý cho các Hãng Trung Quốc ở Hương Cảng, Thượng Hải, … Hai tuyến
phố Hàng Ngang, Hàng Buồm là nơi tập trung đông nhất các cửa hiệu của tư sản Hoa
kiều. Năm 1891, Hà Nộ
i có 72 hãng buôn của Hoa kiều. Số lượng Hoa kiều cũng tăng


4
Trần Huy Liệu (cb) – Lịch sử thủ đô Hà Nội – NXB Sử học – Viện Sử học – Hà Nội – Năm 1960, tr 113

7
Công ty Quảng Hưng Long thành lập năm 1907 vừa có hiệu buôn vừa có xưởng thợ. Hay
hãng buôn Quảng Hợp Ích buôn the, tơ lụa, xa xuyến, vóc, nhiễu, … Trong thời kì này
cũng xuất hiện một số tư sản dân tộc kinh doanh các ngành vận tải, dệt, in, sản xuất gạch
ngói như: Bạch Thái Bưởi, Đào Thao Côn, Ngô Tử Hạ, Mạc Đình Tư, Nguyễn Văn Vĩnh,
Năm Giệm, Trần Văn Thanh, … Dù đã có nhiều c
ố gắng trong sản xuất nhưng vai trò của
tư sản dân tộc vẫn rất nhỏ bé và ít nhiều còn phụ thuộc vào đế quốc thực dân.
Công nhân Việt Nam là con đẻ của cuộc khai thác thuộc địa do thực dân Pháp tiến
hành. Vì thế mà vào những năm 90 của thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng những cơ
sở kinh tế đầu tiên như nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy sợi, … thì đội ngũ công
nhân Hà Nội cũng b
ắt đầu hình thành. Nguồn gốc của họ trước hết là nông dân, thợ thủ
công ở các làng xã giữa thành phố, bị tư bản tước đoạt ruộng đất xây dựng nhà máy, mở
mang thành phố. Ví dụ: Công nhân làm trong nhà máy Rượu bia Hommel, Nhà máy thuộc
da đều là dân các làng xung quanh như Thụy Khuê, Đại Yên, Liễu Giai, Ngọc Hà,… Sau
bộ phận công nhân có nguồn gốc trên là nông dân, thợ thủ công ở các vùng lân cận Hà Nội
như: Hà Đông, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương b
ị thực dân Pháp và địa chủ chiếm
ruộng, bị hàng hóa của Pháp tràn vào làm cho phá sản hàng loạt và phần đông là không
chịu nổi mức sưu cao thuế nặng nên phải bỏ ra thành phố bán sức lao động, duy trì cuộc
sống. Nhiều nhà máy ở Hà Nội như nhà máy rượu bia, nhà máy sản xuất gạch ngói đã tập
trung hàng trăm công nhân và có thời kì số công nhân ở đây lên tới 3 vạn người. Bên cạnh
đội ngũ công nhân thực thụ thì Hà Nộ
i còn tồn tại một đội quân “bán vô sản” là những
người lao động, không có tư liệu sản xuất, không có nghề thủ công và phải đem sức mình

tay a ch, chu np tụ cao nhm
duy trỡ cuc sng.
Cú th núi rng, chớnh nhng yu t v iu kin trờn ó tỏc ng n nhiu lnh
vc ca H Ni trong thi kỡ ny. H Ni ó nhanh chúng du nhp nhiu k ngh, kin
thc mi v vn húa, xó hi. Nhng nhõn t ny s cú tỏc ng hai chiu: tớch cc v tiờu
cc n quỏ trỡnh phỏt trin ca H Ni. Chớnh nú s
lm cho H Ni mang mt din mo
mi, khỏc hn thi kỡ trc.

II. Tổng hợp một số vấn đề nổi bật về việc phát triển và ứng
dụng khoa học công nghệ ở hà nội thời pháp thuộc
1. Công nghiệp, thủ công nghiệp
1.1. Công nghiệp
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành cuộc khai thác lần thứ nhất ở
Việt Nam. Đối với ngành công nghiệp, t bản Pháp bỏ vốn vào trên cơ sở: nền công nghiệp
thuộc địa chỉ đóng vai trò bổ sung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ở chính quốc. Về
cơ bản, sự phát triển công nghiệp ở Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng tại thời điểm này
đều bị giới hạn trong khuôn khổ nhất định. Do đó, trong suốt thời kỳ Pháp thống trị, ở Hà Nội
dù đã xuất hiện các phơng tiện, máy móc hiện đại: máy bơm nớc, máy điện, lò hơi, xe ô tô,
xe lửa, nhng số lợng rất ít ỏi và không phải nhà máy, xí nghiệp sản xuất nào cũng có.
1.1.1. Công nghiệp điện, nớc
Ngay từ đầu, thực dân Pháp đã chăm lo xây dựng nhà máy điện và nhà máy nớc ở Hà
Nội, nhằm mục đích: Cải thiện sinh hoạt cho ngời Bắc Kỳ
5
. Nhng, thực chất là để cải
thiện cuộc sống của t bản Pháp sinh sống và làm việc ở Hà Nội.

5
Lời toàn quyền Lanetxăng. Dẫn theo Nguyễn Khắc Đạm - Sđd, tr.200


1.1.2. Công nghiệp chế tạo cơ khí
Trong toàn bộ chính sách về kinh tế, công nghiệp mà thực dân Pháp đa ra cho Việt
Nam nói chung, Hà Nội nói riêng đều nhấn mạnh một điểm: không phát triển kĩ thuật
luyện kim dù chúng biết rằng ở phía Bắc nớc ta có rất nhiều mỏ khoáng sản. Bởi, nếu
phát triển lĩnh vực này thì sẽ gây tổn hại cho nền công nghiệp Pháp.
Từ thực tế đó nên trong suốt một thời gian dài, đã không có một xí nghiệp chế tạo
cơ khí hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó ở Việt Nam. Có chăng chỉ là một số xởng sửa
chữa máy móc, dụng cụ, hay thay thế phụ tùng cho ôtô, xe lửa và xởng đóng tàu của t
bản Pháp.

6
Ngày nay, vị trí của nhà máy chính là trụ sở Sở Điện Lực Hà Nội trên đờng Đinh Tiên Hoàng.

10
Đầu thế kỷ XX, ở Bắc Kỳ đã có xởng của công ty Mácty và d'A-ba-đi (Marty et
d'Abbadie) độc quyền lĩnh vực vận tải đờng sông với nhiệm vụ là đóng tàu. Cơ sở của nó
có đủ máy công cụ của một xởng cơ khí, xởng lắp, xởng điện đặt ở gần cảng Hải
Phòng. Tuy nhiên, số lợng các xởng cơ khí có quy mô nh trên là cực kì ít ỏi. Đến năm
1908 cả Bắc Kỳ có 14 xởng cơ khí, thiết bị máy móc 1100 mã lực, t bản danh nghĩa
5.700.000 phrăng
7
.
Năm 1918, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, để thực hiện công cuộc khôi phục
nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, t bản Pháp đã bỏ vốn, lập một số công ty sửa chữa, chế
tạo cơ khí tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn: công ty Xích Đông Dơng, tức là
hãng Béc-xê (Berset) (1919) làm xe đạp, phụ tùng xe đạp với những nhãn hiệu xe đạp quen
thuộc nh: Saint-Etienne, Peugeout, Sterling, ; xởng sửa chữa và bảo dỡng ô tô Aviat
(Garage AVIAT)
8
(1/5/1919); xởng ôtô Stai (thuộc công ty vận tải ôtô Đông Dơng)

Trụ sở của xởng chính là nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà ngày nay.
10
Nay là nhà máy xe lửa Gia Lâm

11
liền nhau bởi hai đờng ray. Nhiệm vụ chính của nhà máy là sửa chữa những chỗ h hỏng
nhẹ của đầu máy, toa xe còn việc đóng khung toa xe mới rất hạn chế.
Điều đáng chú ý là, trong thời thuộc Pháp, tất cả các xí nghiệp của t bản Pháp ở
Hà Nội đều phải nhập khẩu nhiều vật liệu, công cụ, phụ tùng và máy móc từ Pháp gửi sang
nh: cửa kính toa xe, bộ phận đúc bằng sắt, thép, nồi hơi, xi lanh, pit-tông, mô-tơ, Đây
là kết quả tất yếu của chính sách công nghiệp mà thực dân Pháp đề ra. Hà Nội, Hải Phòng,
Sài Gòn, đều là nơi tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp của ngành cơ khí chế tạo Pháp.
Nó thể hiện tính chất phụ thuộc và không đồng bộ của ngành cơ khí chế tạo ở Hà Nội.
Tuy nhiên, đứng ở một khía cạnh khác ta cũng thấy một số điểm tích cực. T bản
Pháp vào Việt Nam và để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của chúng nên những phơng
tiện máy móc mới, hiện đại đã đợc du nhập nhanh chóng. Dù thực dân Pháp luôn duy trì
chính sách: không phát triển công nghiệp ở thuộc địa nhng trên thực tế (đặc biệt là thời kì
chiến tranh thế giới thứ nhất): Công nghiệp thuộc địa đợc đẩy mạnh vì công nghiệp chính
quốc không có điều kiện xuất khẩu các sản phẩm sang.
Bên cạnh sự đầu t của t bản Pháp vào ngành công nghiệp cơ khí chế tạo một cách
có chừng mực thì t bản Việt Nam cũng bớc đầu quan tâm đến lĩnh vực này. Tiêu biểu là
Bạch Thái Bởi với ngành đóng tàu, vận chuyển trên đờng sông. Năm 1917, hãng tàu của
Bạch Thái Bởi đã sản xuất đợc tàu Bình Chuẩn với trọng tải 560 tấn.
Nh vậy, ngành công nghiệp cơ khí chế tạo ở Việt Nam nói chung và của Hà Nội
nói riêng thời thuộc Pháp chỉ mới dừng lại ở bớc 1: sửa chữa máy móc, thay thế phụ tùng
bị hỏng hóc. Nó cha đạt đến mức tự sản xuất đợc một loại máy móc hay phơng tiện
vận chuyển hoàn chỉnh.
1.1.3. Công nghiệp chế biến
T bản tài chính Pháp giữ t tởng chủ đạo trong việc xây dựng ngành công nghiệp
chế biến là lợi dụng những tài nguyên sẵn có ở n

Các sản phẩm gạch ngói đủ chủng loại đã trở thành vật liệu xây dựng dành cho các công
trình kiến trúc, cầu cống nh: phủ Thống sứ, Nhà hát lớn, cầu Đume (Cầu Long Biên),
Ngành công nghiệp sản xuất gạch ngói và các sản phẩm chịu lửa đã có tác động tới
ngành thủ công nghiệp làm gạch ngói, đồ gốm ở các vùng ven Hà Nội. T bản Pháp áp
dụng kĩ thuật tráng men tiên tiến và nguyên liệu tốt hơn nên chế tạo ra những sản phẩm tốt
hơn, nắm độc quyền sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cao cấp về gạch ngói, đồ gốm. Trong khi
đó kĩ thuật làm gốm của nhân dân lao động vùng Bát Tràng lại dần bị mai một. Từ khi
Pháp sang, qui trình sản xuất gạch ngói về cơ bản là không đổi nhng mẫu mã, sản phẩm
có thay đổi. Đó là sự xuất hiện loại gạch có lỗ, gạch hoa tráng men, ngói Tây (hay còn gọi
là ngói móc). Gạch ngói đợc sản xuất trên máy móc đã ra đời nhng sản lợng vẫn còn ít
ỏi khi so sánh với gạch ngói sản xuất bằng phơng pháp thủ công, cổ truyền. Giới cầm
quyền Pháp xác nhận: Những thợ thủ công An Nam bắt chớc đợc phần nào phơng
thức chế tạo và sản phẩm của công nghiệp ấy của ngời Trung Quốc nhng ngay đến bây
giờ họ cũng không thể cạnh tranh nổi về những sản phẩm thông dụng, phẩm chất trung
bình (với sản phẩm ngời Pháp). Những ngời thủ công ấy, cũng nh những ngời trong
tất cả các nghề thủ công, đều là nô lệ của sự thủ cựu, họ không làm một nghiên cứu hay
tìm tòi nào cả để cải tiến nghề chế tạo của họ cũng nh lợi dụng tốt hơn những vật liệu mà

13
họ sử dụng
11
.
Công nghiệp dệt, sản xuất bông vải
Năm 1891 xuất hiện nhà máy sợi đầu tiên ở Hà Nội do hãng Bourgoin Meiffre quản lý
với 10.732 cọc sợi
12
. Lao động trong nhà máy chủ yếu là nữ với khoảng 200 ngời.
Năm 1900, Công ty bông vải Bắc Kỳ (Société Cotonière du Jonkin) đợc thành lập
và đối tợng hoạt động kinh doanh tất cả các ngành có liên quan đến kĩ nghệ dệt. Mục
đích của t bản Pháp khi lập nhà máy sợi ở Hà Nội hay ở một số nơi khác trên đất nớc ta

Hãng này đợc toàn quyền Đông Dơng kí nghị định (31/12/1890) cấp cho khu đất rộng 22.157m
2
để xây dựng nhà
xởng (nay là khu vực chợ Đồng Xuân)

14
tập quán của ngời Việt Nam. Vì thế, ngay từ buổi đầu, khi mới đặt chân lên đất nớc ta,
thực dân Pháp đã tìm nhiều cách để thu thuế, kiếm lời từ ngành này.
Năm 1864, Pháp giao việc độc quyền nấu, bán rợu cho một số ít ngời Hoa ở Nam
Bộ. Đến năm 1900, Pháp đã ra sắc lệnh bắt mọi nhà nấu rợu phải có nhà xây bằng gạch và
tờng đắp xung quanh. Sắc lệnh trên đã tác động mạnh mẽ đến những nhà nấu rợu nhỏ ở
Việt Nam và buộc họ phải bỏ nghề vì thiếu vốn.
Năm 1902, Toàn quyền Đông Dơng ra nghị định thiết lập chế độ độc quyền nấu -
cất và bán rợu trên toàn cõi Đông Dơng. Theo đó, bất kể cá nhân hay công ty nào muốn
kinh doanh ngành này đều phải xin phép Sở Thơng Chính và độc quyền Đông Dơng. Nếu
cá nhân, đơn vị đó xin giấy phép mà ngừng sản xuất thì sau 6 tháng phải xin cấp lại. Rợu
bán ra phải có tem dán trên chai.
Thời thuộc Pháp, Hà Nội có 2 nhà máy rợu, bia lớn: nhà máy rợu bia Hommel và
nhà máy rợu Phông-ten (thuộc Công ty cất rợu Đông Dơng).
Nhà máy rợu bia Hommel
13
thành lập vào năm 1892 ở trên khu vực núi Voi (hay
còn gọi là núi Thái Hòa). Quy mô của nhà máy ban đầu còn nhỏ, đến năm 1911 mới đợc
mở rộng thêm, trang bị một số máy móc mới. Nhân viên ngời Âu có khoảng gần chục
ngời làm bàn giấy, đốc công, phụ trách kĩ thuật. Công nhân trong nhà máy khoảng 60 ngời
và chủ yếu là ngời đến từ các làng lân cận, chia làm 3 kíp sản xuất/ ngày. Đa phần trong số
họ là làm công việc xúc rửa chai, thợ mộc, điện, thợ nề.
Nhà máy rợu Phông-ten (Công ty cất rợu Đông Dơng) đợc thành lập năm 1901 ở Hà
Nội. Hãng này có 4 nhà máy ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dơng, Chợ Lớn. Trong quá trình kinh
doanh nấu cất, bán rợu, hãng Phông-ten đã thu đợc nguồn lãi khổng lồ, số vốn tăng

một số ít các nhà t sản Việt Nam mở đợc công ty nh: Văn Điển, Quốc Bảo, Nam Đồng
ích.
Công nghiệp thuộc da
Hà Nội thời kì này đã xây dựng công ty thuộc da trên đất làng Thụy Khuê vào năm
1912. Công ty trực thuộc Công ty thuộc da Đông Dơng (Société des tanneres de I'
Indochine). Sản phẩm ban đầu của nhà máy còn ít ỏi, chỉ đủ cung cấp da thuộc cho nhà
binh và làm dây curoa, một phụ tùng bằng da cho nhà máy dệt Nam Định. Về sau khi qui
mô của nhà máy đợc mở rộng thì da còn đợc cung cấp cho các cửa hàng giày dép ở Hà
Nội. Đến năm 1945, số lợng công nhân tăng lên 300 ngời. Giám đốc nhà máy là ngời
Thụy Sỹ, nhân viên kĩ thuật là ngời Pháp
16
.
Các ngành công nghiệp khác
Công nghiệp làm thuốc lá
Vào những năm cuối của thập niên 90 thế kỉ XIX, nhà máy thuốc lá đầu tiên ở Hà
Nội đợc xây dựng. Trong nhà máy, số nhân viên ngời Pháp không nhiều chỉ có giám
đốc quản lý xí nghiệp và vài kĩ s chuyên môn. Công nhân chủ yếu là ngời Việt mà đa số
là phụ nữ làm ở các bộ phận chọn lá, dọc lá, ủ men, xấy thuốc, thái và quấn thuốc. Đàn
ông đảm nhận phần việc đốt lò, thợ điện, thợ mộc. Công nhân nhà máy là ngời làng Yên
Phụ, Thụy Khuê.
Thuốc lá sản xuất là các loại xỡ gà hộp gỗ, thuốc quấn bao giấy nhãn hiệu
Metropole, Favorite và đa bán ở khắp các thành phố lớn của Đông Dơng. Vào những
năm 1929-1930, cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra và nhà máy thuốc lá phải
đình sản xuất.
Công nghiệp làm diêm
Năm 1921 ở Hà Nội có nhà máy Diêm Achi và công ty Manufacture D' Allumettes
Achi et Compagnie. Đây là nhà máy của Hoa kiều với số vốn 30.000 đồng, sử dụng 190 nam,
435 nữ công nhân (1925). Nhà máy trực thuộc Công ty gỗ và diêm Đông Dơng (SIFA), sản
xuất khoảng 72 triệu bao/năm. Năm 1940, nhà máy ngừng sản xuất.
Công nghiệp in ấn

máy, đèn điện thắp sáng, giầy da, xe ô tô, xe điện. Đó là những hình ảnh lạ lẫm và mới mẻ
với họ. Bóng dáng của nền văn minh công nghiệp đã thấp thoáng xuất hiện.
Có thể nói rằng, trong quá trình xâm chiếm và khai thác thuộc địa, t bản Pháp đã
vấp phải những mâu thuẫn không thể giải quyết vì sợ tổn hại đến công nghiệp chính quốc.
Nhng trong suốt một quãng thời gian dài (1873-1954), ở Hà Nội đã tập trung một lực
lợng lớn t bản Pháp, Hoa Kiều, Nhật Kiều. Và để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng tối
thiểu của bộ phận đó (năm 1929 có 4554 ngời Châu Âu), Pháp đã có sự đầu t về kĩ nghệ
chế biến, xuất hiện các xởng sửa chữa cơ khí quy mô vừa và nhỏ; điện thắp sáng thay cho
đèn dầu. Chúng ta có thể liệt kê một số công nghệ mới liên quan tới lĩnh vực sản xuất công
nghiệp đợc du nhập vào Hà Nội
17
:
1. Công nghệ làm gạch có lỗ, ngói Tây (hay còn gọi là ngói móc)
2. Nghề thủy tinh và công nghệ tráng gơng soi

17
Theo sự thống kê của giám đốc Trung tâm dạy nghề Hà Nội năm 1917 trong cuốn: "Các công nghệ xứ Đông Dơng
thuộc Pháp. Những khái niệm cơ sở về các khoa học ứng dụng".

17
3. Công nghệ làm thuốc lá bằng máy
4. Công nghệ sơn hoá chất
5. Công nghệ làm diêm bằng máy
6. Công nghệ kéo kén và dệt lụa bằng máy
7. Công nghệ thuộc da
8. Công nghệ bia và đồ uống có hơi của Châu Âu
9. Công nghệ làm đá lạnh, kem của Pháp
10. Công nghệ làm chai của Pháp
11. Công nghệ thắp sáng bằng đèn điện
12. Công nghệ in máy Châu Âu

thủ công nghiệp phát triển. Mặc dù vậy, cho đến năm 1930, chính quyền Pháp vẫn cha hề
hoạch định một chính sách rõ rệt và hệ thống về ngành kinh tế này. Chính phủ Pháp
không có chính sách kinh tế theo đúng nghĩa của từ này. Chính phủ đã thúc đẩy ngày càng
mạnh một số kỹ nghệ địa phơng bằng các quyền bảo trợ và để suy vong một số công nghệ
khác mà không có lý do chính đáng nào cho sự phân biệt đối xử đó
18
. Tất nhiên, trong
điều kiện một nền công nghiệp lệch lạc, thiếu cân đối nơi thuộc địa nh vậy thì rõ ràng thủ
công nghiệp vẫn trở nên quan trọng hơn bao giờ hết để bù đắp và đảm đơng những thiếu
thốn đó.
Từng bớc dới sự cai trị của thực dân Pháp, Hà Nội từ vị trí là một thành thị phong kiến
dần trở thành một đô thị thủ phủ của Bắc Kì, một thành phố trung tâm và là thủ phủ của toàn xứ
Đông Dơng. Với chính sách biến thị trờng Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thành nơi
cung cấp, tiêu thụ sản phẩm, thì dù muốn hay không, thực dân Pháp cũng phải có những biện
pháp khuyến khích kinh tế thủ công nghiệp phát triển. Do vậy, bộ mặt thủ công nghiệp Hà Nội
cũng đã có không ít sự biến đổi dới tác động của những khoa học mới ứng dụng trong ngành
này.
Trớc hết, đó là sự du nhập những ngành nghề thủ công mới mà chỉ đến khi thực
dân Pháp đặt ách cai trị mới có.
Kể từ năm 1883 đến 1954, Pháp đã có đợc nhiều cơ hội để truyền bá các kỹ nghệ thủ
công một cách rộng rãi. Nhiều nghề thủ công mới đã nảy sinh và phát triển, nh: nghề làm
đăng ten, nghề đan len, làm mũ cứng, may quần áo kiểu Âu, làm xe tay, công nghệ điện, công
nghệ in máy châu Âu, công nghệ điện ảnh.
Hàng hóa công nghiệp hiện đại này vợt xa về chất lợng các hàng thủ công cổ truyền
đồng loại. Sự du nhập các ngành nghề thủ công nghiệp của phơng Tây vào trong sự phát triển
của kinh tế thủ công nghiệp Hà Nội đã tạo nên tính mới mẻ đan xen cổ truyền. Cùng với sự
biến đổi của tính chất xã hội Việt Nam, thủ công nghiệp Hà Nội bớc sang thời kỳ mới, phù
hợp với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Và cũng chỉ đến lúc này, khái niệm thủ công
nghiệp mới thực sự xuất hiện với đúng nghĩa của nó.
Tuy nhiên, sự xuất hiện và phát triển của các nghề thủ công mới cũng làm cho nhiều

triển cùng với công nghệ thuốc lá làm bằng tay cổ truyền. Công nghệ làm trà đen, trà mộc,
cũng đợc kích thích nhờ sự du nhập của máy móc. Nghề giấy cổ truyền có sự ứng dụng công
cụ sản xuất mới của Pháp du nhập, nghề kéo sợi và dệt vải bông cổ truyền có các ứng dụng
công cụ sản xuất mới.
Sự kết hợp đan xen công nghệ cổ truyền với công nghệ hiện đại, nằm trong lợi ích
chung của Chính phủ Pháp, mang lại cho chính quốc những sản phẩm thủ công có giá trị,
nhiều về số lợng, tốt về chất lợng. Sản phẩm thủ công đợc xuất khẩu, quảng cáo ra nớc
ngoài thông qua các hội chợ triễn lãm (đấu xảo), qua giao dịch buôn bán của giới thơng
nhân. Pháp không ngần ngại mở hàng loạt các trờng Kỹ nghệ ở Hà Nội cùng nhiều địa
phơng khác, phổ biến kỹ thuật, giới thiệu các loại máy móc hiện đại.
Ngày 27/10/1924 Toàn quyền Đông Dơng ký nghị định thành lập Trờng Mỹ
thuật Đông Dơng đặt tại Hà Nội. Trờng nhằm mục tiêu đào tạo những nghệ nhân thủ
công mỹ nghệ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và xuất khẩu. Chơng trình đào tạo khóa đầu
có 12 học sinh học trong 3 năm. Từ năm 1926, chơng trình học tập kéo dài thành 5 năm.

20
Năm 1927, có thêm ngành kiến trúc.
Năm 1928, bắt đầu nghiên cứu nghệ thuật sơn mài. Lúc này, học sinh không chỉ
học mỹ thuật kiến trúc mà có cả mỹ nghệ đặt trên cơ sở sự nghiên cứu kết hợp tự nhiên với
truyền thống. ở một phơng diện nghề nghiệp nữa phải kể tới việc thành lập các trờng
dạy nghề.
Cho tới năm 1929, ở Bắc Kỳ có 2 trờng chính: trờng nghệ thuật ứng dụng Hà Nội
239 học sinh và trờng công nghệ thực hành Hải Phòng 179 học sinh.
Có thể nói, sự kết hợp này đã tạo nên gơng mặt mới trong làng thủ công Hà Nội,
đây cũng chính là cơ sở để sau ngày hòa bình lập lại Hà Nội nhanh chóng phát huy đợc thế
mạnh của mình, trở thành chỗ dựa vững chắc cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị của chúng đã ổn định, chính quyền thực dân ra
sức tuyên truyền cho thuộc địa Đông Dơng của chúng với thế giới.
Cuộc đấu xảo lần thứ nhất của thực dân Pháp mở ở Hà Nội (15/11/1902 -
30/06/1903), trng bày hàng hóa của Đông Dơng và hầu hết các nớc ở Viễn Đông. Cuộc

phối các hoạt động kinh tế ở Thủ đô, trong đó hoạt động sản xuất thủ công nghiệp là một
biểu hiện sinh động.
Ngoài sự có mặt của Pháp với t cách là kẻ đi xâm lợc, ở Hà Nội lúc này các hoạt
động kinh tế của thơng nhân một số nớc khác cũng diễn ra sôi nổi, mà điển hình là hoạt
động kinh tế của thơng nhân Hoa Kiều, ấn Độ hay Nhật Bản. Dù muốn hay không thì sự
có mặt này cũng đã tác động nhất định đến chính sách kinh tế thuộc địa của Pháp nói
chung cũng nh chính sách đối với thủ công nghiệp ở Hà Nội. Cho đến năm 1891, Hà Nội đã
có 72 hãng buôn của ngời Hoa. Trớc khi thực dân Pháp xâm lợc và thống trị Hà Nội,
ngời Hoa Kiều phần lớn tập trung ở các phố Hàng Buồm, Hàng Ngang, Hàng Bồ, Phúc Kiến.
Những hàng hóa họ đa từ Trung Quốc qua phần nhiều là thuốc bắc và vải. Họ đã sinh cơ lập
nghiệp ở đây hết đời này qua đời khác, và có nhiều kinh nghiệm buôn bán cho nên họ nắm
những nguồn thơng mại quan trọng.
Khi thực dân Pháp mới sang, bọn t bản Pháp phải đơng đầu với 400, 500 nhà buôn
Hoa kiều ở Hà Nội và Hải Phòng. Vì thế, đến khi t Bản Pháp bắt đầu mở mang những xí
nghiệp và cơ sở thơng mại của chúng ở Hà Nội thì chúng buộc phải thi hành chính sách
thuế quan để bảo vệ u thế cho hàng của chúng, Pháp tìm cách hạn chế và chèn ép hoạt
động kinh tế của thơng nhân Hoa Kiều; điển hình nh
việc Pháp mua lại nhà máy rợu Hà
Nội do Trần Trúc Sơ ngời Hoa xây dựng nên, hay bán lại nhà máy diêm cho Hoa kiều sau
khi đã xây dựng và làm ăn thua lỗNgoài những hoạt động kinh tế của Hoa Kiều, còn có
những hoạt động của ấn kiều và Nhật kiều. Hoạt động đáng kể nhất trong số thơng nhân
này là buôn vải của ngời ấn, các đồ gốm sứ - hơng liệu của ngời Nhật Bản.
Tuy không đóng vai trò chủ đạo để có thể nắm độc quyền nền kinh tế thủ công
nghiệp ở Hà Nội nh đội quân xâm lợc thực dân Pháp. Thế nhng, trên thực tế các hoạt
động kinh tế của thơng nhân Hoa, ấn hay Nhật Bản đã góp thêm phần kỹ thuật nhất định
vào những nghề đã có ở Hà Nội nh: nghề may mặc, dệt tay, đồ vàng bạc, thủy tinh, làm
tơng, đậu phụ, giấy trang kim, các đồ gốm sứCác sản phẩm thủ công nghiệp của Hà
Nội luôn đợc đòi hỏi phải tự cải tiến mẫu mã để phục vụ cho giao lu trao đổi thơng
mại, đồng thời đó cũng là một phơng pháp cạnh tranh lâu dài.
Qua tìm hiểu những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực thủ công nghiệp

ích. Một số công thơng gia Việt Nam cũng đã nghiên cứu sản xuất đợc những hàng nội hóa
để thay thế cho hàng ngoại quốc nh các loại vải may âu phục, dầu để pha sơn, nhựa gắn, sơn
dầu véc ni Chế độ thuê mớn nhân công cũng đã xuất hiện trong trung tâm gốm Bát Tràng.
Tại đây có khoảng 20 lò gốm, trung bình mỗi lò thuê 30 40 nhân công. Có thế lực kinh tế,
nhiều ngời trong số họ trở thành Hội viên thành phố, nghị viên dân biểu Bắc Kỳ, thành viên
Hội nghị lý tài Đông Dơng, hoặc đợc phẩm hàm của vua nhà Nguyễn. Dới tác động của
chế độ thực dân nói chung, kết cấu dân c xã hội đô thị có không ít thay đổi, sự xuất hiện
ngày càng nhiều của những tầng lớp, giai cấp mới nh t sản, tiểu t sản thành thị làm đậm

23
thêm lối sống và sinh hoạt đô thị. Những t tởng, tác phong mới từng bớc đợc hình thành ở
ngời Việt Nam nói chung và đặc biệt là ngời Hà Nội nói riêng qua sự tiếp xúc bắt buộc với
nền văn minh phơng Tây.
Thế nhng, cũng trong khi đó một lớp ngời khác bị sa sút về chính trị và kinh tế,
đời sống của họ bị đảo lộn, đây là mặt hạn chế trong quá trình du nhập khoa học, các kỹ
nghệ thủ công mới vào trong thủ công nghiệp truyền thống của Hà Nội. Với việc sử dụng
đất để thành lập các nhà máy, khu c trú, khu phố Tây xuất hiện để cho không biết bao
nhiêu ngời ở xung quanh và phía Nam Hồ Hoàn Kiếm phải mất cơ nghiệp, tha phơng
cầu thực hoặc phải đi làm thuê. Đặc biệt, không biết bao nhiêu ngời trớc sự tràn ngập
của hàng hóa Pháp và ngoại quốc khác, chất lợng tốt hơn, đáp ứng thị hiếu mạnh hơn
hàng thủ công nên đã phải bỏ nghề hoặc làm bất cứ một công việc gì để sống cho qua
ngày đoạn tháng, nhiều phờng chuyên nghiệp trớc kia cũng bị sa sút hoặc bị phá vỡ,
nhiều nghề thủ công nghiệp cổ truyền đã mất đi nh giấy làng Bởi, dòng tranh dân gian
Hàng Trống, nghề thêu cổ truyền, vải dệt Lĩnh Bởi
Nhìn lại Thăng Long Hà Nội của chúng ta đã trải qua quá trình lịch sử truyền
thống trải dài gần 1000 năm. Với thời gian đó, vai trò khoa học ngày càng đợc khẳng
định và trở thành nhân tố thờng trực không thể thiếu cho sự phát triển chung. Tìm hiểu
những chứng cứ về ứng dụng khoa học trong lĩnh vực sản xuất TTCN ở Hà Nội thời Pháp
thống trị góp phần khẳng định nhận định này.
2. Nông nghiệp

rau quả ôn đớivà một số giống vật nuôi: bò Ôgôn, sin, lợn Yoocsai, ngựa Arập, cừu Vân
Nam
Bên cạnh đó, trong quá trình cai trị ở Việt Nam nói riêng và xứ Đông Dơng nói
chung, ngời Pháp đã có nhiều kết quả nghiên cứu khoa học về điều kiện tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên của kinh tế nông nghiệp. Đây đợc xem là những tri thức quý báu, đặt nền tảng
cho lĩnh vực khoa học nông nghiệp Việt Nam, nh: về sử dụng đất của R.Pasquier, về thú y
của A.Yersin, về chăn nuôi của Narvard Duclos, về cây ăn quả của A.Chevalier,
Ch.LemariéNgoài ra, t bản Pháp đã cho mở trờng đào tạo cán bộ chuyên môn về nông
nghiệp và lập viện nghiên cứu nh: túc mễ cục Đông Dơng, Viện Hải dơng học ở Nha
Trang
Nh vậy, trên cơ sở các chính sách về nông nghiệp nói chung và khoa học nông
nghiệp nói riêng đó đã tác động không nhỏ đến tình hình sản xuất, thành tựu trong nông
nghiệp của Việt Nam. Nó đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học nông nghiệp nớc
nhà ở thời kì sau.
Xuất phát từ chính sách chung này thì Hà Nội, với vai trò là thủ phủ của Đông
Dơng, có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học nông nghiệp trong một
chừng mực nhất định.
2.2. Thực trạng phát triển của khoa học nông nghiệp ở Hà Nội dới thời Pháp thống
trị
Hà Nội thời kì trớc khi thực dân Pháp xâm lợc đã đạt đợc ít nhiều thành tựu
trong nông nghiệp: một năm làm từ 2 đến 3 vụ và có tiến hành thâm canh, tăng năng suất
từ 10 - 11ta/ha/vụ (thế kỉ XI) lên 15 - 20tạ/ha/vụ (thế kỉ XIX)
19
. Bên cạnh đó, nhân dân Hà
Nội còn tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi mang dấu ấn riêng nh: lúa Mễ Trì, gà

19
Bách khoa th Hà Nội, Tập 6, Khoa học và công nghệ, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr 30


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status