CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC KX.09
"Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô".ĐỀ TÀI KX.09.08: "Phát triển khoa học và
trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội"
***************
ĐỀ TÀI NHÁNH 5:
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI
Ở THĂNG LONG - HÀ NỘI
THỜI NHÀ NGUYỄN Thực hiện: 1. PGS-TS Nguyễn Văn Nhật (chủ trì)
Viện Sử học
2. TS Hà Mạnh Khoa
Viện Sử học
3. PGS-TS Tống Trung Tín
Viện Khảo cổ học
6955-5
22/8/2008
TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học
8. Chuyên đề 7: Những khoa thi trong thờ
i nhà Nguyễn. 175
TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học
9. Chuyên đề 8: Những giá trị truyền thống và bài học về sử dụng nhân 202
tài của Thăng Long trong thời nhà Nguyễn.
TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học
10. Chuyên đề 9: Những nhân tài nổi bật ở Thăng Long thời nhà Nguyễn. 215
TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học
2
Bỏo cỏo tng hp Nhỏnh 5PHT TRIN KHOA HC V TRNG DNG NHN TI
THNG LONG - H NI THI NGUYN
Thời Nguyễn kéo dài 143 năm (1802-1945). Nhng trên thực tế triều đại nhà
Nguyễn chỉ tự chủ và kiểm soát đợc đất nớc trong 80 năm đầu của thế kỷ XIX
(1802-1883) với 4 đời vua là Gia Long (1802-1820), Minh Mạng (1820-1841),
Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883). Trong khoảng thời gian đó, nhà
Nguyễn đã đề ra hàng loạt các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hộivà
trên thực tế các chính sách đó đã để lại những dấu ấn lịch sử không bao giờ phai mờ
trên các phơng diện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, bang giao quốc tế
Sau khi chiếm đợc Bắc Thành, Gia Long không định đô ở Thăng Long mà
chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên đặt từ thời Lê, nhng vẫn đặt viên quan đứng đầu ở
phủ này có phẩm hàm ngang gần với quan đứng đầu các trấn (Các tri phủ đứng đầu
các phủ trong trấn chỉ có hàm Chánh lục phẩm) v vn coi l mt n v trc thuc
ngang vi trn tc trc thuc trung ng. n nm Minh Mng th 12 (1831), tin
hnh mt t ci cỏch hnh chớnh ln, b Bc Thnh (gm 11 trn v 1 ph trc
thuc) min Bc, chia thành 15 tnh trc thuc trung ng. T
nh H Ni gm ph
Hoi c, ph ng Ho, Thng Tớn, Lý Nhõn.
- Ph Hoi c gm 3 huyn: Th Xng, Vnh Thun, T Liờm.
- Ph Thng Tớn gm 3 huyn: Thng Phỳc, Thanh Trỡ, Phỳ Xuyờn.
- Ph ng Ho gm 4 huyn: Sn Minh (nay l ng Hũa), Hoi An (nay l
phớa nam ng Hũa v mt phn M c), Chng c (nay l Chng M),
Thanh Oai.
- Ph Lý Nhõn gm 5 huyn: Nam Xang (nay l Lý Nhõn), Kim Bng, Duy
Tiờn, Thanh Liờm, Bỡnh Lc.
Đến thời điểm này, Hà Nội có 102 tổng và 1.037 phờng, xã, thôn, trại, sở.
(Thiếu số liệu của huyện Nam Xang, nay l Lý Nhân). Tờn g
i H Ni bt u cú t
by gi (1831). Đến năm 1888, thực dân Pháp đổi hai huyn Thọ Xơng và Vĩnh
Thuận làm huyện Hoàn Long và đổi tên tỉnh Hà Nội là Hà Đông. Năm 1890 lại tách
phủ Lý Nhân đặt làm tỉnh Hà Nam.
Vào thời điểm này, Thọ Xơng và Vĩnh Thuận là vùng đất cơ bản của kinh
thành Thăng Long xa. Huyện Thọ Xơng có 8 tổng, 194 phờng, thôn, trại. Huyện
Vĩnh Thuận có 5 tổng, 56 phờng, thôn, trại. Tng cng ph Hoi Đc, tc kinh
thnh Thng Long c, gm 13 tng, 239 phng, thôn, tri và nay tơng ứng với
các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trng, và một phần phía Đông của quận Ba Đình,
Đống Đa và vùng ven Hồ Tây của Thủ đô Hà Nội. Trong thành có rất nhiều ngời
Hoa sinh sống và buôn bán. Hà Nội là một địa phơng có số ngời Hoa đông nhất
Bắc kỳ.
2
:
- Huyện Thọ Xơng có tổng diện tích là 1.947 mẫu 4 sào 3 thớc 4 tấc
(1417,3 ha). Đến năm Đồng Khánh là 1.904 mẫu. Trong tổng số ruộng đất thống kê
thì t điền có hơn 202 mẫu (10,39%); công điền thổ có hơn 500 mẫu (25,72%); các
loại khác hơn 1.244 mẫu (63,89%). Trong diện tích t điền phân bố cho 146 chủ sở
hữu. Bình quân mỗi chủ sở hữu là hơn 1 mẫu 3 sào 12 thớc Trong 146 chủ sở
hữu đó thì chủ có từ 20 đến 50 mẫu chỉ có 1; từ 10 đến 20 mẫu là 1; từ 5 đến 10
mẫu là 6; từ 3 đến 5 mẫu là 4; từ 1 đến 3 mẫu là 42 và dới 1 mẫu là 92.
- Huyện Vĩnh Thuận có tổng diện tích là 3.931 mẫu 6 sào 9 tấc (1417,3
ha). Trong tổng số ruộng đất thống kê thì t điền có hơn 272 mẫu (6,94%); công
điền thổ có hơn 1943 mẫu (49,44%); các loại khác hơn 1.943 mẫu (43,62%). Trong
diện tích t điền phân bố cho 179 chủ sở hữu. Bình quân mỗi chủ sở hữu là hơn 1
mẫu 4 sào 10 thớc Trong 179 chủ sở hữu đó thì chủ có từ 10 đến 20 mẫu là 1; từ
5 đến 10 mẫu là 5; từ 3 đến 5 mẫu là 13; từ 1 đến 3 mẫu là 73 và dới 1 mẫu là 87.
Qua đó ta thấy bình quân chủ sở hữu ở đây rất thấp, trong khi đó ở Hà Đông là
hơn 3 mẫu 5 sào. Do đó cách sử dụng đất để sản xuất của ngời dân Thăng Long-Hà 1
Đại Nam nhất thống chí. Nxb KHXH, H 1971, T III, tr 164
1
Đại Nam nhất thống chí. .Sđd, tr 169
2
. Dẫn theo Phan Huy Lê Địa bạ cổ Hà Nội trong Tìm về cuội nguồn, Nxb Thế giới, H 1999, TI.
5
Nội không chỉ trồng cây lơng thực mà còn trồng nhiều loại cây khác có giá trị kinh
tế cao.
Huyện Vĩnh Thuận tuy là một huyện của đô thị cổ Hà Nội, nhng kinh tế nông
Ngoài nghề nông là chủ yếu, đến thời kỳ này kinh tế công thơng nghiệp của
Thăng Long - Hà Nội không đợc bằng nh các thời kỳ trớc. Các phờng, thôn
chuyên nông nghiệp và kết hợp nghề thủ công chủ yếu tập trung ở phía Tây và
Nam. Khu vực buôn bán dồn về phía Đông và mở rộng phía Đông Nam gần bờ sông
Hồng. 1
Đại Nam nhất thống chí. .Sđd, tr 194.
1
. Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân di triều Nguyễn. Nxb Thuận Hoá 1997, tr 118.
6
2. Thủ công nghiệp. Từ những thế kỷ XVII, XVIII, thủ công nghiệp đã có ở
kinh thành Thăng Long và tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XIX.
- Nghề đúc đồng
Sang thế kỷ XIX, nghề đúc đồng vẫn tiếp tục phát triển trong các lò đúc ở
Thăng Long - Hà Nội. Trong những năm đầu của triều đại Gia Long, ngoài việc đúc
các đồ dùng bằng đồng, còn có cả việc nhà nớc giao cho việc đúc tiền nữa. Theo
đó, Nhà nớc sai những thợ đúc tiền mua sắm đồng riêng, dựng lò để đúc, y theo
kiểu mẫu đồng tiền mới mà đúc, mỗi lò thu thuế 1 vạn quan. Đây là hình thức Nhà
nớc gia công cho các thợ đúc tự do, quy chế khá rộng rãi so với những điều lệ về
đúc tiền trong thời gian sau này.
- Nghề vàng bạc
Theo những điều kiện hiểu biết của chúng ta cho đến ngày nay, có lẽ cơ sở
làm nghề vàng bạc sớm nhất của kinh thành Thăng Long là làng Định Công (thuộc
Thanh Trì, Hà Nội). Nghề vàng bạc ở Thăng Long - Hà Nội đã đạt đến trình độ kỹ
thuật khá tinh vi. Ngời ta phân chia thành 3 khâu kỹ thuật khác nhau: nghề chạm
(chạm trổ hàng vàng bạc), nghề đậu (kéo vàng bạc thành sợi nhỏ để trang trí) và
vào khoảng gần giữa thế kỷ này, khi Thăng Long đổi tên thành Hà Nội.
Tuy ra đời tơng đối muộn, nghề khảm xà cừ ở phố Hàng Khay đã phát triển
nhanh chóng trong nửa sau của thế kỷ XIX, đa nghề thủ công này lên tới địa vị của
một nghề thủ công chủ yếu của Hà Nội cũ, với một kỹ thuật và một nghệ thuật tinh
xảo hiếm có.
- Nghề khắc ván in
Thăng Long - Hà Nội từ nhiều thế kỷ vẫn là một trung tâm văn hoá của cả
nớc. Vì vậy, nghề khắc ván in sách ở đây đã sớm phát triển.
- Nghề dệt
Trong thế kỷ XVII và XVIII, nghề dệt ở Thăng Long - Hà Nội đã đạt tới mức
thịnh đạt của nó. Trọng điểm của ngành tiểu công nghệ này vẫn chỉ là các cụm làng
dệt phía Bắc, ven Hồ Tây là Yên Thái, Trích Sài, Bái Ân và Nghĩa Đô. Phờng
Nhợc Công (khu Thành Công ngày nay) cũng là một phờng có nhiều cơ sở dệt tập
trung.
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi giáo sĩ Bissachère đến Thăng Long và
các tỉnh Bắc Kỳ, thì kỹ thuật của các nghề dệt ở đây có thể đã đạt tới mức cực thịnh
của nó. Viên giáo sĩ này kết luận: Ngành nghề mà ngời ta đã thành công hơn cả
là nghề dệt vải lụa Những vải bông ở Bắc kỳ hơn hẳn những vải bông ở Nam Kỳ,
rất mịn và đẹp đến nỗi ngời ta thích hơn cả những đồ tơ lụa, và ngời ta đã mua
nó với giá đắt hơn Nghề dệt vải, tơ lụa dệt tại Trung Quốc. Những tấm sa tanh
(lĩnh) của Bắc Kỳ thật là đẹp, chắc bền .
Cho đến cuối thế kỷ XIX, mặc dù Hà Nội không còn là kinh đô của cả nớc,
nhng vẫn rất nổi tiếng trong nghề dệt vải lụa.
Ngoài những nghề thủ công kể trên, ở Thăng Long - Hà Nội còn có một số
nghề thủ công khác nh nghề làm vàng mã, nghề làm lợc, nghề làm đồ thiếc, nghề
làm hơng, nghề nấu rợu, nghề làm bún, nghề nấu kẹo mạch nha, nghề làm bánh
kẹo
Và ngoài ra còn có xởng đúc tiền. Ngay sau khi diệt nhà Tây Sơn và lên
ngôi vua, năm 1803, Gia Long đã khẩn trơng cho mở một cục đúc tiền ở Bắc
Thành (Bắc Thành tiền cục). Sự thành lập mau chóng của một xởng đúc tiền tại
Môn là Kỳ Đài tức Cột Cờ ngày nay. Toàn bộ Cột Cờ cao 33,4m (cả trụ treo cờ là
trên 41m).
Thành Hà Nội đời Nguyễn đ
ợc ca ngợi Đây là một kiệt tác của nền kiến
trúc An Nam.
Năm 1848, Tự Đức cho tháo dỡ hầu hết những cung điện trong thành, chuyển
tất cả các đồ quý giá về Huế. Đến năm 1895, thực dân Pháp phá hủy thành.
- Đền Ngọc Sơn. Đây là một qun thể kiến trúc đợc xây dựng vào các năm
1841-1842 dới thời Thiệu Trị. Vào năm 1864-1965, Nguyễn Văn Siêu đứng ra sửa
lại đền và tạo dựng thêm một số công trình văn hóa nh làm cầu từ đền vào bờ và
đặt tên là cầu Thê Húc. Trên núi Độc Tôn, ông cho xây một ngọn tháp bằng đá
xanh, hình giống cây bút lông nên gọi là Tháp bút và thân tháp viết 3 chữ lớn tả
thanh thiên.
9
- Văn Miếu Hà Nội cũng đợc tu bổ. Năm 1802, Gia Long cho xây Khuê
Văn các, đổi nhà Thái học làm điện Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử.
- Trờng học đến đầu nhà Nguyễn chuyển về khu vực phố Trờng Thi (địa
điểm Th viện Quốc gia). Đến năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), xây gạch xung quanh
trờng. Trờng có chu vi 182 trợng 1 thớc (728m), bên trong có 21 tòa, đờng,
sảnh, viện.
Ngoài ra thời kỳ này còn có rất nhiều các công trình kiến trúc khác do các tổ
chức quyên góp và cá nhân tự xây dựng, góp phần tạo nên bộ mặt Hà Nội phố
phờng dọc ngang nh bàn cờ, lòng đờng lát gạch, nhà ngói nh bát úp, nhà cửa
san sát, c dân đông đúc, nhân vật phồn thịnh.
Tổng hợp lại toàn bộ tài liệu th tịch, hồi ký, khảo cổ, có thể thấy các
công trình xây dựng đều mang đậm phong cách thời Nguyễn, đợc xây dựng bằng 4
loại vật liệu chính: đá xanh, gạch vồ, gạch chỉ và đá ong. Việc sử dụng từng loại vật
liệu đợc kết hợp vào từng vị trí thích hợp. Vật liệu kết dính có sự tham gia của vôi
vữa, gạch vụn và đất sét. Hình dáng, kỹ thuật xây dựng thành hoàn toàn mới, nhng
chùa Trấn quốc; chùa Quán sứ; chùa Kim Liên; chùa Lángvà các danh thắng cổ
tích nh: Núi Nùng; sông Tô Lịch; sông Kim Ngu; hồ Hoàn Kiếm; hồ Bảy Mẫu;
hồ Trúc Bạch; thành Cổ Loa; thành Đại La; đàn Nam Giao; bến Chơng D-
ơngVà dới thời Nguyễn hàng loạt các công trình văn hoá đợc xây dựng thêm và
đến nay đã trở thành những di sản văn hoá nổi tiếng có giá trị không chỉ đối với Hà
Nội và cả nớc mà cả thế giới đều biết đến.
3. Xây dựng những cơ quan hoạt động khoa học năng động và đạt hiệu
quả cao.
Quốc Sử Quán: Quốc sử quán là cơ quan do triều đình thành lập để chuyên
biên soạn Quốc sử. Hàng chục công trình lớn nh: Đại Nam Thực Lục, Đại Nam
Nhất Thống Chí đã đợc Quốc sử quán biên soạn công phu với tính học thuật cao.
Về mặt thể loại, các bộ sách do Quốc sử quán biên soạn bao gồm cả sách biên niên
sử, thực lục, hội điển, toát yếu, gia phả Quốc sử quán là một cơ quan chuyên trách
nhng lại rất đa năng trong hoạt động. Căn cứ vào kết quả hoạt động của cơ quan
này, có ngời đã đánh giá rằng, Quốc sử quán là một viện Hàn Lâm về khoa học xã
hội và nhân văn của Việt Nam trong thế kỷ XIX.
Thái Y viện: Thái Y viện đợc thành lập từ năm 1802, năm 1804 đợc bổ
sung thêm để hoàn thiện về tổ chức. Thái Y viện là cơ quan chuyên chăm sóc sức
khoẻ cho vua và Hoàng gia nhng dới thời Nguyễn, cơ quan này đã có vai trò rất
quan trọng trong việc kế thừa và phát triển nền y học truyền thống của dân tộc.
Khâm Thiên giám: là cơ quan chuyên về lịch pháp và thiên văn của triều
Nguyễn, đợc thành lập từ đầu thời Gia Long (1802 1820), hoạt động chủ yếu của
Khâm Thiên giám là xem các hiện tợng tự nhiên để báo điềm lành dữ, chọn ngày
tốt xấu, dự báo về thời tiết, thuỷ văn và đặc biệt là làm lịch.
Việc làm lịch ở nớc ta, trớc năm 1810 đều đợc soạn ra trên cơ sở lịch của
Trung Quốc. Từ sau năm 1810, triều Nguyễn đã giao cho Khâm Thiên giám nghiên
cứu sách Đại Thanh Lịch Tơng Khảo Thành do Nguyễn Hữu Thận đi sứ Trung
Quốc đem về để biên soạn bộ lịch mới phù hợp hơn. Đặc biệt, bộ lịch này có tham
chiếu cả lịch phơng Tây nên rất chính xác.
sộ các tác phẩm, tác giả đợc in ấn và phổ biến của thời Nguyễn có thể đơn cử một
số sách tiêu biểu nh sau:
Văn học
:
1. Ngự chế tiểu bình tạc khấu thi tập. 1 quyển, do Minh Mạng (1791- 1840),
soạn, in năm Minh Mạng thứ 16 (1835).
2. Ngự chế tiểu bình Bắc Kỳ nghịch phỉ thi tập. Một quyển, do Minh Mạng
(1791- 1840) soạn, in năm Minh Mạng thứ 16 (1835).
12
3. Thơng sơn thi tập. Gồm 10 tập (56 quyển), do Nguyễn Miên Thẩm (1819-
1870) soạn, in năm 1872.
4. Vi dã hợp tập. Gồm 12 quyển, do Nguyễn Miên Trinh (1820-1897) soạn,
in năm 1875.
5. Giá Viên toàn tập. Gồm 26 quyển, do Phạm Phú Thứ (1820- 1882) soạn, in
vào khoảng năm 1896-1900.
6. Vịnh sử thi tập. Gồm 2 quyển, do Nguyễn Đức Đạt (1824-1887) soạn, in
năm 1883.
7. Tốn Am thi sao. Gồm 4 quyển, do Bùi Văn Dị (1832- ?) soạn, in năm 1894.
8. Hoàng Việt thi tuyển. Khắc in năm Minh Mạng thứ 6 (1825). Tác giả: Bùi
Huy Bích (1744- 1818), quê ở làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
9. Hoàng Việt văn tuyển. Khắc in năm Minh Mạng thứ 6 (1825). Sách khổ
25x15, Tác giả: Bùi Huy Bích (1744- 1818), quê ở làng Định Công, huyện Thanh
Trì, Hà Nội.
10. Danh thi hợp tuyển. Do Trần Công Hiên ( ?- 1817) và Trần Huy Phát
(1754-1834) biên soạn. Sách in năm Gia Long thứ 13 (1814), do nhà in Hải Học
đờng in. Bộ sách gồm 12 quyển, có 1.669 bài luật thi.
11. Cấn Trai thi tập. Do Trịnh Hoài Đức (1765- 1825) soạn, in năm 1819.
Đây là toàn tập thơ của Trịnh Hoài Đức, có 3 tập.
12. Kim Vân Kiều truyện (thờng gọi là truyện Kiều). Do Nguyễn Du (1766-
Tị - 1881).
7. Đại Nam Quốc sử diễn ca. Do Lê Ngô Cát (1827-1875) soạn. Sách đợc in
vào năm 1873.
Sách Luật pháp, Hành chính
1. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, 262 quyển. Nội các triều Nguyễn biên
soạn. Bộ Hội điển này làm theo chỉ dụ của nhà vua các năm Thiệu Trị thứ 3 (1843),
Thiệu Trị thứ 6 (1846), Tự Đức thứ 3 (1850), đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) thì làm
xong. Sách biên chép tất cả các dụ chỉ, sắc lệnh, chiếu chỉ đã đem thi hành, kể từ
năm 1802 đến năm 1851.
2. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tục biên). Gồm 60 quyển và quyển
mục lục, in năm Khải Định thứ 2 (1917).
3. Hoàng Việt luật lệ, 22 quyển, do Đinh thần triều Nguyễn Gia Long là Tiền
quân Bắc thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757-1817) làm Tổng tài và Vũ
Trinh (1769-1828), Trần Hựu soạn dới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Gia Long. Sách
in bản đầu tiên năm 1812 ở Trung Quốc, giấy Vũ Di (khổ 31ì20), và in lần thứ hai
vào đời vua Minh Mạng.
4. Ngự chế văn tập. Do Minh Mạng soạn, gồm 2 tập, là những đạo dụ do
Minh Mạng soạn thảo và ban ra từ khi lên ngôi (1820) đến khi qua đời (1840). In
xong tháng Sáu năm 1841.
Sách Giáo dục
1. Hơng thí văn tuyển: Nhiều tác giả không ghi tên, sách in ván gỗ năm
1855, giấy bản thờng ( khổ 25ì15), khắc in rõ ràng.
2. Khải đồng thuyết ớc, 2 quyển (thợng, hạ). Phạm Vọng (thế kỉ XIX)
soạn, ngời làng Kinh Đô, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, Ngô Thế Vinh nhuận
sắc, sách in ván gỗ năm 1881.
3. Việt sử tân ớc toàn biên, 2 quyển, Hoàng Đạo Thành soạn, ngời làng
Kim Lũ, huyện Thanh Trì, sách in năm 1906.
năm Minh Mạng thứ 20 (1839).
2. Nhật dụng thờng đàm. Một quyển do Phạm Đình Hổ, soạn năm 1848, in
năm 1851.
3. Tự học cầu tinh ca. Một quyển, do Đ Huy Uyển soạn, in năm 1880.
4. Thiên tự văn giải âm. Một quyển, không có tên tác giả, in năm 1890.
5. Đại Nam quốc ngữ. Một quyển, do Hải Châu tử (Nguyễn Văn San) biên
tập, in năm 1899.
6. Tự học giải nghĩa ca. Gồm 13 quyển, do Tự Đức soạn, nhng đến năm
Thành Thái thứ 10 (1898) mới in.
15
7. Nam phơng danh vật bị khảo. Gồm 2 quyển, do Đặng Xuân Bảng soạn
năm 1901, in năm Nhâm Dần (1902).
Tôn giáo. triết học
1. Nam Sơn tùng thoại, 4 quyển. Do Nguyễn Đức Đạt soạn, in năm Tự Đức
thứ 33 (1880).
2. Nhân thế tu tri, 8 quyển, do Cao Xuân Dục (1842-1923), biên tập.
3. Đạo giáo nguyên lu, 3 quyển, biên soạn vào khoảng năm Minh Mạng thứ
6 (1825) và in năm 1846. Tác giả là một Cao tăng không rõ họ tên, pháp danh là An
Thiên. Ông trụ trì ở chùa Đại Giác Bồ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
4. Tiên phả dịch lục, 1 quyển, do Kiều Oánh Mậu (1854-1912) soạn năm
1910.
5. Kim Cơng phát nguyện khoá h quốc âm, 1 quyển, do Phúc Điền hoà th-
ợng Sa Môn An Thiền dịch ra quốc âm. Gồm nhiều bộ sách gộp lại. Sách in từ năm
1840 đến năm 1861.
Sách khoa học kỹ thuật
.
1. Tân thuyên Hải Thợng Y tông tâm lĩnh toàn trật: 66 quyển (nhng hiện
bản in chỉ còn 55 quyển). Lê Hữu Trác soạn, nhng năm 1885 mới đợc in, nên nó
Nguyễn Văn Siêuvà rất nhiều những thầy dậy học nổi tiếng.
- Cách thi cử
Phép thi cử và tuyển chọn có nhiều thay đổi và rất chặt chẽ. Năm 1807, vua
Gia Long cho mở khoa thi Hơng đầu tiên, phép thi phỏng theo phép thi cử đời Lê.
Kỳ thi Hơng đầu tiên dới triều Nguyễn đợc tổ chức vào năm 1807, cả nớc
có 6 trờng thi đặt ở 6 địa điểm, trong đó trờng Kinh Bắc (thi chung cho cả Hà
Nội, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng). Đến năm Quý Dậu (1813), trờng Thăng
Long thi chung cho thí sinh Hà Nội, Kinh Bắc, Sơn Tây, Tuyên Quang, Thái
Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoài Đức, Hng Hoá. Năm Giáp Ngọ (1834), trờng
Hà Nội chỉ dành cho thí sinh thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây, Tuyên Quang, Thái
Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hng Hoá.
Từ năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807) đến năm Mậu Ngọ, Khải Định thứ 3
(1918), nhà Nguyễn đã tổ chức 47 kỳ thi Hơng lấy đỗ 5.208 ngời. Trong đó
Thăng Long - Hà Nội có 450 ngời đỗ.
Nhà Nguyễn lập kinh đô ở Huế. Tất cả các kỳ thi Hội đều đợc tổ chức ở
kinh thành. Thi Đình quy định thi tại sân rồng trong cung điện nhà vua.
Định kỳ và thể thức thi vẫn theo quy định của nhà Lê, nhng theo lệ tứ bất
(bốn không) do Gia Long đặt ra là : Không lập Hoàng hậu; không đặt Tể tớng;
không lấy Trạng nguyên và không phong t
ớc vơng cho ngời ngoài Hoàng tộc.
Nh vậy, ngời thi đỗ đầu kỳ thi không đợc mang danh hiệu Trạng nguyên mà chỉ
có danh hiệu từ Bảng nhãn trở xuống. Năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mạng tổ
chức khoa thi Hội đầu tiên dới triều Nguyễn.
- Kết quả thi cử
Từ năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mạng tổ chức khoa thi Hội đầu tiên đến
năm Kỷ Mùi, đến năm Khải Định thứ 4 (1919), nhà Nguyễn tổ chức đợc 39 khoa
thi Hội, lấy đỗ đợc 558 ngời. Trong số 558 ngời đỗ Đại khoa có: 292 Tiến sĩ (Đệ
nhất giáp 11 ngời: Bảng nhãn 2 ngời, Thám hoa 9 ngời; Đệ nhị giáp - Hoàng
giáp 54 ngời; Đệ tam giáp (đồng Tiến sĩ xuất thân) 227 ngời); Phó bảng 266 ng-
ời.
hiệu Minh Mạng thứ 16 (1835), Lu Quỹ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
8. Nguyễn Văn Tùng (1810-1840), ngời xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông
Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Ông đỗ Giải nguyên khoa Đinh Dậu (1837).
Khoa Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1838), Nguyễn Văn Tùng đỗ Đệ tam
giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
9. Nguyễn Siêu (Nguyễn Văn Siêu) (1799-1872), ngời làng Kim Lũ, nay là
thôn Kim Lũ (Lủ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì; trú quán phờng Dũng
Thọ, huyện Thọ Xơng nay thuộc phố Ngõ Gạch, phờng Hàng Bạc, quận Hoàn
Kiếm. Ông đỗ Cử nhân khoa ất Dậu (1825). Khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng
thứ 19 (1838), Nguyễn Siêu đỗ Phó bảng.
18
10. Ngô Điền (1814-?), ngời xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, nay là
thôn Tả Thanh Oai, xã Thanh Oai, huyện Thanh Trì. Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý
(1840). Khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841), Ngô Điền đỗ Hội nguyên
Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).
11. Trần Vĩ (1814-?), ngời xã Thợng Cát, nay là thôn Thợng Cát, xã Th-
ợng Cát, huyện Từ Liêm. Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1840). Khoa Tân Sửu,
niên hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841), Trần Vĩ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
12. Vũ Tá An (1816-?), ngời xã Thổ Khối, nay là thôn Thổ Khối, xã Cự
Khối, huyện Gia Lâm. Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1840). Khoa Tân Sửu, niên
hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841), Vũ Tá An đỗ Phó bảng.
13. Hoàng Đình Tá (1816-?), ngời xã Linh Đờng, nay là thôn Linh Đàm,
xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì. Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1840). Khoa
Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842), Hoàng Đình Tá đỗ Đệ nhị giáp đồng
tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).
14. Vũ Văn Tuấn (1803-1860), ngời xã Bát Tràng, nay là thôn Bát Tràng, xã
Bát Tràng, huyện Gia Lâm. Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Dậu (1837). Khoa Quý
Mão, niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843), Vũ Văn Tuấn đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ
xuất thân.
Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Mão (1843).
Khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849), Phạm Quang Mãn đỗ Đệ tam giáp
đồng tiến sĩ xuất thân.
23. Phạm Tuyến, ngời xã Đông D, nay là thôn Đông D, xã Đông D,
huyện Gia Lâm. Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1846). Khoa Kỷ Dậu, niên hiệu
Tự Đức thứ 2 (1849), Phạm Tuyến đỗ Phó bảng.
24. Nguyễn Văn Hội (1825-1865), ngời xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông
Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1846).
Khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849), Nguyễn Văn Hội đỗ Phó bảng.
25. Hoàng Xuân Hiệp (1825-?), ngời phờng Dũng Thọ, huyện Thọ Xơng,
nay là phờng Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm. Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Mùi
(1847). Khoa Tân Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1851), Hoàng Xuân Hiệp đỗ Đệ
nhất giáp tiến sĩ cập đệ, Đệ tam danh (Thám hoa).
26. Trần Huy Tích (1829-?), ngời phờng Dũng Thọ, huyện Thọ Xơng, nay
là phố Mã Mây, phờng Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm. Ông đỗ Cử nhân khoa Canh
Tuất (1850). Khoa Cát sĩ năm Tân Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 4 (1851), Trần Huy
Tích đỗ khoa Bác học hoành tài, Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
27. Hoàng Tớng Hiệp (1836-1885), ng
ời xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông
Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Ngọ (1858).
Khoa ất Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), HoàngTớng Hiệp đỗ Đệ tam giáp
đồng tiến sĩ xuất thân.
28. Nguyễn Tuyên tức là Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), ngời xã Kim Lũ,
nay là thôn Kim Lũ (làng Lũ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì. Ông đỗ Cử
20
nhân khoa Mậu Ngọ (1858). Khoa ất Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), Nguyễn
Tuyên đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
29. Thành Ngọc Uốn (1835-1893), ngời phờng Bạch Mai, huyện Thọ
Xơng, nay thuộc phờng Bạch Mai, quận Hai Bà Trng. Ông đỗ Cử nhân khoa ất
21
37. Lê Đình Xán (1866-?), ngời xã Hạ Đình, huyện Thanh Trì, nay thuộc
phờng Hạ Đình, quận Thanh Xuân. Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1900). Khoa
Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ 3 (1901), Lê Đình Xán đỗ Phó bảng.
38. Nguyễn Sĩ Cốc (1888-1974), ngời xã Kim Lũ, nay là thôn Kim Lũ (làng
Lũ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì. Khoa Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ 4
(1910), Nguyễn Sĩ Cốc đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
39. Hoàng Tăng Bí (1881-1939), ngời xã Đông Ngạc, nay là thôn Đông
Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906).
Khoa Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910), Hoàng Tăng Bí đỗ Phó bảng.
Rất nhiều ngời trong số họ về sau đã trở thành nhà văn hóa, chính trị, ngoại
giao của thời kỳ này và thực sự đã đóng góp lớn lao cho sự phát triển của dân tộc.
2. Trọng dụng nhân tài
- Sự nghiệp của các ông Nghè Thăng Long - Hà Nội
Phần lớn những ngời đỗ đạt trong các kỳ thi Hơng, thi Hội đều đợc bổ
dụng vào các chức quan trong chính quyền nhà nớc. Trong số đó giữ chức Thợng
th có:
- Nguyễn Văn Phú (Nguyễn T Giản), đỗ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Thiệu
Trị thứ 4 (1844), là Thợng th bộ Lại.
- Nguyễn Tuyên (Nguyễn Trọng Hợp), đỗ Tiến sĩ, khoa ất Sửu, niên hiệu Tự
Đức thứ 18 (1865) là Thợng th bộ Lại.
Đợc cử đi sứ là:
- Hoàng Tế Mỹ, đỗ khoa Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826),
Chánh sứ năm 1841.
- Nguyễn Văn Siêu, đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ
19 (1838), đi sứ năm 1849, làm Phó sứ.
- Vũ Văn Tuấn, đỗ khoa Bính Tuất, niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843), đi sứ
năm 1853, làm Phó sứ.
đầy nhà (Nguyễn Văn Siêu), đông tới hàng ngàn. Chính trong thời gian này mà
những kiến thức uyên bác của Vũ Tông Phan đã truyền cho hậu thế. Trờng Hồ
Đình của ông trở thành nơi tụ thuỷ nh tụ nhân, cho ra lò nhiều Cử nhân, Tiến
sĩ nổi tiếng nh: Th
ợng th Nguyễn T Giản, Đốc học Lê Đình Diên, các Phó bảng
Phạm Hy Lợng, Dơng Danh Lập, Ngô Văn Dạng, Nguyễn Huy Đức
Công lao đào tạo thế hệ trẻ của ông đã đợc vua Tự Đức đánh giá là Đào
thục hậu tiến (có công lao đào tạo rèn luyện cho lớp hậu sinh tiến lên).
- Nguyễn Văn Siêu (1799-1872). Nguyễn Văn Siêu, ngời làng Kim Lũ, nay
là thôn Kim Lũ (Lũ Trung), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì; trú quán phờng Dũng
Thọ, huyện Thọ Xơng nay thuộc phố Ngõ Gạch, phờng Hàng Bạc, quận Hoàn
Kiếm. Ông đậu Cử nhân khoa ất Dậu (1825). Khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng
thứ 19 (1838), Nguyễn Văn Siêu đỗ Phó bảng. Năm 1854, Nguyễn Văn Siêu đệ đơn
từ quan trở về Hà Nội và từ đó đến cuối đời với trờng Phơng Đình do ông mở trở
thành một trung tâm giáo dục lớn của đất Hà thành. Ông là tác giả của nhiều tập
sách nổi tiếng nh: Phơng Đình thi tập, Địa d toàn biên, Tuỳ bút lục, Vạn lý
23
tập Nguyễn Văn Siêu có công lớn trong việc phát triển nền văn hoá Thăng Long
thời Nguyễn. Đài Nghiên, tháp Bút ở khu vực hồ Hoàn Kiếm ngày nay là do ông
cho xây dng.
- Nguyễn Văn Lý (1795- ?), ngời làng Đông Tác (nay thuộc phờng Trung
Tự, quận Đng Đa). Ông đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Minh Mạng thứ 13
(1832). Ông là ngời việc học rất ngay thẳng, dốc đạo lại trung thực và là một
thầy giáo nổi tiếng Ông trớc sau làm việc giảng học 20 năm có lẻ, ngời tới học
thành tựu cũng nhiều (Đại Nam liệt truyện chính biên, T4, Nxb Thuận Hoá, Huế
1993, tr 144). Tiêu biểu nh : Cử nhân Nguyễn Huy Đức (1824-1898), phờng Vũ
Thạch; Tiến sĩ Nguyn Trọng Hợp (1834-1902), ngời Kim Lũ.
- Lê Đình Diên (1824-1883), ngời làng Hạ Đình (nay là phờng Hạ Đình,
quận Thanh Xuân). Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ
Hộ, đến năm 1829 ông đợc cử đi sứ. Từ đây cuộc đời của ông là cuộc đời của vị
sứ thần lữ khách. Ông để lại hàng loạt tác phẩm có giá trị đợc sáng tác trong thời
gian đi sứ. Ông là ngời đại diện cho khuynh hớng văn chơng Nho giáo và mở
đờng cho thể loại ký viết về thế giới bên ngoài.
- Cao Bá Quát (1809-1854), ngời làng Phú Thị (nay là xã Quyết Chiến,
huyện Gia Lâm). Ông đỗ Cử nhân năm 1831, nhng khi thi Hội thì trợt. Là ngời
có tính cách khác thờng nên sau khi ra tù và xuất dơng đi Cămpuchia và
Inđônêxia theo đoàn của Đào Tri Phú, năm 1843 ông về Thăng Long - Hà Nội. Năm
1847 ông đợc triệu về Kinh, nhng rồi đến năm 1853, lại lấy cớ mẹ già ốm đau để
xin về quê. Là ngời thấu hiểu ni thống khổ của nhân dân trớc thiên tai và sự hà
hiếp của tầng lớp quan lại địa phơng, Cao Bá Quát đã tập hợp lực lợng, tiến hành
khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn. Và cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị thất bại.
5. Những nhân tài tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội
Mặc dù không còn là kinh đô của cả nớc, Thăng Long - Hà Nội vẫn là nơi hội
tụ khí thiêng sông núi, nơi sản sinh và c trú của nhiều danh nhân nổi tiếng. Thăng
Long thời Nguyễn vẫn là một trung tâm đóng góp cho đất nớc nhiều nhân tài góp
phần làm rạng rỡ đất Thăng Long - Hà Nội.
- Phạm Đình Hổ (1768-1839)
Phạm Đình Hổ sinh năm 1876, mất năm 1839, tự là Tùng Niên, Bỉnh Trực,
hiệu là Đan Sơn, Đông Dã Tiếu, quê ở làng Đan Loan, huyện Đờng An, phủ Th-
ợng Hồng (nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải D
ơng).
Phạm Đình Hổ xuất thân trong một gia đình quyền thế. Họ nội ông vốn nổi
tiếng trong vùng là dòng họ giầu có, hay chữ, nối tiếp nhau theo nghiệp Nho gia. Họ
ngoại của ông, dòng họ Phạm ở làng Vẽ (tức là làng Đụng Ngạc, huyện Từ Liêm)
nổi tiếng là dòng họ hiển đạt. Ông ngoại Phạm Đình Hổ làm quan thời Lê, chức
Hiển cung đại phu,Tham nghị tán trị thừa Chánh sứ ty. Cha Phạm Đình Hổ là Phạm
Giáp, biệt hiệu là Diệc Hiên tiên sinh, một ngời văn võ toàn tài, một ông thầy nổi
tiếng hay chữ của vùng Thăng Long, đỗ Hơng cống và sau đó đợc bổ làm Huấn