Nghiên cứu thiết kế các thiết bị công nghệ và chế tạo một số thiết bị trong dây chuyền chế biến tinh bột sắn xuất khẩu năng suất 100-120 tấn sản phẩm/ngày - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CHẾ TẠO MÁY

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CÁC THIẾT BỊ
CÔNG NGHỆ VÀ CHẾ TẠO MỘT SỐ THIẾT BỊ
TRONG DÂY CHUYỀN CHẾ BIẾN TINH BỘT SẮN
XUẤT KHẨU NĂNG SUẤT 100-120 TSP/NGÀY Chủ nhiệm đề tài: PHAN ĐỨC THIỆN
khá lớn đặc biệt là hiện nay tinh bột sắn rất đợc a dùng tại chậu Âu. Tuy nhiên để
việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ tinh bột sắn đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh các
biện pháp về nông học (qui hoạch, giống, mở rộng diện tích và thay đổi phơng thức
canh tác) thì việc nghiên cứu để đổi mới công nghệ và thiết bị cho những cơ sở sản
xuất tinh bột sắn đợc xem là giải pháp cần thiết hiện nay.
Vì vậy việc triển khai đề tài nhằm hoàn thiện công nghệ chế biến và thiết
kế, chế tạo các dây chuyền thiết bị đồng bộ tối thích để chế biến tinh bột sắn đạt
chất lợng cao, giảm giá thành chế tạo, lắp đặt góp phần giảm các tiêu hao trong
sản xuất, giảm giá thành sản phẩm là một việc làm, có ý nghĩa cả về khoa học -
kỹ thuật và kinh tế xã hội đóng góp vào các giải pháp lớn về công nghiệp hoá
hiện đại hoá nền sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản của Đảng và Nhà
nớc ta hiện nay.

Chơng 1
Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong
nớc và thế giới

1.1. Lợc qua quá trình sản xuất và phát triển cây sắn ở Việt Nam
1.1.1.Diện tích trồng sắn
Việt Nam là nớc nông nghiệp, có khí hậu, thời tiết rất thuận lợi cho việc
canh tác nhiều loại cây trồng, trong đó có cây sắn (cây khoai mì). Tại cuộc hội
thảo về nông sản của Châu á đợc tổ chức gần đây ở thành phố Hồ Chí Minh,
Việt Nam đợc FAO đánh giá là nớc có bớc tiến vợt trội về phát triển cây
sắn. Diện tích trồng sắn không ngừng phát triển từ 371.860 ha năm 2003 đã tăng
lên 496.803ha năm 2007 (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lợng củ từ 2003 đến 2007


triển thì giá sắn tăng chóng mặt theo cấp số nhân. `Nếu năm 2005 giá sắn tơi chỉ ở
mức 300đồng/kg thì đến năm 2006 giá tăng kên 600đồng/kg và niên vụ 2007 2008
giá sắn tơi đã tăng lên 1.100 1.300đồng/kg. Nếu tính bình quân mỗi ha sắn đạt
năng suất 20tấn thì sau khi trừ chi phí ngời dân còn lãi từ 15 ữ 17triệu đồng trong
khi chỉ trồng từ 6 ữ 8 tháng là cây sắn có thể thu hoạch đợc. Đây là lãi suất khá hấp
dẫn đặc biệt đối với các vùng trung du, miền núi nơi mà việc canh tác các cây trồng
lãi suất cao gặp nhiều khó khăn.
Từ những thông tin vắn tắt về tình hình trồng sắn, năng suất và sản lợng
củ sắn ở Việt Nam có thể nhận định:
- Từ chỗ là cây lợng thực chống đói, cây sắn của Việt Nam đã và đang
có vai trò nhất định trong cơ cấu cây trồng có hiệu quả và sẽ trở thành cây xoá
đói, giảm nghèo của một số bộ phận không nhỏ nông dân, đặc biệt đối với vùng
trung du và miền núi.
- Nhằm đảm bảo cho cây sắn phát triển ổn định ngoài các biện pháp nh:
quy hoạch diện tích hợp lý đảm bảo hệ sinh học và đa dạng sinh thái trong nông
nghiệp, thâm canh và ứng dụng các giống mới bên cạnh đó cần phải có sự tác
động của các giải pháp khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực chế biến củ sắn thành
những sản phẩm có giá trị hàng hoá cao (tinh bột và tinh bột sắn biến tính) có
sức cạnh tranh so với hàng hoá cùng loại của khu vực và quốc tế.
1.2. Tình hình sản xuất tinh bột sắn và nhu cầu của thị trờng
1.2.1 Sản xuất và thị trờng tinh bột sắn thế giới
Hiện tại, sắn đợc trồng trên 100 nớc của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và là
nguồn thực phẩm của hơn 500 triệu ngời. Năm 2006 và 2007, sản lợng sắn thế giới
đạt 226,34 triệu tấn củ tơi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệu
tấn. Nớc có sản lợng sắn nhiều nhất là nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan
(22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn). Nớc có năng suất cao nhất là ấn Độ
(31,43tấn/ha) kế đến là Thái Lan (21,09tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế
giới là 12,16 tấn/ha (FAO, 2008). Việt Nam đứng thứ 10 về sản l
ợng sắn (7,71 triệu

1.3.Công nghệ chế biến (sản xuất) tinh bột từ củ sắn tơi.
Mục tiêu duy nhất của công nghệ sản xuất tinh bột từ củ sắn tơi là tách và
thu hồi đợc tinh bột có trong cấu tạo của củ sắn với hàm lợng tinh bột tinh
khiết cao, ít tạp chất. Ngoài ra công nghệ sản xuất còn phải đảm bảo đợc các
chỉ tiêu chi phí cho sản xuất phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật và kinh tế
xã hội để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng.
Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng, trình độ khoa học kỹ thuật cũng nh các yếu
tố kinh tế khác, tiêu chuẩn chất lợng của tinh bột sắn đã, đang đợc sử dụng làm
thớc đo trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất của một số tổ chức và quốc gia.
Về cơ bản, công nghệ sản xuất tinh bột nguyên thuỷ (Negatistarch) từ
nguyên liệu dạng củ, quả bằng phơng thức sản xuất công nghiệp tiên tiến, hiện
đại không có gì khác so với phơng thức sản xuất bằng thủ công và thông thờng
bao gồm các nguyên công cơ bản (xem sơ đồ khối):
- Nguyên công làm sạch củ, nhiệm vụ chính của công đoạn này là bóc lớp
vỏ gỗ bên ngoài củ sắn và làm sạch tạp chất trớc lúc làm nhỏ.
- Nguyên công làm nhỏ củ hay còn gọi là công đoạn tách tinh bột ra khỏi
cấu trúc liên kết của củ sắn bằng cơ học. Sau công đoạn này ta đợc hỗn hợp cháo
bao gồm: bã, tinh bột, các tạp chất hoà tan, các tạp chất không hoà tan và nớc.
- Nguyên công tách ly bã (hay còn gọi là rửa bã) và tách xơ mịn ra khỏi
dịch sữa non (còn gọi là rửa dịch sữa).
- Phân ly dịch sữa (tách các tạp chất có tỷ trọng xấp xỉ với nớc) và cô đặc
(tăng nồng độ vật chất khô trong dịch sữa).
- Tách bớt nớc ra khỏi dịch sữa để đợc tinh bột ẩm.
- Sấy khô tinh bột và đồng nhất kích thớc sản phẩm.



ch sữa
Tách nớc ra
khỏi d

ch sữa
Sắn thu hoạch

Trên thế giới hiện đang tồn tại 03 hình thức tổ chức thực hiện công nghệ
sản xuất hay 3 loại công nghệ đó là: Tuần hoàn khép kín, tuần hoàn hở và tuần
hoàn bán hở (hoặc bán kín). Cả ba hình thức trên đều có đặc trng là quá trình
sản xuất đợc thực hiện tuần hoàn liên tục để đảm bảo thời gian thực hiện một
chu trình kín ngắn nhất tránh xảy ra hiện tợng oxy hoá tinh bột, đặc biệt là sau
công đoạn phân rũ tới khi nhận đợc tinh bột ẩm (sau tách nớc).
Các công đoạn công nghệ cơ bản đợc thực hiện chủ yếu dựa vào việc sử dụng
các giải pháp vật lý (cơ và nhiệt). Có một số quốc gia, tuỳ thuộc vào yêu cầu sử dụng
của tinh bột ngời ta có sử dụng thêm các giải pháp để thực hiện các công đoạn công
nghệ. Ngoài việc đợc lựa chọn, tính toán, thiết kế phù hợp với quy mô sản xuất, yêu
cầu chất lợng sản phẩm của từng công đoạn, thích hợp với tính chất cơ lý của
nguyên liệu còn phải đợc lắp đặt theo một sơ đồ đấu ghép hợp lý để đảm bảo tính
đồng bộ của dây chuyền, tính liên tục của quá trình sản xuất, vừa đảm bảo đợc chất
lợng công nghệ của từng khâu. Việc đấu ghép các thiết bị công nghệ thành từng
cụm đặc biệt đợc quan tâm ở các công đoạn nh tách (rửa) bã thô, tách (rửa) xơ mịn,
phân ly dịch do các công đoạn đã nêu thờng phải thực hiện theo nhiều cấp (lặp lại
nhiều lần).
Thực chất, quá trình công nghệ sản xuất tinh bột sắn là quá trình phân rã
tinh bột theo phơng pháp vật lý và tách các chất xơ, prôtêin và các tạp chất hoà
tan với nớc do tỷ trọng cao hơn nớc của tinh bột bằng việc sử dụng các thiết bị
cơ điện và nớc để tách tinh bột ra khỏi tơng tinh bột (hỗn hợp bao gồm thịt củ
đã đợc làm nhỏ, nớc, tinh bột, xơ) và làm sạch dịch sữa loãng. Do vậy, quá

Khi lồng quay với vận tốc nhất định làm cho củ sắn chuyển động theo đồng thời
cọ sát với các thanh nan và cọ sát giữa củ với củ làm cho đất cát và một phần vỏ
gỗ bị bong ra lọt qua các khe giữa các thanh nan ra ngoài.
Hiệu quả làm việc của các lồng tách đất và vỏ gỗ phụ thuộc nhiều yếu tố,
trong đó có kích thớc lồng (đờng kính, chiều dài), phơng đặt các thanh nan và
thời gian lu giữ củ sắn trong lồng.
Gần đây Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam có sử dụng thiết bị tách đất
(là chủ yếu) riêng và tách vỏ gỗ riêng. Hai thiết bị này khác nhau về cách bố trí
nan, ở máy tách đất thờng dùng nan tròn hàn song song với đờng tâm, khe hở
giữa hai nan kề nhau hẹp. Hiệu quả làm việc chủ yếu dựa vào pha chà xát giữa củ
với củ nhằm tránh gây tổn thơng đến vỏ lụa.

Đối với máy tách vỏ gỗ bằng trống lồng nan, hiệu quả làm việc chủ yếu
dựa vào pha chà xát giữa củ với nan, vì vậy nan đợc dùng là loại có tiết diện
vuông hoặc hình chữ nhật có cạnh hớng vào tâm trống. Các nan hàn song song
với đờng tâm hoặc tạo với đờng tâm một đờng hình xoắn ốc. Khe hở giữa các
nan lớn hơn ở máy tách đất. Một số cơ sở còn sử dụng nớc (phun thành tia) để
hỗ trợ việc bóc vỏ gỗ, hiệu suất bóc tăng nên đáng kể đặc biệt là đối với loại củ
đã thu hoạch lâu.

Hình 1. Máy rửa trống quay
2.1.2 Thiết bị làm sạch củ sắn
Máy rửa củ trong môi trờng nớc là thiết bị không thể thiếu trong hệ
thống các thiết bị chế biến củ, quả nói chung và các củ sắn nói riêng. Nhiệm vụ
của máy rửa là vừa làm sạch củ (sạch đất bám dính) và làm tróc vỏ gỗ triệt để và
quan trọng hơn nữa là củ sắn sau khi rửa lợng HCN có trong vỏ lụa của củ sắn
phải đợc giải phóng vào nớc rửa và thoát ra ngoài dới dạng nớc thải. Cơ cấu
rửa là một trục trên đó có gắn các cánh rửa theo hình xoắn ốc. Có hai loại cánh
rửa đang đợc áp dụng, loại thứ nhất có dạng cánh bản (hình chữ nhật hoặc
vuông) mặt bản cánh gắn cao su nhằm tránh xung lực với củ để giảm tỷ lệ tổn

ca (ở máy xát nghiền).

Bảng 2.1. Thông số kỹ thuật một số máy làm nhỏ củ sắn
TT
Thông số kỹ thuật
TK - 200
(Liên xô cũ)
Thái Lan
(hãng Thái Đức)
6WSJ45
(Trung Quốc)
1
Nguyên lý hoạt động Nghiền xát Nghiền xát Nghiền đập
2
Đờng kính rô to, mm 850 820 450
3
Tốc độ quay của rô to, v/p 960 1500 2950
4
Năng suất, t/h 10 10 10
5
Công suất lắp đặt, kW 38 110 55

Những thí nghiệm đã đợc thực hiện cho thấy, nhằm tăng hệ số phân rã
(K) có thể tăng số lần nghiền xát hoặc tăng tốc độ thẳng của dao hoặc búa. Tuy
nhiên các biện pháp trên cần đợc tối thích và tính chất cơ lý của nguyên liệu.
Với củ sắn làm nhỏ bằng phơng pháp nghiền xát tốc độ đỉnh dao có thể chọn
từ 50 ữ 65m/s, khi sử dụng phơng pháp nghiền đập có thể chọn cao hơn. Các

thờng dùng các máy ly tâm trống côn có trục đứng hoặc nằm ngang (hình 2,
hình 3) để tách phần bã có kích thớc lớn (bã thô) ra khỏi tơng dịch bột (sau khi
xát nghiền) để thu đợc dịch sữa thô với nồng độ VCK thấp (sữa non, thô).
Việc dùng loại ly tâm trống côn trục đứng hay trục ngang đều có những
u, nhợc điểm.
Những nớc châu Âu, Tây Âu thỉnh thoảng có những dây chuyền (chào
bán cho Việt Nam) có sử dụng các loại thiết bị tách bã nh: ly tâm kiểu vít xoắn,
ly tâm kiểu sàng guồng cánh. 5
1
2
3
4
Hình 2. Máy ly tâm trống rổ hình côn trục đứng
1 ống cấp dịch 4 Khoang chứa dịch
2 Lới rô to 5 -Động cơ
3 Khoang chứa Hình 3. Máy ly tâm trống rổ hình côn trục ngang
1. ống cấp dịch
2. Lồng rô to
3. Trục máy
4. Hệ truyền động
5. Cửa ra bã
6. Máng ra dịch

5
6
2
3
4
1

Bảng 2.3. Thông số kỹ thuật của một số máy ly tâm trống rổ côn trục ngang
Nga (**)
TT Thông số kỹ thuật
CK.100 CK.200
Trung Quốc
1 Năng suất, m
3
/h 60 60
60
2 Diện tích sàng, m
2
0,8 1,7 1,50
3 Kích thớc rổ, D/d, mm 741/350 1000/620 850/400

sàng
Bã thô Tầng 1&tầng 2 Tinh lọc xơ
1
Góc trung tâm,
- 120 50 61
2
Chiều dài cung sàng, mm - 1260 785 960
3
Chiều rộng sàng, mm 785 785 785
4
Bán kính cong, mm 600 900 900
5
Diện tích hữu ích, m
2
3 1 0,625 0,75
6
áp suất dịch cấp
(nguyênliệu) khi
- ống cấp
- Vòi phun nớc -
- 200
50
Đức
(Wecfania)
Nhật
(hãngSAITO)
Trung
Quốc
Ký hiệu GX312 SDA45-75.006 655EW DPF530
Đờng kính trống ly tâm,mm 610 530 455 530
Tốc độ quay, v/ph 4750 5100 4500 4650
Số đĩa 65 80 80 80
Năng suất, m
3
/h 30 65 40
45
Công suất động cơ 44 45 30 45
2.6.Thiết bị tách nớc.
`


Liên xô cũ Các hãng Thái Lan
Thống số kỹ thuật
H-
93
H-
125
Thái
Đức
SW
Bang
Na
Trung
Quốc
WG1200
Đờng kính trống, mm 900 1250 1250 1550 1500 1200
Chiều dài trống, mm - - 800 - 960 500
Tốc độ quay, v/ph 1500 1000 1500 795 900 800
Dung tích hữu ích, lit 1300 3100 - - - 2100
Công suất động cơ, kW
-Trục trống ly tâm
-Bơm dầu cho cơ cấu nạo

30
2,2

40
2,2

37
2,2

pháp này không hiệu quả.
Thông thờng công đoạn sấy đợc thực hiện nhờ một tập hợp các thiết bị cơ
- nhiệt đợc sắp xếp theo một nguyên tắc bao gồm: thiết bị làm tơi sơ bộ và chuyển
tải tinh bột, thiết bị cung cấp nguyên liệu (vẩy tinh bột) và ống sấy; ống sấy với kết
cấu hình học đặc thù tạo nút khí động, tổ hợp xyclon lắng, van chặn khí.

Hình 6. Giới thiệu một hệ thống sấy tinh bột đặc trng.
1 Tách nớc 7 ống hồi lu
2 Vít tải cấp liệu 8 Ciclon thu hồi bột
3 Máy đánh tơi 9 Vít tải
4 Bộ trao đổi nhiệt 10 Máy rây
5 Máy vẩy 11 Quạt
6 ống sấy 12 Thiết bị thu hồi bột
Sự khác nhau giữa các hệ thống sấy đang đợc phổ biến rộng rãi hiện nay
(xem bảng 2.6) là nguyên lý, kết cấu bộ phận cung cấp tác nhân sấy (lò, bộ trao
đổi nhiệt và xử lý không khí sấy).
Thông thờng sau khi sấy, thiết bị có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ môi trờng
nên cần sử dụng các hệ thống làm nguội cũng theo nguyên lý khí động với việc

dùng tác nhân làm lạnh là không khí môi trờng có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ
của tinh bột khi sấy.
Hiện nay bộ cấp nhiệt (lò đốt) dùng dầu tải nhiệt đang đợc sử dụng trong
các dây chuyền của Thái Lan, Trung Quốc. Loại lò này có kiểu dùng nhiên liệu
cứng (than đá), lỏng (dầu Do hoặc FO) và khí đốt. Các bộ cấp nhiệt bằng hơi
nớc bão hoà hoặc hơi quá nhiệt cũng đợc sử dụng, đặc biệt đối với các nhà
máy vừa sản xuất tinh bột vừa sản xuất các chế phẩm từ tinh bột (ví dụ nh tinh
bột biến tính, đờng glucoza).
Các bộ trao đổi nhiệt thờng dùng là lò loại khói khí, khói dầu mang
nhiệt, khí hơi nớc tơng thích với kiểu loại lò đốt và công suất, hiệu suất trao
đổi nhiệt của từng hệ thống sản xuất tác nhân sấy (không khí nóng và sạch).

Chiều cao ống sấy, m 27 17 18
Đờng kính ống sấy, m 850/900 750/950 900
Chi phí nhiệt năng, Kcal/kgH
2
O
1800ữ2000
2200 2500 Chơng III.
Lựa chọn thiết bị cho dây chuyền và Tính toán thiết kế
một số thiết bị chính trong dây chuyền chế biến tinh
bột sắn công suất 100 ữ120 TSF/ngày.

3.1.Lựa chọn thiết bị cho dây chuyền 100TSP/ngày
3.1.1.Công đoạn làm sạch
Trong công đoạn làm sạch củ sắn. Cũng nh dây chuyền thiết bị đồng bộ chế
biến tinh bột sắn xuất khẩu có công suất 50TSF/ngày do Viện NCTKCT máy Nông
Nghiệp thiết kế và chế tạo. Dây chuyền có công suất 100 ữ120TSF/ngày vẫn sử dụng
máy rửa lồng quay một ngăn để tách đát cát bám dính và bóc vỏ gỗ củ sắn cũng nh
làm sạch và loại đá sạn bằng máy rửa kiểu mái chèo. Tuy nhiên kích thớc của máy

Trong công đoạn này đối với các thùng công nghệ và bơm thì kích thớc thiết
bị đợc tăng lên còn số lợng thiết bị ở hai dây chuyền không có gì khác nhau. Đối
với máy tách dịch kích thớc thì lại không thay đổi mà thay đổi về số lợng máy nh
trong dây chuyền 50TSP/ngày chia làm hai cụm và mỗi cụm là 02 chiếc còn đối với
dây chuyền 100TSP cũng chia làm hai cụm nhng mỗi cụm lại là 03chiếc.
Công đoạn phân ly và cô đặc dịch sữa trong dây chuyền công suất
100TSF/ngày vẫn sử dụng máy phân ly dạng đĩa vòi phun với tăng thêm số
lợng thiết bị và chọn loại có vòng quay lớn hơn.
3.1.5.Công đoạn ly tâm tách nớc dịch sữa
Công đoạn tách bớt nớc ra khỏi dịch sữa già để có tinh bột ẩm vẫn sử
dụng thiết bị ly tâm kiểu lồng trục ngang (Centrifur) với số lợng lớn hơn cho
phù hợp với công suất dây chuyền.
Trong công đoạn này bơm và băng tải bột ẩm đã tăng kích thớc còn máy
tách nớc vẫn giữ nguyên về kích thớc mà thay đổi về số lợng cụ thể trong dây
chuyền 50TSP/ngày là 02 chiếc máy tách nớc còn trong dây chuyền
100TSP/ngày là 03 chiếc.
3.1.6.Công đoạn sấy tinh bột
Công đoạn sấy khô sản phẩm vẫn sử dụng thiết bị sấy thổi với lò đốt than
làm nóng tác nhân sấy (khí nóng) bằng dầu tải nhiệt. Kích thớc ống sấy và
chiều cao đựoc thiết kế phù hợp với công suất của dây chuyền.
Thiết bị thu hồi bột nóng và bột nguội sau sấy vẫn sử dụng cyklon chùm
với số lợng cyklon đơn gấp đôi dây chuyền 50TSF/ngày.
Thiết bị đồng nhất và bao gói sản phẩm vẫn sử dụng máy rây miết có kích
thớc và tốc độ lớn hơn.
3.2.Tính toán và thiết kế các thông số kỹ thuật cho máy
3.2.1. Tính toán và thiết kế các thông số kỹ thuật cho máy tách đất cát
bám dính và tách một phần vỏ gỗ.

khí. Nếu tăng vận tốc nữa sẽ hoàn toàn phá rối quá trình thực hiện rửa, vì dới tác
dụng lực ly tâm lôi cuốn củ và sẽ ép chặt vào thành trống và quay cùng với mặt
trống.
Số vòng quay thuận lợi nhất của trống đợc chọn tuỳ theo đờng kính của
trống và kích thớc của củ theo công thức:
n =
rR
K

vg/ph (3.1) [9]
Trong đó: K Hệ số thực nghiệm tính đến kích thớc của củ quả và
hiện tợng ma sát, K = 20 ữ 22
R Bán kính của trống, m
r Bán kính của củ, m
Hoặc tính theo vận tốc vòng của trống khi chọn:
n =
D.
60.V

vg/ph (3.2) [9]

Thời gian củ quả ở trong trống, hay nói cách khác thời gian chế biến (t),
phụ thuộc vào độ dài của trống đặt nằm ngang và không có bộ phận nào di
chuyển củ quả dọc trục, thì củ quả chuyển động đi nhờ độ dày lớp khác nhau của
lớp củ lối vào và lớp củ lối ra. Đờng đi của mỗi phần tử củ trong trống có thể
trình bày bằng sơ đồ dạng đờng gãy khúc 1,2,3, Khi đó các đoạn đờng thẳng
đứng 1-2, 3-4, 5-6, của củ nhờ ma sát vào trống, còn các đoạn nghiêng 2-4, 4-
5 6-7, là nhờ trợt đợc từ trên xuống dới theo góc thoải tự nhiên .
Cứ nh thế, sau mỗi chu kỳ chuyển động (nâng và hạ) củ lại qua đợc một
phần độ dài của trống. Độ lớn của phần đờng đó, cũng nh vận tốc di chuyển

0,012m/s
Còn thời gian chế biến (thời gian củ di chuyển trong trống) t = 2 ữ3 ph.
Mức chứa củ trong trống thuận lợi nhất cho qúa trình rửa bằng
20%ữ30%dung tích toàn phần của trống. Nh vậy tơng ứng với độ dày của lớp
chất củ khoảng 1/3 đờng kính của trống.
Năng suất của bất kỳ máy rửa củ kiểu trống quay hoạt động liên tục, đều
đợc xác định theo công thức.
Q = 60.n.q, t/h (3.4) [9]
Trong đó: n Số vòng quay của trống trong 1 phút.
q Khối lợng của mỗi phần củ do các tấm gầu đổ sau mỗi
vòng quay của trống.
Đại lợng q đợc xác định bằng cách cân phần củ do tấm gầu múc đổ, hay
tính theo công thức củ do tấm gầu múc đổ, hay tính theo công thức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status