Nghiên cứu xây dựng các giải pháp công nghệ phù hợp cho việc triển khai chính phủ điện tử ở việt nam - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC.01/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG KIẾN TRÚC
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG VÀ
CÁC GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ PHÙ HỢP CHO
VIỆC TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
MÃ SỐ: KC.01.18/06-10

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Minh Hồng
8927

Hà Nội - 2011

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC.01/06-10
Hà Nội - 2011
2
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 13
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG KIẾN TRÚC CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC
CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 15

1.1. Sự phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam 15
1.2. Vai trò, sự cần thiết của kiến trúc Chính phủ điện tử 16
1.3. Kiến trúc Chính phủ điện tử và các khái niệm liên quan 20
1.3.1. Định nghĩa kiến trúc 20
1.3.2. Kiến trúc tổng thể 21
1.3.3. Kiến trúc Chính phủ điện tử 22
1.3.4. Các khái niệm liên quan 23
1.4. Mức độ phát triển của Chính phủ điện tử và kiến trúc CPĐT 24
1.4.1. Mức độ phát triển chính phủ điện tử 24
1.4.2. Mức độ phát triển kiến trúc chính phủ điện tử 29
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC
CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI 32

2.1. Phương pháp luận xây dựng kiến trúc tổng thể 32

3.2.3. Cập nhật khung kiến trúc 83
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH THAM CHIẾU NGHIỆP VỤ 85
4.1. Tổng quan về cơ quan nhà nước Việt Nam 85
4.1.1. Hệ thống tổ chức các cơ quan nhà nước 85
4.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước 87
4.2. Mô hình tham chiếu dịch vụ hành chính công 90
4.2.1. Khái niệm dịch vụ công 90
4.2.2. Các loại dịch vụ công 92
4.2.3. Các hình thức cung ứng dịch vụ công 93
4.2.4. Các đặc điểm của dịch vụ công 95
4.2.5. Dịch vụ hành chính công ở Việt Nam 96
4.2.6. Các hình thức cung cấp dịch vụ hành chính công hiện tại 97
4.2.7. Đánh giá hiện trạng việc cung cấp các dịch vụ hành chính công 100
4.2.8. Đề xuất mô hình tham chiếu cung cấp dịch vụ hành chính công 101
4.3. Mô hình tham chiếu quy trình nghiệp vụ và biểu mẫu 113
4.3.1. Cách thức xây dựng mô hình tham chiếu 113
4.3.2. Phân loại quy trình nghiệp vụ và biểu mẫu 114
4.3.3. Mô hình tham chiếu kiến trúc 137
4
4.4. Mô hình tham chiếu quy trình nghiệp vụ chỉ đạo, điều hành của
Chính phủ 145

4.4.1. Tổng quan về hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ 145
4.4.2. Mô hình tham chiếu quy trình nghiệp vụ chỉ đạo, điều hành của Chính
phủ 150

4.4.3. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quy trình

5
7.2. Mô hình tham chiếu dữ liệu trong cơ quan nhà nước Việt Nam 198
7.2.1. Mô hình tham chiếu dữ liệu trong cơ quan nhà nước 198
7.2.2. Mô hình mô tả dữ liệu 199
7.2.3. Mô hình ngữ cảnh dữ liệu 203
7.2.4. Mô hình chia sẻ dùng chung dữ liệu 206
7.3. Phương pháp mô tả dữ liệu trong cơ quan nhà nước Việt Nam .208
7.3.1. Giới thiệu chung về mô tả dữ liệu trong cơ quan nhà nước 208
7.3.2. Phương pháp mô tả dữ liệu 208
7.3.3. Thuộc tính mô tả dữ liệu 209
7.4. Cung cấp ngữ cảnh dữ liệu trong cơ quan nhà nước Việt Nam 211
7.4.1. Giới thiệu chung 211
7.4.2. Hướng dẫn 213
7.4.3. Các thuộc tính ngữ cảnh dữ liệu 216
7.5. Cơ chế chia sẻ, dùng chung dữ liệu trong cơ quan nhà nước Việt
Nam 217

7.5.1. Tổng quan về chia sẻ, dùng chung dữ liệu 217
7.5.2. Các cấu trúc được sử dụng cho chia sẻ dùng chung dữ liệu 217
7.5.3. Hướng dẫn về chia sẻ dùng chung dữ liệu 224
7.6. Mô tả một số loại dữ liệu cơ bản trong cơ quan nhà nước 226
7.6.1. Nguồn tài nguyên dữ liệu có cấu trúc 226
7.6.2. Nguồn tài nguyên dữ liệu bán cấu trúc (Trang thông tin điện tử) 228
7.6.3. Nguồn tài nguyên dữ liệu phi cấu trúc (hệ thống văn bản) 228
CHƯƠNG 8: XÂY DỰNG KIẾN TRÚC ỨNG DỤNG 234
8.1. Nghiên cứu, xây dựng kiến trúc ứng dụng ở mức cao 234
8.2. Cài đặt sơ bộ và thử nghiệm các thành phần của kiến trúc ứng
dụng 238

8.3. Nghiên cứu giải pháp và thử nghiệm các dịch vụ định danh 239

10.7. Thước đo hiệu năng 287
10.8. So sánh hiệu năng giữa các kỹ thuật IR khác nhau 288
10.9. Chỉ số hoá ngữ nghĩa tiềm tàng (LSI) 289
10.10. Cây TV (TV-tree) 290
10.11 Tìm kiếm văn bản với Windows Indexing Service 291
CHƯƠNG 11: XÂY DỰNG KIẾN TRÚC CHO ĐÀ NẴNG 292
11.1. Khung kiến trúc tổng thể cho thành phố Đà Nẵng 292
11.2. Kiến trúc nghiệp vụ 294
11.3. Kiến trúc công nghệ 304
11.3.1. Quản trị 305
7
11.3.2. Các dịch vụ ứng dụng nghiệp vụ 306

11.3.3. Các dịch vụ nghiệp vụ thông minh 306
11.3.4. Các dịch vụ dữ liệu 307
11.3.5. Các dịch vụ gia tăng hiệu suất 307
11.3.6. Các dịch vụ trình diễn 308
11.3.7. Các dịch vụ phần mềm 308
11.3.8. Các dịch vụ tích hợp 309
11.3.9. Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) 310
11.3.10. Các dịch vụ quản lý dữ liệu 312
11.3.11. Các dịch vụ cung cấp hệ thống nền 312
11.3.12. Các dịch vụ mạng 313
11.3.13. Các dịch vụ quản lý mạng và hệ thống 313
11.3.14. Các dịch vụ an toàn thông tin 314
11.4. Kiến trúc ứng dụng 316
11.4.1. Thiết kế và phát triển các ứng dụng 317
9
DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2-1: Chu trình phát triển kiến trúc TOGAF 33
Hình 2-2: Khung kiến trúc Zachman 35
Hình 2-3: Mô hình tham chiếu kiến trúc tổng thể ở Mỹ 37
Hình 2-4: Mô hình tham chiếu kiến trúc Chính phủ Úc (AGA) 42
Hình 2-5: Mô hình kiến trúc cho các ứng dụng CPDT trong SAGA 44
Hình 2-6: Ba lớp của kiến trúc GC SOA 47
Hình 2-7: Các thành phần của kiến trúc tổng thể chính phủ Singapore 51
Hình 2-8: Phương pháp luận cho kiến trúc tổng thể cơ quan MAGENTA 52
Hình 2-9: Khung kiến trúc tổng thể của chính phủ Hàn Quốc 55
Hình 2-10: Các thành phần kiến trúc của Ngân hàng thế giới 61
Hình 3-1: Mô hình hệ thống thông tin của Đề án 112 76
Hình 3-2: Kiến trúc tổng thể trong tiến trình phát triển CPĐT 79
Hình 3-3: Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam 82
Hình 4-1: Hệ thống cơ quan nhà nước ở Việt Nam 86
Hình 4-2: Mối quan hệ giữa chức năng, nhiệm vụ và quy trình nghiệp vụ 88
Hình 4-3: Mô hình tham chiếu cung cấp các dịch vụ hành chính công 101
Hình 4-4: Mô hình phương thức cung cấp dịch vụ công 111
Hình 4-5: Mô hình các dịch vụ hỗ trợ 112
Hình 4-6: Mô hình tham chiếu khái quát 114
Hình 4-7: Phân loại quy trình nghiệp vụ 115
Hình 4-8: Phân loại thủ tục hành chính nội bộ 116
Hình 4-9: Phân loại các thủ tục hành chính liên hệ 119
Hình 4-10: Phân loại thủ tục hành chính văn thư 120
Hình 4-11: Quy trình nghiệp vụ nội bộ về tổ chức, cán bộ 122
Hình 4-12: Quy trình nghiệp vụ nội bộ về đầu tư, tài chính, kế toán 124

Hình 7-3: Mô hình ngữ cảnh dữ liệu 204
Hình 7-4: Mô hình chia sẻ, dùng chung dữ liệu 206
Hình 7-5. Ma trận "Nhà cung cấp dữ liệu - đến - Bên sử dụng dữ liệu" 218
Hình 7-6: Phân nhóm thông tin 226
Hình 8-1: Tương tác ngữ cảnh và tương tác ngoài của một hub dịch vụ
công 235

Hình 8-2: Mô hình định danh 240
Hình 9-1: Mô hình cổng thông tin điện tử 261
Hình 9-2: Trang tin điện tử đăng nhập thành công 267
Hình 9-3: Mô hình kiến trúc hệ thống 271
Hình 9-4: Sơ đồ quá trình xử lý hồ sơ xin đăng ký kinh doanh hộ cá thể 273
Hình 9-5: Sơ đồ hệ thống dịch vụ định danh 276
Hình 10-1: Tiến trình truy vấn tài liệu cơ sở 279
Hình 10-2: Sơ đồ mối liên hệ giữa precision và recall 288
Hình 11-1: Chi tiết về các hợp phần của mô hình kiến trúc tổng thể 293
Hình 11-2: Kiến trúc nghiệp vụ 294
11
Hình 11-3: Các quy trình nghiệp vụ và chiến lược 295

Hình 11-4: Phương thức cải cách qui trình hành chính. 297
Hình 11-5: Tính phức tạp và đa chiều của qui trình nghiệp vụ 300
Hình 11-6: Cơ cấu lãnh đạo chương trình kiến trúc tổng thể 303
Hình 11-7: Kiến trúc công nghệ mức tổng quát 305
Hình 11-8: Kiến trúc hướng dịch vụ 311
Hình 11-9: Các dịch vụ quản lý dữ liệu 312
Hình 11-10: Kiến trúc ứng dụng 318

Bảng 11-5: Các hợp phần của chính sách bảo mật 332

13
MỞ ĐẦU

Trong 10 năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
của cơ quan nhà nước (hay còn gọi là Chính phủ điện tử) là một chủ đề thu
hút sự quan tâm của các cơ quan nhà nước, cũng như của người dân, doanh
nghiệp nhờ tác động mạnh mẽ của nó đến chất lượng cuộc sống.
Nhiều dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan nhà n
ước được triển khai liên tục trong giai đoạn 2000 - 2010 với những
thành công đã được ghi nhận, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội,
hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhiều bất cập, hạn
chế cũng đã xuất hiện trong quá trình triển khai các dự án. Một trong những
hạn chế được nh
ắc đến thường xuyên: đó là việc chưa có kiến trúc Chính phủ
điện tử.
Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng kiến trúc công
nghệ thông tin và truyền thông và các giải pháp công nghệ phù hợp cho việc
triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam”, mã số KC.01.18 thuộc Chương
trình nghiên cứu khoa học trọng điểm về Công nghệ thông tin và truyền thông
KC.01, giai đoạn 2006 - 2010 nhằm góp phần khắc phụ
c hạn chế nêu trên.
Báo cáo tổng hợp của đề tài được chia thành 11 chương như sau:
Chương 1 nêu sự cần thiết xây dựng kiến trúc Chính phủ điện tử ở Việt

, kinh tế, văn hóa cho đến các hình thức giải trí của người dân, trong đó đặc
biệt là quản lý hành chính nhà nước.
Trên thế giới có nhiều định nghĩa của các tổ chức về Chính phủ điện tử.
Các định nghĩa có thể khác nhau về cách diễn đạt, cách sử dụng thuật ngữ
nhưng tựu chung lại: “Chính phủ điện tử là việc ứng dụng CNTT trong các cơ
quan nhà nước nh
ằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, tính minh bạch và khả
năng kiểm soát các giao dịch của cơ quan nhà nước với công dân, với các
doanh nghiệp và với các cơ quan nhà nước khác”.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công nghệ thông tin trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 17 tháng 10 năm 2000,
Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin phục vụ s
ự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá với ba mục tiêu lớn: ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong mọi lĩnh
vực, phát triển mạng thông tin quốc gia trên cả nước, với thông lượng lớn, tốc
độ và chất lượng cao, công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn.
Tiếp đó, trong giai đoạn 2000 - 2010, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành các Nghị quyết, Quyết định để thúc đẩy CNTT Việ
t Nam, đặc
biệt là ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới việc
hình thành Chính phủ điện tử ở Việt Nam. Có thể kể đến:
- Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai
đoạn 2001-2005 với các mục tiêu chính bao gồm: xây dựng hệ thống thông
tin phục vụ quản lý của các cơ quan hành chính nhà nướ
c, thúc đẩy mạnh mẽ
ời gian, công sức.
Trong 10 năm qua, với sự quyết tâm của Chính phủ, các Bộ ngành có
liên quan, và của mọi doanh nghiệp, người dân, sự nghiệp phát triển ứng dụng
CNTT ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động của các cơ qua nhà nước, hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
1.2. Vai trò, sự cần thiế
t của kiến trúc Chính phủ điện tử
Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, xây dựng Chính phủ điện tử
(CPĐT) đã trở thành mục tiêu hướng tới của nhiều nước trên thế giới để cải
17
cách nền hành chính, thay đổi phương thức làm việc, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả của các cơ quan Nhà nước. Đến nay, các nước phát triển như Mỹ, Canada,
Hàn Quốc, Singapore…đã thu được nhiều thành công quan trọng với những
dự án, kế hoạch phát triển Chính phủ điện tử, góp phần quan trọng cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Trong quá trình triển khai các đề
án, dự án tin học hóa, ứng dụng
CNTT trong các cơ quan nhà nước phục vụ cho việc xây dựng Chính phủ điện
tử, một trong những bài học được rút ra trong quá trình triển khai các dự án,
đó là sự cần thiết phải có một kiến trúc chuẩn về các quy trình nghiệp vụ -
luồng thông tin - các ứng dụng - công nghệ sử dụng và một lộ trình triển khai
phù hợp để tăng hiệu quả, tính linh hoạt và khả nă
ng tái sử dụng của các hệ
thống thông tin. Thực tế triển khai các dự án CPĐT ở nhiều nước trên thế giới
đã minh chứng cho sự cần thiết của kiến trúc.
Trước hết là về quy trình nghiệp vụ: có thể thấy, ở mỗi nước, Chính

mềm đều hướng tới việc đảm bảo tính tương hợp giữa các giải pháp cùng loại
(ví dụ: tính tương hợp giữa Microsoft Office và Open Office, giữa Internet
Explorer và Firefox…), tuy nhiên thực tế vẫn tồn tại những vấn đề về k
ỹ thuật
do sự không tương thích giữa các hệ thống. Một ví dụ đơn giản để minh
chứng cho việc này là vấn đề font chữ: nếu một hệ thống sử dụng font
Unicode sẽ không thể đọc được các tài liệu sử dụng font VnTime và ngược lại.
Từ những lý do trên, đến thời điểm hiện tại, đã có trên 20 quốc gia xây
dựng kiến trúc cho Chính phủ điện tử trong
đó có các nước dẫn đầu về CPĐT
trên các bảng xếp hạng như Mỹ, Canada, Đan Mạch, Hàn Quốc, Anh, Đức …
và một số nước có thứ hạng trung bình về CPĐT như Ma-lai-xia, Phi-líp-pin,
Ghana… với các mục tiêu khác nhau. Có những nước hướng tới việc giải
quyết từ các vấn đề về quy trình nghiệp vụ, đến các vấn đề về luồng thông tin,
dữ liệu và các chuẩn kỹ thuật. Có nh
ững nước chỉ giải quyết trước các vấn đề
mang tính kỹ thuật.
Với các mục tiêu khác nhau như vậy, kiến trúc cho Chính phủ điện tử
của các nước khá đa dạng, có những kiến trúc tổng thể bao gồm cả các nội
dung về quy trình hành chính, về cơ sở dữ liệu, về công nghệ như kiến trúc
của Mỹ (Federal Enterprise Architecture), kiến trúc của Canada (Government
of Canada Service Oriented Architecture), có những kiến trúc tập trung nhiề
u
hơn cho các ứng dụng CNTT phục vụ CPĐT như kiến trúc của Đức (SAGA -
Standards and Architectures for eGovernment Applications) và cũng có
những kiến trúc tập chung chủ yếu cho các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về
CNTT như khung tương hợp (interoperability framework) của Ma-lai-xia
(MyGIF - Malaysian Government Interoperability Framework). Tuy nhiên,
một cách tổng quát nhất, kiến trúc của các nước có thể chia thành 02 nhóm
chính:

n kết nối: định nghĩa các chuẩn phục vụ cho việc tương tác giữa
các đối tượng, đặc điểm kỹ thuật yêu cầu cho truyền thông và trao đổi thông
tin giữa các hệ thống khác nhau trên mạng. Các chuẩn kết nối thường gặp bao
gồm: truyền siêu văn bản (Hypertext Transfer), truyền tập tin (File Transfer),
truyền tải thư điện tử, truy cập hộp thư, truy cập thư mục , dịch v
ụ tên miền,
dịch vụ nhóm thông tin, truyền tải trên mạng, mạng cục bộ không dây…
- Chuẩn tích hợp dữ liệu: gồm các chuẩn dùng để cho phép nhận dạng
dữ liệu, các phương pháp nhận dạng, và cách nắm bắt dữ liệu. Các chuẩn tích
hợp dữ liệu bao gồm: chuẩn về ngôn ngữ định dạng văn bản, ngôn ngữ định
nghĩa các lược đồ trong các văn bản XML (Schema Definition), chuẩn bi
ến
đổi dữ liệu, chuẩn mô hình hóa dữ liệu, chuẩn miêu tả tài nguyên dữ liệu,
chuẩn về mã kí tự (Character Set Presentation)…
- Chuẩn truy cập thông tin: bao gồm các thành phần và các đặc tả kỹ
thuật cần thiết để người dùng có thể truy cập các thông tin cũng như dịch vụ
công cộng thông qua các kênh phân phối (như Web) và các thiết bị đầu cuối
20
(máy tính cá nhân, điện thoại di động, PDA, ). Các chuẩn truy cập thông tin
bao gồm: chuẩn nội dung Web (Hypertext Web Content), chuẩn văn bản
(Document), chuẩn về bảng tính, trình bày, ảnh đồ họa, phim ảnh, âm thanh…
- Chuẩn an toàn dữ liệu: gồm các chuẩn và các chi tiết kỹ thuật cần
thiết cho phép đảm bảo an toàn trong trao đổi thông tin, truy xuất các thông
tin và truy cập dịch vụ. Các chuẩn an toàn dữ liệu bao gồm: an toàn thư điện
tử, an toàn tầng giao vận, an toàn tầng m
ạng, các giải thuật mã hóa…
Ngoài 02 cách tiếp cận về kiến trúc của các nước, các công ty lớn trên
21
là định nghĩa gốc về kiến trúc, được các tài liệu khác nhau thường xuyên trích
dẫn và sử dụng khi nói đến khái niệm kiến trúc.
Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữa khái niệm kiến trúc áp dụng
trong lĩnh vực xây dựng và khái niệm kiến trúc áp dụng trong lĩnh vực công
nghệ thông tin là, nếu như kiến trúc xây dựng thường là không thay đổi thì
kiến trúc công nghệ thông tin lại thường xuyên phải thay đổi, cập nhật.
Kiến trúc xây d
ựng thường gắn liền với một dự án xây dựng, do vậy nó
mang tính chất dự án, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc cụ thể.
Trước khi khởi công dự án xây dựng, người ta đã phải hoàn thành xong kiến
trúc. Trong suốt quá trình thực hiện dự án xây dựng, hầu như kiến trúc ban
đầu được giữ nguyên, không thay đổi. Sau khi dự án xây dựng kết thúc, kiến
trúc ban đầu không được sử
a đổi, cập nhật nữa, mà thường được lưu vĩnh viễn
như hồ sơ kèm theo công trình.
Trái lại, kiến trúc công nghệ thông tin mang tính chất của một tiến trình
liên tục. Do đặc thù là vòng đời công nghệ là rất ngắn và quy trình nghiệp vụ
của cơ quan, tổ chức cũng thường xuyên được điều chỉnh, trong suốt tiến trình
này, kiến trúc công nghệ thông tin thường xuyên được thay đổi, cập nhật.
Vì vậy, thay vì nói
“xây dựng kiến trúc công nghệ thông tin” người ta
thường nói “phát triển kiến trúc công nghệ thông tin” khi mô tả quá trình tiến
hóa này của kiến trúc. Cũng chính vì vậy, trong lĩnh vực công nghệ thông tin,
cặp khái niệm, “hệ thống hiện tại” - “as-is system” - để chỉ hệ thống thông
tin hiện tại và “hệ thống mục tiêu” - “to-be system” - để chỉ hệ thống thông
tin cần phát triển, được sử dụng khá thường xuyên.
Trong báo cáo này, nhóm đề tài sử dụng khái niệm kiến trúc do Viện

nền tảng cho các thành phần kiến trúc khác.
- Kiến trúc thông tin (Information Architecture) mô tả những thông tin
phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ cũng như cách thức lưu giữ, xử lý, truy cập
thông tin, dữ liệu. Do vậy, nhiều kiến trúc tổng th
ể coi mô hình dữ liệu là một
phần không thể thiếu được của kiến trúc thông tin.
- Kiến trúc giải pháp (Solution Architecture) mô tả các giải pháp công
nghệ được sử dụng để ứng dụng công nghệ thông tin vào việc lưu trữ, xử lý,
truy cập thông tin và thực thi các quy trình nghiệp vụ. Trong nhiều trường
hợp, kiến trúc giải pháp có thể coi như tương đương với kiến trúc ứng dụng
(Application Architecture), kiến trúc lớp trung gian (Middle Layer
Architecture).
- Kiến trúc công nghệ
mô tả hệ thống phần cứng, hệ thống mạng và các
yếu tố phần cứng khác đóng vai trò cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin - truyền
thông cho cơ quan, tổ chức. Trong nhiều trường hợp, kiến trúc công nghệ
được hiểu tương đương với kiến trúc các giải pháp kỹ thuật.
1.3.3. Kiến trúc Chính phủ điện tử
Chính phủ có thể xem là một loại hình cơ quan, tổ chức l
ớn nhất trong
xã hội. Vì vậy, khi phát triển hệ thống thông tin của chính phủ, người ta đã sử
dụng khái niệm kiến trúc chính phủ điện tử (e-government architecture).
23
Đến thời điểm hiện tại, đã có trên 20 quốc gia xây dựng và phát triển
kiến trúc chính phủ điện tử, trong đó có các nước dẫn đầu về chính phủ điện
tử trên các bảng xếp hạng như Mỹ, Ca-na-đa, Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đức v.v… và cả những quốc gia có thứ hạng trung bình về chính phủ

trúc phổ biến trên thế giới bao gồm TOGAF (The Open Group Architecture
Framework), Zachman (The Zachman Framework for Enterprise
Architecture) v.v…
24
- Mô hình tham chiếu (Reference Model): mô hình tham chiếu được sử
dụng để mô tả kỹ hơn về một thành phần nào đó của kiến trúc. Một thành
phần kiến trúc có thể có một hoặc nhiều mô hình tham chiếu. Ví dụ: mô hình
tham chiếu dữ liệu, mô hình tham chiếu thông tin, mô hình tham chiếu quy
trình nghiệp vụ v.v…
- Quan điểm kiến trúc (Architecture Viewpoint): quan điểm kiến trúc là
tài liệu mô tả kiến trúc dựa trên một quan điểm hoặ
c một góc nhìn cụ thể nào
đó. Ví dụ: khi mô tả về kiến trúc, SAGA của Đức sử dụng 5 quan điểm, lần
lượt là: quan điểm tổ chức, quan điểm chức năng, quan điểm công nghệ, quan
điểm hạ tầng kết nối và quan điểm thông tin.
1.4. Mức độ phát triển của Chính phủ điện tử và kiến trúc CPĐT
1.4.1. Mức độ phát triển chính phủ
điện tử
Theo định nghĩa về Chính phủ điện tử trong phần 1.1, khi chính phủ
ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ thì đã là chính
phủ điện tử, chỉ khác nhau ở mức độ phát triển.

Các nước phát triển chính phủ điện tử thường trải qua quá trình phát
triển lâu dài, từ giai đoạn thấp đến giai đoạn cao, từ đơn giả
n đến phức tạp.
Các nghiên cứu hiện tại cho thấy có nhiều cách phân loại các giai đoạn nói
trên thành các mức độ phát triển khác nhau. Bảng 1.1 dưới đây tổng hợp một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status