1 Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì : Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô
Chủ nhiệm đề tài : ThS. Cao Văn Sơn
7121
17/02/2009
Hà nội 12/2008
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I
III.4.2 Nguyên liệu là bạch đàn 51
III.5 Xác định điều kiện tối ưu cho quy trình tẩy D
0
(EO)D
1
56
III.5.1 Nguyên liệu là bạch đàn 57
III.5.2 Nguyên liệu là keo tai tượng 62
3
III.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và môi trường 68
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ECF Elemental chlorine – free,
Công nghệ tẩy trắng bột giấy không dùng clo nguyên tố
TCF Totally chlorine – free,
Công nghệ tẩy trắng bột giấy không sử dụng clo
O Oxygen-alkali deligninfication stage,
Giai đoạn tách loại lignin bằng oxy trong môi trường kiềm
A Acid stage. Giai đoạn axit hóa nhằm tách loại các kim loại chuyển tiếp,
axit HexA hoặc cả hai. Axit thường dùng là H
2
SO
4
C Chlorination stage
Giai đoạn tẩy trắng bằng khí Clo (clo hóa)
H Hypoclorite stage,
Giai đoạn tẩy trắng bằng dung dịch muối natri hypoclorit
D Chlorine dioxide stage,
Giai đoạn tẩy trắng bằng dung dịch chứa nước đioxyt clo (ClO
2
)
D
h
High temperature Chlorine dioxide stage,
Giai đoạn tẩy trắng bằng dung dịch đioxyt clo ở nhiệt độ cao
D
N
Chlorine dioxide stage followed by neutralization,
Giai đoạn tẩy trắng bằng dung dịch đioxyt clo ở môi trường trung tính
E Alkaline extraction stage,
Giai đoạn trích ly sử dụng NaOH
O
2
và O
2
(mức dùng H
2
O
2
thấp)
P Hydrogen peroxide stage,
Giai đoạn tẩy trắng bằng H
2
O
2
(ở áp suất thường)
Paa Peracetic acid (CH
3
COOOH) stage,
Giai đoạn tẩy trắng bằng peracetic axit (CH
3
COOOH)
Pxa Stage with mixture of peracids,
Giai đoạn tẩy trắng bằng hỗn hợp peraxit
Q Chelation stage,
Giai đoạn chelat hóa nhằm tách loại các ion kim loại chuyển tiếp
X Xylanase treatment stage,
Giai đoạn xử lý bột bằng enzym
Z Ozone stage,
Giai đoạn tẩy trắng sử dụng khí ozon (O
7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Một số điều kiện công nghệ tách loại lignin bằng oxy – kiềm đối với
bột kraft
(EO)D
1
Bảng 2.7 Các điều kiện công nghệ cho quy trình ECF thông thường D
0
E
0
D
1
E
1
D
2
Bảng 2.8 Chọn nồng độ dung dịch đo độ nhớt
Bảng 2.9 Ma trận thực nghiệm theo phương pháp Box – Wilson
Bảng 3.1 Thành phần hóa học nguyên liệu keo tai tượng và bạch đàn
Bảng 3.2 Kết quả phân tích sau nấu đối với nguyên liệu keo tai tượng và bạch
đàn
Bảng 3.3 Kết quả phân tích sau tách loại lignin bằng oxy - kiềm
Bảng 3.4 Chỉ số độ bền cơ lý của bột sau tẩy ứng với các quy trình t
ẩy khác nhau
Bảng 3.5 Mã hóa các biến thí nghiệm thực nghiệm theo quy trình (DQ)(PO)
Bảng 3.6 Kết quả tẩy trắng của các mẫu thực nghiệm với nguyên liệu keo tai
tượng theo quy trình (DQ)(PO).
Bảng 3.7 Các số liệu thực nghiệm trên mô hình, đối với nguyên liệu keo tai tượng
theo quy trình (DQ)(PO) 8
quy trình D
0
(EO)D
1
Bảng 3.18 Ma trận thực nghiệm tối ưu theo phương pháp tiến lên, đối với nguyên
liệu bạch đàn theo quy trình D
0
(EO)D
1
Bảng 3.19 Kết quả tẩy trắng của các mẫu thực nghiệm với nguyên liệu keo tai
tượng theo quy trình D
0
(EO)D
1
Bảng 3.20 Các số liệu thực nghiệm trên mô hình, đối với nguyên liệu keo tai tượng
theo quy trình D
0
(EO)D
1
Bảng 3.21 Các số liệu tính toán trên mô hình, đối với nguyên liệu keo tai tượng
theo quy trình D
0
(EO)D
1
Bảng 3.22 Ma trận thực nghiệm tối ưu theo phương pháp tiến lên, đối với nguyên
10
Mở đầu
Trong công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy, vấn đề ô nhiễm môi trường do
nước thải so với công nghệ ECF thông thường.
11
Nội dung nghiên cứu bao gồm:
* Tổng hợp tài liệu, nghiên cứu kiểm chứng một số quy trình tẩy trắng rút
gọn như: D(EO)D; D(EOP)D; (AQ)
h
(PO)D; (AD)
h
(EO)D… tới tính chất của bột
nấu từ nguyên liệu là gỗ keo tai tượng, bạch đàn gồm :
+ Độ trắng của bột sau tẩy, %ISO
+ Hiệu suất tẩy, %
+ Độ nhớt của bột, ml/g
+ Độ hồi mầu, %
* Trên cơ sở đó chọn ra một quy trình khả quan nhất để nghiên cứu ảnh
hưởng của các yếu tố công nghệ (nhiệt độ, thời gian và mức dùng hoá chấ
t) tới hiệu
quả của các giai đoạn tẩy trắng bằng đioxyt clo (D) và đưa ra quy trình tẩy với các
điều kiện kỹ thuật tối ưu nhất.
* Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và lượng thải AOX trong nước
thải khi tẩy bằng quy trình mới đã chọn
2
; CEDED; (C+D)EHDED…Nhìn chung các loại bột sau
tẩy thường có độ trắng và độ bền cơ lý cao do tác động khử lignin có tính chọn lọc
tốt của clo và các hợp chất của nó [29, 30].
Mặc dù vậy, nước thải của quá trình tẩy trắng chứa rất nhiều các hợp chất
độc hại với môi trường và sức khỏe con người. Năm 1985, các nhà môi trường đã
khẳng định nước thải của hầu hết các nhà máy sả
n xuất bột giấy tẩy trắng sử dụng
tác nhân tẩy là clo nguyên tố đều chứa các hợp chất: 2,3,7,8-tetra-chloro-dibenzo-p-
dioxin (2,3,7,8-TCDD), 2,3,7,8 – tetra -chloro-dibenzo-furan (2,3,7,8-TCDF)…, với
tải lượng AOX từ 1 ÷ 8kg/ADt. Các hợp chất này rất độc, khó phân hủy sinh học và
có thể gây ra bệnh ung thư ở người. [30].
Trước các yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường sinh thái dẫn tới việc
cần thiết phải hạn chế, loại bỏ các giai đoạn tẩy tr
ắng bột giấy sử dụng clo nguyên
tố.
Đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước, đánh dấu một bước thay đổi lớn trong công
nghệ tẩy trắng bằng việc lần đầu tiên giai đoạn clo hóa được thay thế hoàn toàn
bằng giai đoạn tách loại lignin bằng oxy-kiềm. Với sự thay thế này đã làm giảm
đáng kể tính độc hại cũng như lượng thả
i của các hợp chất AOX có trong nước thải.
Bắt đầu từ năm 1985, với những tiến bộ trong công nghệ nấu bột, bột có trị
số kappa khá thấp mà chất lượng vẫn đảm bảo. Bột sau nấu được khử lignin bằng
oxy-kiềm và kết hợp với một số giai đoạn tẩy bằng đioxyt clo hình thành lên một số
quy trình mới: quy trình tẩy trắng không sử dụng clo nguyên t
ố (ECF).
Tuy nhiên mãi tới năm 1990, dây chuyền tẩy trắng sử dụng công nghệ ECF
lần đầu tiên được triển khai xây dựng và được khởi chạy vào năm 1993 tại Alberta
13
O
2
) và đôi khi cả ôzôn (O
3
)…Quá
trình tẩy thường được tiến hành qua nhiều giai đoạn với các tác nhân và điều kiện
tiến hành khác nhau, độ trắng của bột sau tẩy có thể đạt tới 90%ISO với chất lượng
khá cao, chi phí hợp lý và giảm thiểu lượng AOX có trong nước thải, thải ra môi
trường.
14
I.1.1. Tách loại lignin bằng ôxy trong môi trường kiềm (O).
Trước sức ép về bảo vệ môi trường sinh thái đối với ngành công nghiệp bột
và giấy trên thế giới thì giai đoạn tách loại lignin bằng ôxy – kiềm là một giải pháp
hữu hiệu nhằm thay thế một phần Clo và các hợp chất có chứa Clo trong quá trình
tẩy trắng.
Khả năng tách loại lignin bằng oxy được khám phá khá sớm. Lần đầu tiên
vào năm 1867 do Joy và Campbell khi hai ông tiến hành gia nhiệt khố
i bột sau nấu
với sự có mặt của không khí chuyển qua. Patent đầu tiên được công bố đầu tiên vào
năm 1915 là của Mueller với sự khẳng định khả năng tách loại lignin của ôxy trong
điều kiện áp lực và môi trường kiềm. Công trình của Hanris và Manshall về vấn đề
này cũng được công bố vào năm 1954. Trong suốt khoảng thời gian từ 1956 đến
1960 hàng loạt các công trình của Nikitin và Akim với các điều kiện tiến hành và
hiệ
u quả khác nhau đã được công bố. Tuy nhiên mãi tới năm 1970 dây chuyền tẩy
trắng bột hóa học đầu tiên có sử dụng công đoạn tách loại lignin bằng ôxy - kiềm
mới chính thức được khởi chạy tại Nam Mỹ. [29,30]
-
+ O
2
→ RO
*
+
-
O-O
*
(I.1)
RH + O
2
→ R
*
+ HO
2
*
(I.2)
Phản ứng phát triển mạch:
R
*
+ O
2
→ RO
2
(I.3)
RO
2
*
+ RH → RO
có chất bảo vệ
các polysacarit cũng bị tấn công bởi các gốc tự do. Các gốc tự do này
được tạo thành do ôxy hóa trực tiếp các chất hữu cơ hoặc do phân hủy peroxit dưới
tác dụng của các kim loại chuyển tiếp.
16
Quá trình phản ứng của polysacarit chủ yếu là bị bào mòn, sản phẩm của quá
trình này là các axit hữu cơ (oxyaxit) dạng dị vòng, hoặc mạch thẳng. Ban đầu
đơn vị cuối mạch polysacrit có dạng andehit bị đồng phân hóa thành dạng xeton
trong đó liên kết glycozit ở vị trí β so với nhóm cacboxyl. Dưới tác dụng của kiềm
một hydro (H) được tách ra từ cacbon thứ 3 và hình thành dạng ion diol, tách mắt
xích đó ra và cuối cùng là tạo ra axit glucoisosacarinic…Quá trình này chỉ dừng lại
khi nhóm andehit ở
mắt xích cuối cùng bị chuyển thành nhóm cacboxyl.
Để giảm mức độ ảnh hưởng đến chất lượng bột, quá trình tách loại lignin chỉ
dừng lại ở mức độ dưới 50%, trong điều kiện tiến hành tương đối ôn hòa. Chất bảo
vệ polysacrit thường sử dụng trong giai đoạn ôxy – kiềm cũng như hạn chế sự phân
hủy của O
2
và peroxit bởi các kim loại chuyển tiếp có trong bột thường dùng là
MgSO
4
với mức dùng từ 0,05 – 0,10% so với bột khô tuyệt đối (KTĐ).
Các yêu tố công nghệ ảnh hưởng tới quá trình tách loại ligin bao gồm: trị số
kappa bột ban đầu, mức dùng xút, nhiệt độ, nồng độ, thời gian và áp suất ôxy. Các
kết quả nghiên cứu và các kết quả thực nghiệm tại các nhà máy đã kết luận một số
chế độ tối ưu cho giai đoạn này (bảng 1.1). [30]
Bả
ng 1.1. Một số điều kiện công nghệ của quá trình tách loại lignin bằng oxy-
kiềm đối với bột kraft.
Trước sức ép về bảo vệ môi trường, hầu hết phần lớn các nhà máy đều
chuyển sang công nghệ ECF với tác nhân tẩy chủ lực là đioxytclo và nó ngày càng
thể hiện là một tác nhân tẩy trắng có độ chọn lọc và hiệu quả cao. Hơn thế nữa một
số thuận lợi khi sử dụng đioxytclo là:
+ Quá trình tẩ
y trắng ở nhiệt độ cao hơn (60 -70
0
C), nồng độ tẩy trắng được
nâng cao (10%), tương ứng với các giai đoạn tẩy tiếp sau do đó cho phép giảm năng
lượng và mức dùng nước, hạn chế lượng nước thải.
+ Đioxyt clo phản ứng với lignin tạo thành các hợp chất hoà tan trong nước
nên giảm được lượng kiềm sử dụng trong giai đoạn trích ly kiềm tiếp sau.
+ Nước thải của quá trình tẩy trắng bằng đ
ioxyt clo có hàm lượng AOX thấp
hơn nhiều khi tẩy bằng clo
+ Tẩy trắng bằng đioxyt clo cho chất lượng bột tốt hơn: độ trắng cao, độ nhớt
cao, độ hồi màu thấp, tính chất cơ lý của bột được cải thiện và hiệu suất bột tẩy
trắng khá cao.
Nhìn chung phản ứng oxy hoá của đioxyt clo trong quá trình tẩy trắng diễn ra
rất phức tạp. Nhiều cấu tử ch
ứa clo xuất hiện trong hệ phản ứng như: axithypoclorơ
(HOCl), Clo (Cl
2
), ion Clorat (ClO
3
-
)…Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, đioxyt
18
clo khi phản ứng với lignin đã nhận một điện tử tạo thành ion clorit (ClO
…
Nhìn chung các cấu tử ClO
2
, HOCl, Cl
2
sẽ là các tác nhân chính trong quá
trình tẩy trắng. Các cấu tử này, đặc biệt là đioxyt clo sẽ tấn công mạnh, phá hủy
nhanh các cấu trúc phenol tự do. Ngoài ra các cấu trúc phenol thế và các cấu trúc
chứa nối đôi cũng bị phân hủy. Sản phẩm của quá trình tạo ra là các axit oxalic,
maleic, fumaric và các sản phẩm hữu cơ có chứa clo. Do bị phân cắt, giải trùng hợp
thành các mảnh chứa nhóm thế cacboxyl nên các sản phẩm phân hủy lignin này tan
vào trong môi trường tẩy, còn lại một số s
ẽ được tách loại trong giai đoạn kiềm hóa
tiếp theo.
Do đioxyt clo có tính chọn lọc khá cao nên ảnh hưởng tới các polysacrit
không nhiều. Đối với các hợp chất trích ly, đioxyt clo phản ứng cũng rất hạn chế và
chậm, tuy nhiên nó vẫn có thể oxy hóa một số cấu tử nhựa, phản ứng cộng với các
hợp chất không no. Quá trình phản ứng làm xuất hiện các nhóm chức cacboxyl mới,
các nhóm này làm tăng khả nă
ng hòa tan các dẫn xuất vào môi trường tẩy.[30]
Trong các quy trình tẩy ECF, đioxyt clo được dùng làm giai đoạn tẩy đầu
tiên cũng như các giai đoạn tẩy khác trong quy trình tẩy với các điều kiện tiến hành
khác nhau. Đối với giai đoạn đầu tiên (D
0
) thường được tiến hành với:[31]
+ pH ban đầu: 1,5 – 2,5
+ Nhiệt độ,
0
C: 40 – 60
+ Nồng độ tẩy, %: 10 – 15
Phản ứng trung hòa các nhóm có tính axit: Đây là phản ứng quan trọng nhất
của NaOH với lignin trong suốt giai đoạn trích ly, nó trung hòa các mảnh hợp chất
có tính axit được sinh ra do quá trình phá vỡ đại phân tử lignin hoặc có tự nhiên.
Xúc tác bazơ cho quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ bị clo hóa: Natri
hydroxyt đóng vai trò là xúc tác bazơ cho quá trình phân hủy các hợp chất vòng
thơm, các hợp chất béo có chứ
a clo có trong lignin. Có khoảng 60 – 70% các hợp
chất hữu cơ có chứa clo được tách ra từ bột trong giai đoạn trích ly.
Phản ứng ngưng tụ: Bên cạnh các phản ứng tách loại, hòa tan lignin, dưới
các điều kiện phản ứng của giai đoạn trích ly còn xẩy ra phản ứng ngưng tụ giữa các
mảnh của phân tử từ lignin có chứa nhóm o - và p- benzoquinon. Kết quả là tạo
thành đime polyphenolic
20
Xúc tác bazơ cho quá trình sắp xếp lại cấu trúc o-quinonid: Về nguyên tắc,
cấu trúc hình thái của o-benzoquinon mang ban đầu là của lignin trong đầu giai
đoạn tẩy trắng. Trong môi trường kiềm, axit benzylic sẽ được biến đổi, sắp xếp lại
thành axit cyclopentadien α -hydroxycacboxylic. Sự sắp xếp này sẽ làm tăng khả
năng hòa tan trong môi trường kiềm của các hợp chất có phân tử lượng thấp bị phá
vỡ từ đại phân tử lignin ban đầ
u.
Nhìn chung qua giai đoạn trích ly kiềm được tiến hành trong điều kiện tương
đối ôn hòa nên ảnh hưởng của nó tới các polysacrit là không nhiều. Giai đoạn trích
ly kiềm này thường sử dụng xen kẽ sau các giai đoạn tẩy bằng đioxyt clo.
Các điều kiện tiến hành được các nhà khoa học và các nhà sản xuất tổng kết
như sau: [31]
Giai đoạn trích ly đầu tiên (E
0
):
+ pH ban đầu: 10,0 – 11,5
I.1.4. Tẩy trắng bột giấy bằng peroxyt hydro (P)
Peroxyt hydrô trong môi trường kiềm là tác nhân hiệu quả để tẩy trắng các
loại bột hóa học và cơ học. Ưu điểm chính của tác nhân là tính chọn lọc khá cao, ít
gây ô nhiễm môi trường. Do vậy peroxyt hydrô được sử dụng ngay từ những năm
1940 cho t
ẩy trắng bột cơ học.
Trước đây, peroxyt hydrô thường được sử dụng ở giai đoạn cuối cùng của
quy trình tẩy nhằm tăng tính ổn định độ trắng của bột sau tẩy. Tuy nhiên với các
tiến bộ về công nghệ, trong các quy trình ECF hiện đại thì nó là tác nhân quan trọng
trong việc thay thế đioxyt clo.
Quá trình tẩy trắng bằng hydro peroxyt thường được tiến hành trong môi
trường kiềm. Dưới tác dụng kiề
m, H
2
O
2
tạo thành ion perhyđrôxyl HOO
-
theo
phương trình (I.6). Ion HOO
-
là tác nhân oxy hoá các nhóm mang mầu của các hợp
chất hữu cơ có trong ligin và một số hợp chất hữu cơ phân tử lượng thấp khác, đem
lại độ trắng cho bột.
H
2
O
2
+ OH
-
O
2
.
Trong suốt quá trình tẩy, pH của môi trường giảm liên tục theo thời gian, để khắc
22
phục hiện tượng này natrisilicat được thêm vào dịch tẩy. Nó không chỉ là nguồn
kiềm bổ sung mà còn có vai trò làm ổn định pH môi trường tẩy.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy Na
2
SiO
3
thường được dùng ở mức 5% (so
với bột khô tuyệt đối) [31]. Một lượng nhỏ khoảng 0,05% muối MgSO
4
được thêm
vào cùng với Na
2
SiO
3
, chúng có tác dụng khử hoạt tính xúc tác phân huỷ H
2
O
2
theo
các phản ứng (I.7, I.8, I.9) của các ion kim loại chuyển tiếp như: Cu, Mn, Fe
[30,31]. Mặt khác nó còn hoạt hoá H
2
O
2
HOO
_
+ HO
-
→ O
2
*
+ M + H
2
O (I.8)
M
+
+ O
2
*
→ O
2
+ M (I.9)
Các điều kiện công nghệ trong giai đoạn P thường sử dụng:
+ pH ban đầu: 10,5 - 11,0
+ Nhiệt độ,
0
C: 70 – 110
+ Nồng độ tẩy, %: 10 - 15
+ Thời gian, phút: 30 -180
+ Mức dùng H
2
O
2
+ Nhiệt độ,
0
C: 30 – 50
+ Nồng độ bột,%: 35 – 45
+ Thời gian, phút: 1 – 2
Tuy nhiên hiện tại, tác nhân này được sử dụng hạn chế do giá thành sản xuất
khá đắt, thiết bị tiến hành tương đối phức tạp.
I.1.6. Một số quy trình ECF đang được sử dụng trong các nhà máy
Nhìn chung hầu hết các nhà máy hiện nay đều sử dụng một trong số các tác
nhân tẩy trắng: đioxyt clo, ôxy, peroxyt hydro, ozon…trong các giai đoạn tẩy của
mình. Các quy trình tẩy hiện đại đề
u cho độ trắng trên 90%ISO với chất lượng bột
khá cao, hàm lượng AOX có trong nước thải ngày càng có xu hướng giảm.
Các quy trình ECF hay được sử dụng ở Canada và Scandinavia thường có
dạng: O-D-(EOP)-D-D; O-D-(EOP)-D-P; O-D-(EOP)-D;O- Z-(EOP)-(D
N
D)… Còn
ở Thủy điển:
24
+ Nhà máy Aspa Bruk – Munksjo sử dụng quy trình : O-Q-(PO)-DD cho gỗ
cứng.
+ Nhà máy Stora Enso - Skoghall sử dụng quy trình: O-(PO)-(DQ)-(PO) cho
gỗ mềm.
Hay như ở Phần lan, tại nhà máy UPM - Kymmene Wisaforest- Pietarsaari, trong 3
dây chuyền bột sử dụng tới 3 quy trình tẩy khác nhau: O(ZD)(O/EO)(ZD)EP;
O(ZQ)(OP)ZP;
O(Z/D)(EOP)DP cho cả nguyên liệu là gỗ cứng và gỗ mềm.
Ngoài ra còn rất nhiều quy trình ECF đang được sử dụng có hiệu quả ở nhiều
nhà máy trên thế giới. Xu hướng của các quy trình tẩy ECF mới trang bị cho các
2
; ClO
2
; O
3
, trong quá trình tẩy các tác nhân sẽ tham
gia phản ứng với HexA này trước khi phản ứng với lignin. Đặc biệt HexA hấp thụ
mạnh KMnO
4
trong quá trình xác định trị số kappa của bột dẫn đến sai số trong
việc xác định hàm lượng lignin dư, các thí nghiệm cho thấy cứ 10mmol HexA/kg
bột thì sẽ làm tăng 0,85 – 1,05 đơn vị kappa (bảng 1.2) . Do vậy để biết chính xác
lượng dư của lignin có trong bột trước khi tính toán hóa chất cho các giai đoạn tẩy
thì cần thiết phải tách loại tốt đa lượng HexA. [29]
Bảng 1.2.Hàm lượng HexA có trong bột của các nhà máy nấu theo các phương
pháp khác nhau.
[28,29]
Phương pháp nấu Trị số
kappa sau nấu
Hàm lượng HexA,
mmol/kg bột
Trị số
kappa thực
Nấu gián đoạn cải tiến 26 32,2 23
Nấu liên tục 24 22,8 21
I.1.7.2. Một số biện pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng axit hexauronic tới quá trình
tẩy trắng bột giấy
Axit HexA thường không bền trong điều kiện axit và thường tồn tại ở hai
dạng (do bị thủy phân): 90% ở dạng: 2- Furoic axit và 10%: ở dạng 5-cacboxy -2-
furandehyt. Chính việc thủy phân HexA thành các dạng trên mà sẽ giảm được lượng