BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ
************************
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2010
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BỘT GIẤY APMP
TỪ CÂY ĐAY VIỆT NAM
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì
: Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô
Chủ nhiệm đề tài
: ThS. Cao Văn Sơn
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ Hình 1.1 Dây chuyền P-RC APMP của Anditz
Hình 2.1 Bảo quản đay ngoài trời
Hình 2.2 Bảo quản đay trong nhà
Hình 2.3 Xông hơi dăm mảnh
Hình 2.4 Mảnh đay sau xông hơi
Hình 2.5 Nghiền sơ bộ
Hình 2.6 Mảnh đay sau nghiền sơ bộ
Hình 2.7 Mảnh sau nghiền lần 1
Hình 2.8 Bột sau khi kết thúc nghiền
Hình 3.1 Đay sau 12 thángbảo quản trong nhà
Hình 3.2 Đay sau 12 tháng bảo quản ngoài trời
nguyên liệu khác nhau
Bảng 3.1 Tính chất vật lý của nguyên liệu đay sau thu hoạch
Bảng 3.2 Thành phần hoá học của vỏ đay và thân – lõi đay sau thu hoạch
Bảng 3.3 Tỷ lệ chất tan của vỏ đay và thân – lõi đay sau thu hoạch trong một số
dung môi
Bảng 3.4 Thành phần hoá học của vỏ đay và thân – lõi đay sau 3 tháng, 6 tháng
bảo quản (có bao che )
B
ảng 3.5 Thành phần hoá học của vỏ đay và thân – lõi đay sau 9 tháng, 12 tháng
bảo quản (có bao che )
Bảng 3.6 Thành phần hoá học của vỏ đay và thân – lõi đay sau 3 tháng, 6 tháng
bảo quản (không bao che )
Bảng 3.7 Thành phần hoá học của vỏ đay và thân – lõi đay sau 9 tháng, 12 tháng
bảo quản (không bao che )
Bảng 3.8 Mã hóa các biến thí nghiệm thực nghiệm
Bảng 3.9 Điều kiện thí nghiệm của các biến trong giai đoạn thẩm thấu
Bảng 3.10 Điều kiệ
n thí nghiệm của các biến trong giai đoạn tẩy trắng
Bảng 3.11 Kết quả về độ trắng và tính chất cơ lý của các mẫu thực nghiệm
Bảng 3.12 Các số liệu thực nghiệm trên mô hình
Bảng 3.13 Các số liệu tính toán trên mô hình
Bảng 3.14 Ma trận thực nghiệm tối ưu theo phương pháp tiến lên
Bảng 3.15 Chất lượng đay sau thời gian bảo quản MỤC LỤC
30
II.1 Đối tượng nghiên cứu 30
II.2 Hóa chất và thiết bị nghiên cứu 30
II.3 Phương pháp nghiên cứu 31
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
38
III.1 Thành ph
ần hóa -lý của nguyên liệu đay sau thu hoạch 38
III.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản tới chất lượng đay
nguyên liệu
40
III.3
III.4.
Nghiên cứu xác định điều kiện tối ưu cho quy trình công nghệ sản
xuất bột P-RC-APMP từ nguyên liệu đay.
Quy trình công nghệ sản xuất bột P-RC-APMP từ nguyên liệu đay
45
54
III.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian, phương pháp b
ảo quản
nguyên liệu đay tới chất lượng bột giấy
56
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Với diện tích rừng đang ngày càng giảm, chi phí sản xuất bột giấy và nhu
cầu về các sản phảm giấy ngày càng tăng, điều này khiến các nhà sản xuất giấy phải
chuyển sang xu hướng tận dụng giấy loại thu hồi, sử dụng các loại bột hiệu suất cao
và các loại bột giấy được s
ản xuất từ các vật liệu phi gỗ, các phụ phẩm nông - lâm
nghiệp.
Hiện nay, bột giấy hóa nhiệt cơ tẩy trắng được sử dụng ngày càng nhiều
trong quá trình sản xuất giấy in báo, các sản phẩm giấy in cao cấp và là thành phần
không thể thiếu đối với giấy tráng. Ngoài các yếu tố quan trọng là chi phí sản xuất
thấp, tiết kiệm nguyên liệu thô, bột cơ học còn góp phần tạo nên những ch
ỉ tiêu chất
lượng quan trọng của sản phẩm giấy như: độ đục, độ nhẵn cao, khả năng in ấn vượt
trội.
2
Trong vài năm trở lại đây, bột cơ học đã được nhiều nhà đầu tư Việt Nam
quan tâm và đầu tư như: Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai với 03 dây chuyền
BCTMP tại Kon tum, Quảng Ngãi, Lâm Đồng với công suất lên tới 390.000
tấn/năm từ nguyên liệu gỗ cứng và đặc biệt là dây chuyền P-RC-APMP của nhà
máy Phương Nam công suất 100.000 tấn/năm từ nguyên liệu là cây đay…
Nhà máy bột giấy Phươ
ng Nam đầu tiên do công ty TRACODI Ltd, Co làm
chủ đầu tư với công suất 100.000 tấn bột cơ học tẩy trắng/năm, đây là dự án bột
giấy cơ học đầu tiên và duy nhất sử dụng nguyên liệu cây Đay Việt Nam. Công
nghệ sản xuất của nhà máy là công nghệ P-RC APMP (Pre-conditioning Refiner
Chemical Alkaline Peroxide Mechanical Pulping) với thiết bị tiên tiến và đồng bộ
do hãng Andritz cung cấp. Tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu n
ăm 2008 – 2009, chủ đầu tư đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây
lắp, vùng nguyên liệu có nguy cơ mất do tiến độ chậm nên không thể mua hết đay
CƠ HỌC TẨY TRẮNG
I.1.NHU CẦU BỘT GIẤY VÀ GIẤY Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI
Qua hơn thập kỷ vừa qua, chúng ta đa chứng kiến những phát triển vượt bậc
của ngành công nghiệp giấy của Việt Nam, các sản phẩm giấy không chỉ dần đáp
ứng nhu cầu tiêu dung trong nước mà dần tiến tới xuất khẩu. Tuy nhiên sự phát triển
của các nhà máy sản xuất bột giấy không theo kịp t
ốc độ phát triển các nhà máy sản
xuất giấy dẫn tới tình trạng mất cân đối trong sản xuất nên hàng năm chúng ta phải
nhập khẩu một lượng lớn các loại bột giấy để đáp ứng sản xuất giấy trong nước.
Hiện tại theo thống kê của hiệp hội giấy Việt Nam, tổng công suất thiết kế
của các nhà máy sản xuất bột ở Việt Nam ướ
c đạt 595.000 tấn/năm và tăng dần khi
các dự án mới đi vào sản xuất , các số liệu thống kê được đưa ra trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Năng lực sản xuất bột của các nhà máy ở Việt Nam
Năm
Sản phẩm
2009 2010 2011
Bột gỗ cứng không tẩy trắng UHKP, tấn 160.000 165.000 210.000
Bột gỗ cứng tẩy trắng BHKP, tấn 120.000 250.000 250.000
Bột hóa nhiệt cơ BCTMP, tấn 40.000 40.000 240.000
Bột hiệu suất cao, tấn 150.000 140.000 140.000
Tổng công suất, tấn/năm 470.000 595.000 940.000
Nguồn: hội thảo công nghiệp giấy và bột giấy Châu Á lần thứ 2, 10/2010 tại Hàn quốc
Đối với bột BHKP, hiện tại chỉ có duy nhất Công ty TNHH nhà nước một
thành viên giấy Việt Nam (trước là giấy Bãi Bằng) với dây chuyền bột BHKP công
suất 75.000 tấn/năm đồng bộ, song công nghệ của những thập kỷ trước. Ngoài ra
còn có khoảng 3 dây chuyền với tổng công suất 45.000 tấn/năm (Công ty TNHH
4
trường, tiến độ dự án chận nên sản lượng bột giấy trong năm 2009, 2010 thu được
chỉ đạt 65 – 70% công suất, các số liệu về sản phẩm bột giấy được đưa ra trong
bảng 1.2.
5
Bảng 1.2. Sản lượng bột giấy của Việt nam trong một số năm
Năm
Sản phẩm
2009 2010 2011
Bột gỗ cứng không tẩy trắng UHKP, tấn 130.000 140.000 150.000
Bột gỗ cứng tẩy trắng BHKP, tấn 100.000 120.000 210.000
Bột hóa nhiệt cơ BCTMP, tấn 35.000 40.000 40.000
Bột hiệu suất cao, tấn 47.000 60.000 72.000
Tổng công suất, tấn 312.000 360.000 472.000
Nguồn: hội thảo công nghiệp giấy và bột giấy Châu Á lần thứ 2, 10/2010 tại Hàn quốc
Với các sản lượng bột giấy như trên không thể đáp ứng được nhu cầu của sản
xuất giấy, hàng năm chúng ta phải nhập khẩu khoảng trên 100.000 tấn bột giấy các
loại cùng 230.000 tấn giấy loại phục vụ sản xuất các loại giấy, số liệu về nhập khẩu
bột giấy và giấy loại đưa trong bảng 1.3.
Bảng 1.3. Sản lượng nh
ập khẩu bột giấy của Việt nam trong một số năm
Năm
2009 2010 2011
Sản phẩm
Tiêu
dùng
Nhập
khẩu
Bảng 1.4. Năng lực sản xuất giấy của các nhà máy ở Việt Nam
N
ăm Sản phẩm
2009 2010 2011
Giấy in báo, tấn/năm 58.000 108.000 258.000
Giấy in - giấy viêt, tấn/năm 375.000 395.000 395.000
Giấy bao gói, tấn/năm 1.010.000 1.205.000 1.405.000
Giấy tráng phấn, tấn/năm 93.000 93.000 138.000
Giấy Tissue, tấn/năm 100.000 145.000 150.000
Giấy vàng mã, tấn/năm 150.000 150.000 160.000
Tổng, tấn/năm 1.786.000 2.066.000 2.506.000
Nguồn: hội thảo công nghiệp giấy và bột giấy Châu Á lần thứ 2, 10/2010 tại Hàn quốc
Mặc dù năng lực sản xuất khá cao nhưng các nhà máy sản xuất giấy trong
nước chỉ cung cấp ra thị trường gần 1,3 triệu tấn giấy các loại (năm 2010) còn lại
phải nhập khẩu trên 1 triệu tấn giấy các loại/năm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng
trong nước. Nhu cầu và sản lượng giấy nhập khẩu được đưa trong bảng 1.5 7
Bảng 1.5. Sản lượng tiêu dùng và nhập khẩu bột giấy của Việt nam trong một
số năm
Năm
2009 2010 2011
Sản phẩm
Tiêu
dùng
Nhập
khẩu
2009 riêng xuất sang Trung Quốc là 1,2 triệu tấn dăm mảnh; 6 tháng đầu năm 2010
xuất khẩu 1.770.521 tấn dăm mảnh chiếm 24% tổng số dăm mảnh xuất khẩu trên
thế giới, đứng thứ 2 sau Úc (chiếm 28%)) hàng loạt các dự án nhà máy bột giấy và
giấy đã, đang và sẽ được đầu tư trên khắp mọi miền của Việt Nam, bảng 1.6. 8
Bảng 1.6: Một số dự án đầu tư nhà máy bột giấy và giấy lớn ở Việt Nam đang
thực hiện
Xí nghiệp - Công ty - Dự án Công suất, tấn/năm Ghi chú
I. Bột giấy:
1. Công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Mai
+ Dự án nhà máy bột giấy và giấy Tân Mai –
Kontum
+ Dự án nhà máy bột giấy Tân Mai – Quảng Ngãi
+ Dự án nhà máy bột giấy Tân Mai – Lâm Đồng
150.000 tấn BCTMP/năm
40.000 tấn BCTMP/năm
200.000 tấn TMP/năm
- đang triển khai
- đang triển khai
- đang triển khai
70.000 tấn/năm
- đang triển khai
- đang triển khai
- đang triển khai
2. Công ty giấy Bãi Bằng, cải tạo nâng công suất:
giấy in, giấy viết
125.000 tấn/năm đã triển khai
xong
3. Công ty cổ phần giấy Thanh. Hoá: giấy làm hộp 130.000 tấn /năm - đang triển khai
4. Công ty cổ phần Giấy Sài Gòn
+ Dự án mở rộng: giấy testline, white top
230.000 tấn/năm
- đang triển khai
5. Lee & Man Hậu Giang 420.000 tấn giấy bao bì/năm - đang triển khai
6 Công ty cổ phần giấy An Hòa – Tuyên Quang:
giấy tráng nhẹ
130.000 tấn LWC /năm
- đang triển khai
9
I.2. CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BỘT GIẤY CƠ HỌC TẨY TRẮNG
Trong công nghiệp sản xuất bột giấy, có hai phương pháp chính là phương
Năm 1880 đánh dấu một bước cải tiến mới trong công nghệ bột gỗ mài bằng
sự xuất hiện hệ thống máy mài ở nhiệt độ cao với sự dẫn động bằng động cơ hơi
nước tại Mỹ
, chất lượng bột được cải thiện rất nhiều.
10
Hầu hết các thế hệ máy mài thời gian này hoạt động giãn đoạn nạp liệu kiểu
ống thủy lực, công suất nhỏ. Tuy nhiên năm 1922, lần đầu tiên xuất hiện thế hệ máy
mài với cơ cấu nạp liệu kiểu xích cho phép quá trình sản xuất diễn ra liên tục, chiều
dài khúc gỗ có thể đạt tới 1m, đường kính lô mài đến 1,5m do Voith thiết kế được
lắp đặt tại Schongau. Hệ thố
ng thiết bị và công nghệ này liên tục được cải tiến, tăng
quy mô và khả năng tự động hóa, tới năm 1984, hãng Voith đã cải tiến thành công
nghệ bột nhiệt mài (TGM).
Một hệ thống mài khác được công ty Great Northern – Waterous – Tempella
– Valmet thiết kế và sản xuất với hệ thống hai buồng nạp liệu và được lắp đặt đầu
tiên ở đông Millinocket năm 1926. Sau nhiều thời gian thăng trầm, ngày nay hãng
sản xuấ
t thiết bị này được biết đến với cái tên Valmet.
Tính đến năm 1960 hầu hết bột cơ học được sản xuất theo quy trình bột gỗ
mài và cũng thời điểm này xuất hiện các thế hệ máy nghiền đĩa dùng cho bột cơ đầu
tiên của một loạt các hãng như: Bauer, Sunnd, Enso và Jylhävaara. Với sự phát triển
về thiết bị trong công nghệ sản xuất bột cơ đã có những b
ước đột phá: các khúc
nguyên liệu được chặt nhỏ, sàng lọc kỹ đáp ứng được khả năng nghiền của các loại
máy, đồng thời do sự đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng các sản phẩm giấy nên
công nghệ bột cơ đã có những thay đổi, song song với bột mài, đã xuất hiện bột cơ
nghiền (RMP), bột nhiệt cơ (TMP) và bột hoá nhiệt cơ (CTMP) cho chất lượ
ng
bột tốt hơn như: tỷ lệ xơ sợi dài cao hơn, độ bền của bột được cải thiện đáng kể,
ằng dung dịch kiềm thì dăm mảnh
được thẩm thấu bằng dung dịch kiềm – perôxyt. Bên cạnh quá trình trích lý nhựa,
làm trương nở, mềm hóa dăm mảnh thì quá trình tẩy trắng cũng được diễn ra trước
khi nguyên liệu được đưa vào nghiền. Quá trình thẩm thấu có thể diễn ra 1, 2 có khi
tới 3, 4 giai đoạn.
Công nghệ APMP lần đầu tiên được trình bầy tại hội nghị bột cơ học quốc tế
n
ăm 1989 bởi hãng Andritz và nhà máy vận hành thành công đầu tiên công nghệ
này là Malette, Quebec – Canada và nhà máy Yalujiang Paper Dandong, Trung
Quốc. Các thông số vận hành cho thấy công nghệ này cho chất lượng bột tốt hơn
bột BCTMP và giảm khá nhiều chi phí năng lượng. Bảng 1.7 so sánh một số thông
số kỹ thuật giữa 2 công nghệ BCTMP và APMP với nguyên liệu là gỗ thông
Ngày nay, phần lớn các dây chuyền mới xây dựng đều sử dụng công nghệ
APMP và công nghệ cải tiến từ APMP như: P – RC – APMP (Preconditioning
Refiner chemical treatment alkaline peroxide mechanical pulp).
Công nghệ P – RC – APMP hiện nay là công nghệ tốt nhất được ứng dụng cho
các nhà máy sản xuất bột cơ học trên thế giới như: ở Trung Quốc (Yue Yang Pulp
12
Paper Co.Ltd; Gaotang Paper Group (Shandong); QiQiHar Paper mill (Jilin);
Baoshan Paper Mill (Yunnan); Yalujiang Paper Mill (Dandong); Yibin Paper Mill
(Sichuan); Yincheng Paper Mill (Liaoning) ), ở Iran (Maragheh Pulp & Paper Ind.
Co., (Tehran); Gharb Paper Ind Co., (Tehran)), ở Canada (Millar Western (Meadow
Lake); Malette paper Mill (St. Raymond); Millar Western (Whitecounrt)); ở Costa
Rica (Scott Paper), ở Mỹ (Appleton Paper (Combined Locks) phần lớn công nghệ
và thiết bị các dây chuyền đều do công ty Andritz Inc. cung cấp.
Bảng 1.7: So sánh một số thông số kỹ thuật giữa công nghệ APMP và BCTMP
*
Các thông số kỹ thuật BCTMP APMP
nghiền (RC) nên đã tăng cường quá trình phối trộn ở nồng độ cao và nhiệt độ cao
tạo điều kiện cho phản ứng tẩy trắng xẩy ra triệt trong thời gian rất ngắn nên công
nghệ này cho bột có độ trắng rất cao. Tùy theo yêu cầu mà bột có thể đượ
c bổ sung
thêm 1 – 2 giai đoạn tẩy trắng, độ trắng của bột thu được có thể đạt tới 89%ISO,
tính chất cơ lý của bột hơn hoặc tương đương với bột sản xuất bằng công nghệ
APMP, BCTMP song tiết kiệm năng lượng nghiền, lượng COD, BOD trong nước
thải thấp và nước thải rễ xử lý hơn.
13
Bản chất của quá trình tẩy trắng bột cơ học là song song với quá trình loại bỏ
một phần lignin thì chủ yếu là quá trình làm mất màu các nhóm mang màu có trong
lignin và các hợp chất có nguồn gốc từ lignin sinh ra trong quá trình sản xuất bột.
Đại phân tử lignin không mang màu song thành phần của nó có các tập hợp liên kết
chưa bão hoà, mang màu như: nhóm cacbonyl, nhóm etylenic, các vòng aromatic
[5], khi có mặt của các nhóm trợ màu thì cường độ màu sắc của chúng tăng lên khá
nhiều.
Đối với bột cơ họ
c, quá trình tẩy trắng chủ yếu được áp dụng theo hai
phương pháp: phương pháp khử hoặc phương pháp oxy hoá. Hai phương pháp này
có thể sử dụng kết hợp với nhau. Tác nhân tẩy trắng mang tính khử thường sử dụng
là: bisunphit, đithionit, bohyđro song chất hay được sử dụng nhất là natri
hyđrosunphit (Na
2
S
2
O
4
) với mức dùng 0,5 – 1% tại nồng độ 5 – 10%, nhiệt độ 60
0
-
+ H
2
O (I.2)
Theo Martin trong môi trường pH nhỏ hay nồng độ ion OH
-
thấp, không đủ
cho phản ứng tạo ion OOH
-
nên hiệu quả tẩy rất thấp (tại pH 10,5 chỉ có dưới 10%
H
2
O
2
tạo thành OOH
-
trong khi tại pH là 12,5 thì lượng này là 95%). Tuy nhiên nếu
pH của môi trường tẩy quá cao sẽ phá huỷ ngay các ion OOH
-
ngay sau khi tạo
thành, mặt khác trong môi trường kiềm mạnh còn thúc đẩy phản ứng hoá học giữa
kiềm và lignin làm độ trắng của bột giảm, đặc biệt khi tiến hành tẩy trắng ở nhiệt độ
cao. Như vậy việc khống chế pH là rất quan trọng trong quá trình tẩy trắng bột cơ
14
học bằng peroxyt. Thông thường pH thường được giữ trong khoảng 10,5 – 12,5
trong suốt quá trình tẩy.
Natri hydroxyt là nguồn cung cấp kiềm chính trong công nghệ tẩy H
2
-
.SiO
3
không bền trong nước có tác dụng oxxy hoá mạnh hơn nhiều so với
peroxyt. Bên cạnh việc sử dụng hỗn hợp Na
2
SiO
3
và MgSO
4
thêm vào trong dịch
tẩy để hạn chế tới mức tối đa ảnh hưởng của các kim loại chuyển tiết người ta còn
bổ xung thêm một giai đoạn xử lý bột (giai đoạn Q) trước khi tẩy bằng một số hợp
chất như: EDTA, DTPA, HEDTA, DTPMA Giai đoạn chelat hoá thường được
tiến hành ở nồng độ tương đối thấp do khả năng tạo ph
ức tại nồng độ thấp tốt hơn,
nồng độ thường dùng là 5% . Nhiệt độ tiến hành khoảng 60
0
C. Giai đoạn Q này có
thể kết hợp cùng với giai đoạn peroxyt (P).
Đối với quá trình tẩy trắng bột cơ học bằng H
2
O
2
nồng độ bột tẩy có ảnh
hưởng khá nhiều tới độ trắng của bột sau tẩy do bản chất của quá trình tẩy bột cơ là
tẩy trắng bề mặt nên tại nồng độ cao thì nồng độ hoá chất tẩy trên bề mặt xơ sợi
tăng lên, tăng hiệu quả của quá trình tẩy. Xu hướng các hệ thống tẩy hiện đại ngày
nay kể cả b
ột hoá lẫn bột cơ đều sử dụng các thiết bị tẩy có nồng độ trung bình hoặc
2,6
-
5,3
4,5
-
6,7
5,9
-
4,4
4,2
-
7,6
7,2
-
3,0
3,0
1,2
6,0
4,0
1,2
2. Tính chất giấy
+ Độ nghiền CSF,ml
+ Chỉ số bục, kPa.m
2
254
0,59
16,1
82,7
84,8
55,3
311
1,22
29,9
85,5
80,0
44,7
252
0,54
15,1
76,7
85,7
55,6
239
1,18
26,8
84,3
81,3
47,9
Ghi chú:
*
Thời gian xông hơi đảm bảo cho lượng không khí thoát hết ra khỏi các mao
mạch của dăm mảnh khoảng 15 –20 phút.
Tiếp đó mảnh nguyên liệu được chuyển dần tới máy rửa mảnh bằng hệ thống
vít tải. Quá trình rửa nhằm tách bỏ cát sạn bám trên mảnh. Cát sạn từ hệ thống rửa
sẽ được lọc tách ra ngoài, nước sạch được tuần hoàn lại hệ thống rửa. Nguyên liệ
u
sau rửa được vắt ép tách nước và qua hệ thống vít tải tới phễu nạp liệu vào bình gia
nhiệt. Tại đây mảnh nguyên liệu được xông hơi trực tiếp trong một thời gian nhất
định trước khi được vít nạp đặc biệt nạp vào thiết bị thẩm thấu hoá chất
* Thẩm thấu hoá chất
Thiết bị thẩm thấu hoá chất có dạng trụ đặt thẳng đứng ho
ặc nghiêng với vít tải
kép, nguyên liệu đi ngược từ dưới lên, dịch thẩm thầu gồm hỗn hợp NaOH, DTPA,
H
2
O
2
, MgSO
4
, silicat natri với tỷ lệ, nồng độ nhất định được bơm vào liên tục, mức
dịch trong thiết bị được khống chế tuỳ thuộc vào quy trình công nghệ.
Dưới tác dụng của hoá chất các hợp chất trích ly, hợp chất có phân tử lượng
thấp và một phần lignin sẽ bị hoà tan, song tác dụng quan trọng nhất là làm cho các
thớ gỗ bị trương nở mạnh và trở nên mềm hơn. Quá trình nghiền s
ẽ dễ ràng hơn và
xơ sợi ít bị vụn gẫy hơn. Song song với quá trình trên là quá trình tẩy trắng dăm
mảnh của H
2
O
2
phản ứng tẩy trắng tại nồng độ và nhiệt cao trong thời gian rất ngắn.
* Sàng chọn và làm sạch
Bột từ bể chứa tiếp tục được pha loãng trước khi được bơm tới sàng áp lực .Các
mảnh nguyên liệu còn sót lại và búi xơ sợi được tách ra, qua hệ thống sàng cong, cô
đặc và được nạp trở lại vào giai đoạn nghiền thứ 2. Bột tốt sau sàng được đưa tới hệ
thống lọc cát nồng độ thấp 2 hoặc 3 cấp nhằm loại bỏ cát sạn. Bột sau khi đã được
làm sạch được đưa vào máy cô đặc, bột được chứa trong các tháp chứa trước khi
chuyển tới hệ
thống chuẩn bị bột của máy xeo hoặc tới hệ thống tẩy trắng bột (đối
với bột yêu cầu độ trắng cao sẽ được tẩy trắng 1 – 2 giai đoạn)
*Tẩy trắng bột
Tuỳ từng loại nguyên liệu cũng như yêu cầu chất lượng bột cho các mục đích sử
dụng nhất định mà bột APMP, P-RC-APMP sẽ được tẩy trắng thêm v
ới mức dùng
hoá chất nhất định.
Bột từ bể chứa sau thiết bị cô đặc được chuyển tới thiết bị trộn hoá chất và gia
nhiệt tới nhiệt độ nhất định theo yêu cầu kỹ thuật trước khi chuyển vào tháp tẩy.
Tuỳ công nghệ mà quá trình tẩy có thể được tiến hành tẩy một giai đoạn hoặc 2 giai
đoạn với các loại hoá chất tẩy khác nhau như
H
2
O
2
hoặc đithionit. Bột sau tẩy ở giai
đoạn cuối cùng được rửa sạch và trung hoà bằng khí SO
2
hoặc axit sunphuric trước
khi tới bể chứa.
p
erox
y
t D
ị
ch kiềm –
p
erox
y
t
N
g
hiền sơ cấ
p
N
g
hiền thứ cấ
p
Dăm mảnh
Thá
p
thẩm thấu
19
đưa vào sử dụng như: gỗ cây Dương (loài Populus tremuloides ở vùng Bắc Mỹ; loài
Populus tremula ở Châu Âu); một số dòng bạch đàn Urophylla ở Nam Mỹ, Trung
Quốc chất lượng bột khá tốt không thua kém nhiều so với bột làm từ gỗ mềm, độ
trắng của bột có thể đạt tới trên 80%ISO tuỳ thuộc vào công nghệ. Các cải tiến mới
đây trong quá trình thẩm thấu, nghiền và tẩy trắng đố
yêu cầu của sản xuất giấy in, giấy viết theo TCVN. Năm 2007 - 2009 trong chương
trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KC.06.08/06-10 :“ Nghiên cứu, phát triển
và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu chủ lực ’’,
Viện CN Giấy và Xenluylô được giao thực hiện đề tài: Nghiên cứu công nghệ và
dây chuyền thiết bị sản xuất bột giấy hiệu suất cao từ nguồn nguyên liệu trong nước
đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, trong đó có phần nghiên cứu bột tẩy trắng theo công nghệ
APMP. Kết quả sơ bộ cho thấy, bột APMP từ keo tai tượng, bạch đàn Urophylla và